![]()
TỨ TƯỢNG KHÔNG THỜI GIAN
Tứ tượng là đặc trưng không thời gian mà xảy ra câu truyện Kiều. Tứ tượng được mô tả bằng 2 câu thơ
Rằng: Năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
TỨ TƯỢNG NỮ CỦA KIỀU
Tứ tượng của Kiều, mà ứng với bào thai là
– Thuý Kiều : ối trước Đoạnh Trường, là ối bào sau khi Kiều hoạ 10 bài thơ của Hội Chủ
– Thuý Vân : thân
– Đạm Tiên : nhau
– Giác Duyên : rốn
Trong phần đầu của truyện Kiều, bộ đôi Thuý Kiều và Thuý Vân được giới thiệu như sau
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Riêng về Thuý Vân
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn lưng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Riêng về Thuý Kiều
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước, nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm.
Cung, thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.
Về độ tuổi của hai chị em Thuý Vân Thuý Kiều đang trong giai đoạn Quan đới của Vòng đời
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Cuộc đời Đạm Tiên lúc sống được kể qua lời Viên Quan, la ca nhi chả may mất sớm
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình vừa ghé đến nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử, xe châu,
Vùi nông một nấm, mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà,
Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!”
Đạm Tiên lúc mất đang ở giai đoạn Mộ của cuộc đời, sau Tử và chưa đến Tuyệt
Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa ngồi bên triện, một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng, như gần như xa.
Rước mừng, đón hỏi dò la:
“Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây?“
Thưa rằng: “Thanh khí, xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu, gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa.
Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nấc nở khen thầm:
“Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường!
Ví đem vào tập đoạn trường,
Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai!”
Giác Duyên là vị sư ở am Chiêu Ẩn, nơi Kiều tìm đến trú chân sau khi trốn khỏi nhà Hoạn Thư
Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành “Chiêu Ẩn am” ba chữ bài.
Xăm xăm gõ mé cửa ngoài,
Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
“Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu.
Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.”
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng, khánh bạc bên mình giở ra.
Xem qua, sư mới dạy qua:
“Phải nơi Hằng Thuỷ là ta hậu tình.
Chỉn e đường sá một mình,
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.”
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya lá bối phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Truyện Kiều không nói tuổi của Giác Duyên nhưng với vị trí sư trưởng và quan hệ với Kiều, Giác Duyên có khả năng hơn tuổi Kiều
TỨ TƯỢNG NAM CỦA KIM TRỌNG
Tứ tượng nam của Kim Trọng, đối xứng với tứ tượng nữ của Kiều
– Kim Trọng : rốn, đầu tiên không thực sự đối xứng hoàn hảo với Kiều, nhưng sau lễ xe tơ kết tóc với Kiều (mà lúc này đã ở trạng thái mới), Kim Trọng cũng về trạng thái gốc hơn đó là rốn bào
– Từ Hải : ối (đối xứng với phần gốc của Kiều)
– Người khách viễn phương : nhau (đối xứng với Đạm Tiên)
– Hồ Tôn Hiến : thân (về kỹ thuật có thể nói Hồ Tôn Hiến là đối xứng đôi của Thuý Vân, nhưng nhóm đi thân có xu hướng coi mình là trung tâm, không chơi đối xứng âm dương dạng song hành, trong khi Thuý Vân đời này không sống kiểu chỉ biết có bản thân)
Đối xứng đôi của Đạm Tiên được mô tả gián tiếp trong lời kể của Viên Quan về cuộc đời của Đạm Tiên, trong đó người này được gọi là người khách ở viễn phương
Kim Trọng được mô tả trong chương Kiều đi chơi Tết Thanh Minh
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh, cành giao.
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Từ Hải được mô tả như anh hùng hảo hán, khác xa với vẻ thư sinh nho nhã của Kim Trọng
Lần thâu gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
Râu hầm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Từ Hải là người nổi dội hùng cứ môt phương, với triều đình là quân giặc nổi loạn
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thuỳ,
Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Hồ Tôn Hiến
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài.
Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung.
KIỀU & BỘ TỨ NAM
Trong Đoạn trường, Kiều lần lượt hoá thân vào cuộc đời của bộ tứ nữ và đối xứng một phần hoặc đối xứng dạng chuyển hoá với từng người nam trong bộ tứ nam, trước khi quay về đối xứng với Kim Trong sau Đoạn trường
Kiều & Kim Trọng
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một trương,
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Kiều & Từ Hải
Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió, vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?”
Nàng rằng: “Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá, thử vàng,
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước, ra sau,
Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?”
Từ rằng: “Lời nói hữu tình!
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?”
Thưa rằng: “Lượng cả bao dung,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau.”
Nghe lời vừa ý, gật đầu,
Cười rằng: “Tri kỷ trước sau mấy người?
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng, đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung, nghìn tứ, cũng là có nhau!”
Hai bên ý hợp tâm đầu,
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân!
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồng riêng, sửa chốn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo, xây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Kiều và Hồ Tôn Hiến
Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân, làm chước chiêu an,
Ngọc vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng:
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.
