LỜI THỀ THUẬN MỆNH Ở PHẦN KẾT CỦA TRUYỆN KIỀU

Loading

LỜI THỀ THUẬN THÂN MỆNH
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.
Cả bốn câu nói về chữ Thuận, là thuận Thân và thuận Mệnh theo Trời, hay là Thuận Thiên.
Thuận Thiên là một tinh thần căn bản của đạo Nho.
– Hai cầu đầu nói về Thuận Thiên theo khía cạnh Thân : “Ngẫm hay muôn sự tại trời/Trời kia đã bắt làm người có thân”.
– Hai câu sau nói về Thuận Thiên theo khía cạnh Mệnh, mà thường được gọi là Thiên Mệnh : “Bắt phong trần, phải phong trần/Cho thanh cao, mới được phần thanh cao” với phong trần và thanh cao là hai trạng thái đại diện của vận mệnh.
Thuận trong đạo Phật chính là “chấp nhận hiện thực như nó chính là” và buông bỏ sự chống đối lại hiện thực, đặc biệt là các hiện thực căn bản của Thân và Mệnh.
Thuận trong đạo Mẫu, là trạng thái Bao Dung, bao dung với chính mình gồm Thân và Mệnh, bao dung với người khác, bao dung với hiện thực.
Thuận trong đạo Lão chính là Vô vi. Vô vi là trạng thái Hư không (Vô), chứa đựng trong nó tính hữu Thân và hữu Mệnh của từng cá thể (Vi) ở trạng thái gốc là Hỗn mang. Như vậy Vô Vi chính là Hư không và Hỗn mang.
Vô vi đối xứng với trạng thái Khổng của đạo Khổng (cũng là đạo Nho) là một trật tử tổng thể chứa trong nó trật tự của từng cá thể, và từng cá thể sống đúng Thân, đúng Mệnh của mình, để kiến tạo và vận hành một Đại mệnh vũ trụ, chính là Thượng đế. Nghĩa của Khổng là thân Khổng Lồ (Thân Vũ Trụ) – mệnh Không Lộ (Mệnh Thượng đế).
Một số người trong chúng ta có lời thề Thuận Thân Mệnh trong thiết kế đầu thai, vì đây là một trong bài học trọng yếu của luân hồi đầu thai. Những người có tử vi Thân Mệnh đồng cung là người có lời thề Thuận Thân Mệnh ở trạng thái cao nhất và xuyên suốt nhất. Những người Thân Mệnh khác cung vẫn có thể mở lời thề Thuận Thân Mệnh này, nghĩa là đưa thiết kế cuộc đời vào một cam kết cao hơn. Một số người có Thân Mệnh đồng cung, nhưng trong cuộc đời lại vận hành Mệnh ở trạng thái đồng Thân, chứ không vận hành Thân ở trạng thái đồng Mệnh, và Thân có rất nhiều vấn đề, kéo Mệnh vào con đường nghịch Thiên thì bài học này còn nặng hơn cả người không có Thân Mệnh đồng cung.
Ngoài Thân và Mệnh, lời thề này liên quan sâu sắc đến các cung Phụ Mẫu (song thân của chúng ta), Phúc Đức (gia tiên và dòng họ sinh dưỡng dòng máu của chúng ta) và Nô Bộc (cung liên quan những người hỗ trợ chúng ta trên con đường tâm linh, các vị thày tâm linh và lời thề phụng sự Thiên Mệnh).
LỜI THỀ THUẬN TÀI MỆNH
Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài, chữ mệnh dồi dào cả hai.
Hai câu này nói về trạng thái Thuận giữa Tài và Mệnh.
“Chữ tài và chữ mệnh dồi dào cả hai” là sự hoà hợp của Tài và Mệnh trong trạng thái đa dạng của mỗi thứ và của cả hai. Tài dồi dào là đa Tài, Mệnh dồi dào là đa Mệnh.
Đa Mệnh liên quan đến đa Thân. Đa Thân Mệnh là trạng thái của Thai, mà có cấu trúc Đa Mang và vận hành Đa Đoan. Những ai có Thân Mệnh đồng cung ở Thai sẽ có trạng thái Đa Thân Mệnh này và thông thường sẽ cực kỳ Đa Tài, mà Kiều là một ví dụ.
Bộ Thân Mệnh của Kiều tính từ thai là thân rốn ối nhau bào. Bộ đa mệnh đa thân của Kiều trong Đoạn trường là nhóm Thuý Kiều (ối), Thuý Vân (thân), Đạm Tiên (nhau), Giác Duyên (rốn), Hội Chủ (bào âm), Tam Hợp Đạo Cô (bào hình). Bộ bào của Tam Hợp Đạo Cô là bào hình gồm bao điều, bao rốn hình và bao thai hình của thai và ba lớp vỏ của trứng (gốc là vành tia corona radiata, màng trong suốt zona pellucida và màng sinh chất của trứng) và bộ bào của Hội Chủ là bào âm gồm bao la, bao rốn âm và bao thai âm (gốc là bào âm của trứng).
