TỪ HẢI : ANH HÙNG CÁI THẾ

Loading

THẾ ĐỨNG SỐNG – THẾ ĐỨNG CHẾT
Nhắc đến Từ Hải người ta thường nhớ đến mấy câu Kiều
“Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.”
Nghe câu này có thể hình dung ra một người đàn ông đang đứng oai phong, trong thế tĩnh.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Trong câu này, Từ Hải cũng ở thế đứng đầu đội trời chân đạp đất của một người anh hùng.
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Câu này mô tả thế động, nhưng cũng là thế đứng của một người anh hùng.
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
Thế chết đứng của Từ Hải là một thế mà Từ Hải lựa chọn bằng cả thân thể và ý chỉ của mình.
TỪ HẢI KÉO KIỀU RA KHỎI CÁI LỒNG LẦU XANH
Kiều gặp Từ Hải lần đầu tiên khi đang ở trong lầu xanh, nơi mà chỉ nhìn vào hình thức bên ngoài thì thơ mộng không khác gì lầu uống trà vọng nguyệt ở nhà quan phủ
Lần thâu gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
Miêu tả về Từ Hải vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan qua ánh mắt và cảm nhận của Kiều.
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Cảm nhận đầu tiên về Từ Hải là một anh hào, nhưng ngay sau đó hiện lên một anh hùng côn quyền, thao lược, đầu đội trời, chân đạp đất.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Quảng Đông là nơi có sông Việt nên gọi là Việt Đông. Sông Việt là sông Châu Giang, con sông lớn thứ ba của Trung Quốc sau Hoàng Hà và Dương Tử.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Cả vùng đồng bằng châu thổ sông Châu Giang bao gồm Quảng Đông là đất Việt cổ. Vùng đất của sông hồ này có truyền thống “giang hồ”, triều đại nào cũng có người không khuất phục quyền lực tập trung phía Bắc, không ngại làm giặc tự xưng hùng xưng bá một phương, mà Từ Hải là một ví dụ.
Từ Hải vừa là anh hào vừa là anh hùng, mà anh hào trọng văn còn anh hùng trọng võ, kết hợp lại thành “gươm đàn nửa gánh”. Là cá biển, chim trời, Từ Hải tự gánh vác cuộc đời mình, tự chèo lái non sông của mình, trực tiếp đội trời đạp đất, không kết nối với trời thông qua một ông thiên tử nào đó, không ở trên với đất như dân của một ông vua nào đó. “Non sông một chèo” nghĩa là như vậy.
Có người bào “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” là lấy từ thơ Hoàng Sào. Tôi thấy làm thi nhân cũng khổ ghê, thấy ai viết câu gì hay cũng phải bắt chước cho bằng được, rồi lại phải sửa thơ người ta be bét để cho vần với thơ của mình, sao không tự sáng tác cho đỡ mệt. Tôi thấy làm độc giả cũng khổ ghê, đang đọc thơ của ông thi nhân này viết, thì lại lôi thơ của ông thi nhân khác ra chèn vào, sao không làm một việc thôi, vừa có sự thanh nhàn cho mình, vừa có sự tôn trọng cho người khác. Tôi thấy làm giang hồ là khổ nhất, muốn vùng vẫy mà phải dựa lời dựa ý người khác thế để biểu đạt chính mình, thì có khác gì sống đời thằng lính phải xu nịnh thằng quan đâu, còn gọi gì là giang hồ, còn gọi gì là đầu đội trời đạp đất nữa. Cho nên, tôi thấy cứ nên đọc thơ chân chất, có gì đọc nấy, sức mình hiểu đến đâu chấp nhận đến đấy.
Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Từ Hải đúng là con người của hành động, nghe tiếng nàng Kiều, bèn đến lầu xanh tìm gặp
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió, vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?”
Từ Hải đặt vấn đề muốn Kiều rời lầu xanh cùng mình, khuyên Kiều không nên ở mãi cái cảnh cá chậu chim lồng này.
Nàng rằng: “Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá, thử vàng,
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước, ra sau,
Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?”
Từ rằng: “Lời nói hữu tình!
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?”
Thưa rằng: “Lượng cả bao dung,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau.”
Sau khi đối đáp qua lại với Kiều rất ăn ý, Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh.
Nghe lời vừa ý, gật đầu,
Cười rằng: “Tri kỷ trước sau mấy người?
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng, đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung, nghìn tứ, cũng là có nhau!”
Hai bên ý hợp tâm đầu,
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân!
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
THẾ “TRỜI ĐẤT KHÔNG ĐÂU LÀ NHÀ” CỦA TỪ HẢI
Đưa Kiều về nhà mình, Từ Hải sửa sang buồng phòng, đặt giường quý, làm màn tiên, sống đời vợ chồng ân ái.
Buồng riêng, sửa chốn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo, xây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Được nửa năm, Từ Hải lại muốn quay lại cuộc sống “thanh gươm yên ngựa” trước kia của mình
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng giong.
Kiều muốn đi theo Từ Hải
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi.”
Từ Hải nói với Kiểu rằng cuộc sống của mình bốn bể không nhà, mang Kiều theo chỉ thêm vướng bận., khuyên Kiều ở nhà đợi khoảng một năm rồi dứt khoát dứt áo ra đi.
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường;
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đón ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau, vội gì?”
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi
Từ Hải đi rồi, chỉ còn một mình Kiều, nàng buồn không muốn chăm lo nhà cửa.
Nàng thì chiếc bóng song mai,
Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây.
Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,
Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân.
Kiều nhớ quê hương, xót xa cho cha mẹ già, từ lúc Kiều bước chân ra khỏi nhà là mười mấy năm trời, không biết nay ra sao.
Đoái thương muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
Xót thay huyên cỗi, xuân già,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
Chốc là mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi, tóc sương.
Lại nghĩ đến việc trước kia trao duyên cho em gái, có thể em đã có con cái bế bồng.
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.
Duyên em dầu nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng, tay mang.
Kiều ở địa vị của một người tha hương nhớ về cố quốc, lại nghĩ đến Từ Hải vẫn còn ở nơi xa còn chưa về.
Tấc lòng cố quốc, tha hương,
Đường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt, phương trời đăm đăm.
Rồi có tin chiến sự đến gần, Kiều được những người xung quanh khuyên tạm lánh đi một nơi, nhưng nàng không đồng ý, vì muốn ở lại đợi Từ Hải như hẹn ước trước đó với chàng.
Đêm ngày luống những âm thầm,
Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương.
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
Người quen thuộc, kẻ chung quanh,
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
Nàng rằng: “Trước đã hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm, dám rời uớc xưa!”
Khi binh lính kéo đến quanh nhà, Kiều mới biết là quân của Từ Hải.
Còn đang dùng dắng, ngẩn ngơ,
Mái ngoài đã thấy bóng cờ, tiếng la.
Giáp binh kéo đến quanh nhà,
Đồng thanh cùng gởi: “Nào là phu nhân?”
Hai bên mười vị tướng quân,
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.
Cung nga, thế nữ nối sau,
Rằng: “Vâng lệnh chỉ, rước chầu vu quy.”
Sẵn sàng phượng liễn, loan nghi,
Hoa quan giấp giới, hà y rỡ ràng.
Dựng cờ, nổi trống, lên đàng,
Trúc tơ nối trước, đào vàng kéo sau.
Hoả bài tiền lộ ruổi mau,
Nam đình, nghe động trống chầu đại doanh.
Kéo cờ luỹ, phát súng thành,
Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài.
Lữa mình là vẻ cân đai,
Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa.
Cười rằng: “Cá nước duyên ưa,
Nhớ lời nói những bao giờ hay không?
Anh hùng mới biết anh hùng,
Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?”
Nàng rằng: “Chút phận ngây thơ,
Cũng may dây cát được nhờ bóng cây.
Đến bây giờ mới thấy đây,
Mà lòng đã chắc những ngày một hai.”
Từ Hải xuất hiện nhắc lại lời nói trước khi đi, bảo rằng Kiều hãy đợi đến khi Từ Hải sẽ chiến thắng trở về.
Cùng nhau trông mặt cả cười,
Dan tay về chốn trướng mai tự tình.
Tiệc bày thưởng tướng, khao binh,
Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân.
Vinh hoa bõ lúc phong trần,
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.
Đây là giai đoạn thành công nhất của Từ Hải mà cũng yên ổn nhất của Kiều trong Đoạn trường, vì hai vợ chồng được ở bên nhau mà Từ Hải cũng đã lẫy lững hùng cứ một phương.
THẾ “TÔI LÀ AI” & “TÔI Ở ĐÂU” CỦA TỪ HẢI
Trong quân có lúc vui vầy,
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
“Khi Vô Tích, khi Lâm Chuy,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân oán, đôi đường chưa xong.”
Kiều kể cho Từ Hải về hành trình và ân oán trong hơn 10 năm lưu lạc của mình. Từ Hải bèn sai người đi bắt tất cả những người oán với Kiều và cho mời những người có ân với Kiều về để trả ân báo oán.
Giác Duyên là một trong những người có ân với Kiều và được Từ Hải mời đến trong việc báo oán trả ân này. Giác Duyên nói với Kiều rằng trước đó đã nhận được tiên tri từ Tam Hợp Đạo Cô về việc Giác Duyên sẽ gặp Kiều năm nay, chính là lần gặp gỡ này, và một lần tiếp theo vào năm năm nữa.
Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác Duyên vội đã gửi lời từ quy.
Nàng rằng: “Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàng hoàng.
Rồi đây bèo hợp, mây tan,
Biết đâu hạc nội, mây ngàn là đâu!”
Sư rằng: “Cũng chẳng mấy lâu,
Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
Nhớ ngày hành cước phương xa,
Gặp sư Tam Hợp, vốn là tiên tri.
Bảo cho hội hợp chi kỳ:
Năm nay là một, nữa thì năm năm.
Mới hay tiền định chẳng lầm,
Đã tin điều trước, ắt nhằm điều sau.
Còn nhiều ân ái với nhau,
Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì?”
Lúc này, Kiều biết là Đoạn Trường của mình còn chưa xong, bởi vì Kiều vẫn còn lời hẹn với Đạm Tiên ở sông Tiền Đường, nên đã nhờ Giác Duyên nếu có gặp Tam Hợp Đạo Cô thì xem cho Kiều. Giác Duyên đồng ý, rồi rời đi.
Nàng rằng: “Tiền định tiên tri,
Lời sư đã dạy, ắt thì chẳng sai.
Hoạ bao giờ có gặp người,
Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân.”
Giác Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ từ, thoắt đã dời chân cõi ngoài
Xong việc báo oán trả ân, Kiều quay sang cảm tạ và xin ghi lòng tạc dạ ơn này của Từ Hải.
Nàng từ ân oán rạch ròi,
Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
Tạ ân, lạy trước Từ công:
“Chút thân bồ liễu mà mong có rày.
Trộm nhờ sấm sét ra tay,
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi.
Chạm xương, chép dạ xiết chi,
Dễ đem gan óc đền nghì trời mây!”
Từ Hải nói rằng việc của Kiều cũng là việc của mình, vì hai người đã là người một nhà.
Từ rằng: “Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!
Huống chi việc cũng việc nhà,
Lọ là thâm tạ, mới là tri ân!
Từ Hải đã đưa ra một ước muốn của mình, mà cũng là giúp cho Kiều là thống nhất đất nước, để Kiều ở đất Việt (ý nói là ở phương Nam, nơi Từ Hải làm vua), còn cha mẹ ở đất Tần (ý nói là ở phương Bắc, dưới quyền triều đình) có thể gặp được nhau.
Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa.
Sao cho muôn dặm một nhà,
Cho người thấy mặt, là ta cam lòng.”
Vội truyền sửa tiệc quân trung,
Muôn binh, nghìn tướng hội đồng tẩy oan.
Qua đoạn này, có thể thấy Từ Hải coi mình là người Việt, Kiều đã lấy Từ Hải và sống ở đất phương nam với Từ Hải thì Kiều cũng là người Việt. Điều này cho thấy nhiều người dân miền nam Trung Quốc như Từ Hải không coi mình là một với người Hán ở miền bắc Trung Quốc, họ cũng không coi quê hương miền nam của họ là một với miền Bắc, nơi có kinh đô của nhà Minh, cho nên họ coi việc họ đứng lên xưng hùng xưng bá không thuần phục nhà Minh là rất tự nhiên.
Việc Kiều cần phải chết ở sông Tiền Đường, khi kết thúc Đoạn trường như định mệnh đã được báo trước bởi Đạm Tiên, càng cho thấy Kiều bản chất là người nam, người Việt, bởi vì truyền thống của người Việt là khi mất bao giờ cũng phải quay lại quê cha đất tổ. Một người mang dòng máu Việt, như Kiều dù sống ở đâu vẫn là người Việt. Những vùng đất gốc của người Việt, cho dù đã bị đồng hoá vào đất nước phương Bắc vẫn luôn là đất của người Việt.
THẾ “BỂ SỞ SÔNG NGÔ TUNG HOÀNH” CỦA TỪ HẢI
Thừa cơ trúc chẻ, ngói tan,
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.
Đòi cơn gió quét, mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam.
Phong trần, mài một lưỡi gươm,
Những loài giá áo, túi cơm sá gì!
Nghênh ngang một cõi biên thuỳ,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương.
Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Từ Hải đã chiếm được năm huyện thành phía nam, gây dựng được triều đỉnh riêng đủ cả văn và võ, hoàn toàn tách rời khỏi triều đình nhà Minh ở phương Bắc. Đây cũng có thể là cái thế “bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” nói ở phần đầu của truyện Kiều.
Thấm thoắt triều đình của Từ Hải đã tồn tại được năm năm, cũng năm nay kể từ sự kiện Kiều trả ân báo oán. Đây chính là thời hạn mà Giác Duyên đã báo với Kiều rằng hai người sẽ gặp lại, theo tiên tri của Tam Hợp Đạo Cô.
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài.
Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung.
Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân, làm chước chiêu an,
Ngọc vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng:
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.
Ở cuối đại vận năm năm này, xuất hiện Hồ Tôn Hiến, là quan của triều đình nhà Minh, được lệnh triều dình xuống miền Nam dẹp giặc. Biết không thể dùng quân đội để đánh Từ Hải, nên Hồ Tôn Hiến lập mưu chiêu an, dụ Từ Hàng ra hàng triều đình, với bộc lộc vàng bạc.
Tin vào gửi trước trung quân,
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thuỳ,
Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Nhận tin chiêu hàng này, Từ Hải không đồng ý, cho rằng mình một tay xây dựng cơ đồ, ở nơi bể Sở sông Ngô, vốn đất từ thời Chu đã luôn giữ một vị thế độc lập với phương Bắc. Nay chấp nhận làm hàng quan của triều đình nhà Minh, đặt số phận của mình vào tay người khác không biết số phận mình ra sao. Từ Hải cũng không thích làm quan triều đình phải luồn cúi, không tự do bằng việc lập triều đinh riêng ở vùng biên thuỳ này. Từ Hải cho rằng với thực lực hiện, triều đình chưa dễ mà làm được gì được mình.
THẾ CÔNG CHUYỂN SANG THẾ HÀNG & MẮC MƯU
Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước, cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì.
Công, tư, vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng vỗ, hãi hùng nước sa
Xuất phát là người Bắc Kinh, mang nặng tư tưởng trung quân của Nho giáo, Kiều vẫn cho rằng ra hàng là một giải pháp “trên vì nước, dưới vì nhà”. Nghĩa là Kiều cho rằng lợi ích của dân và của vua quan triều đình là hoà hợp, vị thế của miền bắc và miền nam cơ bản là một, vẫn là dưới vua.
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ, nàng mới bàn ra, nói vào.
Rằng : trong Thánh Trạch dồi dào
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Sao bằng lộc trọng, quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”
Có thể thấy rõ ràng thế mà Từ Hải, một người đàn ông gốc nam tự tay gây dựng cơ đồ, lựa chọn khác hẳn cái thế mà Kiều, một người đàn bà phương bắc sau 10 năm lăn lộn ở lầu xanh mới nương tựa được vào một người đàn ông phương nam, lựa chọn.
Dù trải qua hơn 10 năm lưu lạc ở lầu xanh vì án oan của quan triều đình, và trải qua 5 năm cùng Từ Hải, nhưng Kiều vẫn cho rằng có thể đem số phận của mình đặt vào tay tầng lớp quan lại. Cũng có thể bản chất là nữ, Kiều thích nương tựa vào những thể chế chính thống, mà số đông cho là an toàn, sợ lại phải trải qua những chuyện can qua trong tương lai.
Dù vì lý do gì, thì Hồ Tôn Hiến đã nắm được điểm yếu này và sự không thống nhất giữa Kiều và Từ Hải để xoáy vào.
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công, Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh.
Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ tập công.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
Từ Hải cuối cùng đã nghe lời Kiều, từ thế công trở ra thế hàng. Nhận thấy thời cơ đến, Hồ Tôn Hiến trở mặt tấn công.
TỪ HẢI CHẾT TRONG THẾ ĐỨNG, CHẾT TRONG THẾ CÔNG
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh, liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
Cái chết của Từ Hải là một những cảnh oai hùng và bi thương nhất trong truyện Kiều. Từ Hải chết đứng, không phải vì bất ngờ, không phải vì không chấp nhận nổi sự thật bị phản bội. Khi Từ Hải chuyển từ thế công sang thế hàng, không phải vì yếu thế, không phải vì Hồ Tôn Hiến, mà chủ yếu là vì Kiều, cho nên khi nhận ra mình đã mắc mưu, Từ Hải đã chuyển lại về thế công, Từ Hải lựa chọn chết đứng trong thế công này. Ý chí của Từ Hải không thể bị khuất phục bởi Hồ Tôn Hiến.
KIỀU TỰ BƯỚC RA KHỎI CÁI LỒNG CỦA MÌNH SAI CÁI CHẾT CỦA TỪ HẢI
Quan quân truy sát đuổi dài,
Hằm hằm sát khí, ngất trời ai đang.
Trong hào, ngoài luỹ, tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: “Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp, đến cơ sự này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống chết một ngày với nhau!”
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền!
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.
Kiều chạy đến giữa chiến trường để tìm Từ Hải, chỉ thấy Từ Hải còn đứng giữa trời trơ trơ. Kiều khóc vì Từ Hải đã chết do nghe lời mình và liều chết muốn ở lại bên Từ Hải, thì xác chết đứng Từ Hải như có cảm ứng liền ngã ra. Từ Hải chết đứng trước quân thù nhưng chết nằm xuống bên cạnh Kiều. Có thể Từ Hải muốn Kiều biết là Từ Hải hiểu được tấm lòng của Kiều. Có thể Từ Hải cũng lựa chọn mình sẽ chết với sự hiện diện của ai, mình chết vì ai, thì đó là Kiều. Có thể vì việc nào cần làm Từ Hải đã làm rồi, nên Từ Hải nằm xuống để thực sự kết thúc cuộc đời mình ở đây bên cạnh Kiều.
Dù sống hay chết, Từ Hải vẫn luôn tự quyết định cái thế mà mình sẽ ở trong đó. Đó là bản chất của một người anh hùng. Điều này rất khác với Kiều, luôn ở trong cái thế mà người khác đã lựa chọn cho mình, cái thế mà người khác đã đẩy mình vào đó. Không phải vì Kiều không đủ anh hùng, mà vì Kiều là nữ.
Lại nhớ câu mà Từ Hải đã nói với Kiều trong lần đầu gặp mặt “Một đời được mấy anh hùng, Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?””, suy cho cùng bản tính của Kiều là chỉ muốn yên ổn ở trong cái lồng mà người khác đưa mình vào, thì dù có được Từ Hải đưa ra khỏi lồng này, thì Kiều cũng sẽ tự chui đầu vào một cái lồng khác, mà chính là cái bẫy cuả Hồ Tôn Hiến. Chừng nào Kiều vẫn còn là con chim trong cái lồng về tinh thần, Kiều còn tự biến mình con mồi cho người, Kiều còn tự chui đầu vào cái bẫy của những kẻ khác.
Có một sự khác biệt mang tính bản chất giữa nam và nữ, và Kiều rất khó mà vượt được bản chất tính nữ là luôn “cần ai đó để nương tựa vào” của mình.
Từ Hải đã chết vì Kiều và cái chết của Từ Hải đã không vô ích, vì giây phút Kiều dứt khoát gieo mình xuống sông Tiền Đường mà Hồ Tôn Hiến không thể vớt Kiều lên được, thì Kiều đã tự giải thoát mình ra khỏi cái tư tưởng gốc “con chim trong lồng”, “con mồi trong bẫy” của mình.
Chia sẻ:
Scroll to Top