Lưới xứ sở của Tam Hợp Đạo Cô và Hội Chủ là lưới Vạn Tượng, chứa mã gốc của vạn tượng hình và vạn tượng âm, giúp ai làm chủ được 2 lưới này như Kiều sẽ cực kỳ đa tài, nên họ có bài học và lời thề làm sao dùng tài năng để đi được đúng đường mệnh của mình.
Trạng thái tài và mệnh hoà hợp ở cuối truyện Kiều ngược với trạng thái tài và mệnh đối kháng ở phần mở đầu truyện Kiều “Trăm năm trong cõi người ta/Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Sự thay đổi này chính là kết quả chuyển hoá của Kiều sau Đoạn trường tân thanh : Tài được đưa về Thuận với Mệnh.
Có tài, mà cậy chi tài?
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
“Có tài” là có gì ? Tài chia làm ba loại
– Tài vật, tiền tài : Tài về mặt vật chất, gắn nhiều với Thân
– Tài năng, tài đức : Tài về mặt tinh thần, gắn nhiều với Mệnh
– Tài tình : Tài trong tạo ra tương tác đa đối tượng, ví dụ giữa thân và mệnh, giữa tinh thần và vật chất, liên quan nhiều đến xúc cảm
“Cậy tài” là gì ?
– “Cậy tài” là nhờ cậy vào tài để có được càng nhiều càng tốt tiền tài, tài vật, tài lực … để thoả mãn các nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, yêu đương, thể hiện trong các quan hệ xã hội của Thân.
– “Cậy tài” là coi tài như là cứu cánh cho cuộc đời, dựa vào tài để đạt mục đích cuộc đời và có nhiều tài là thành công cuộc đời.
– “Cậy tài” là cậy rằng mình có tài hơn người, nỗ lực để có tài hơn người, mà không nhận thức được về con đường Mệnh riêng có của mỗi người.
– “Cậy tài” là trông cậy vào người mà mình cho rằng có tài hơn mình, như học hỏi, dựa dẫm, xin xỏ, lừa gạt hoặc cướp đoạt tài của họ để bổ sung tài cho mình.
Có thể nói biên vận hành của Tài chính là Mệnh và trụ vận hành của Tài chính là Thân.
Khi vững trên đường Mệnh, Tài là công cụ của Thân để hoàn thành Mệnh, để đồng với Mệnh.
Khi không có Mệnh, Tài trở thành mục đích tự Thân, Tài bị phung phí hoặc tiết kiệm quá mức hoặc dùng sai mục đích cơ bản của Mệnh. Khi không vững trên đường Mệnh, Tài củng cố cho Thân một Bản ngã tách rời Chân ngã. Khi Tài bộc lộ quá sớm, Bản ngã phát triển quá sớm, một con người không còn muốn tìm kiếm mục đích cuộc đời, không còn nhận thức được ý nghĩa của cuộc đời, Thân đồng hoá Tài với ý nghĩa và mục đích cuộc đời.
Khi Tài chỉ gắn với Thân, mà không được dẫn đường bởi Mệnh, không được bao trùm bởi Mệnh, cái Tài này sớm muộn sẽ đạp lên Mệnh, bất chấp Mệnh, kéo lệch đường Mệnh. Không nhận thức được Mệnh, Tài sẽ đưa cuộc đời đi theo việc thể hiện tài năng/tài vật, tìm kiếm tài năng/tài vật, sớm hay muộn Tài sẽ phá cả Mệnh và Thân. Đây chính là các tai ương của “chữ tài liền với chữ tai một vần”.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân” là gì ? Đầu thai hiện tại là kết quả của nhiều đầu thai trước đó, mà tạo ra các nghiệp tác động đến đầu thai hiện tại, trước hết qua Thân.
Người dựa vào Mệnh thì tự chủ, tự chịu trách nhiêm, tự là chính mình, tự đi trên đường Mệnh của mình. Người dựa vào tài, thành công thì cậy tài kiêu căng coi thường người kém tài mình, thất bại thì tự ti, tìm cách dựa vào người có tài hơn mình. Người cậy tài mà bị gặp tai ương thì đổ lỗi cho số phận, cho ông trời. Với người cậy tài, thiên mệnh thay vì là đường đời của họ lại thành thủ phạm hại cuộc đời họ.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!
Thiện căn là căn nguyên tìm được theo cách thiện, nghĩa là theo đúng cách mà kết quả được tạo ra. Chữ Thiện vẫn là chữ Thuận, đối với chữ Ác là Nghịch.
Tâm về cấu trúc là thứ ở giữa một chu vi, một đường biên, một cấu trúc thành, bao nào đó. Tâm về vận hành là hướng tâm (vạn pháp quy tâm), ly tâm (tâm hướng ra vạn vật), đồng tâm, trọng tâm, quỹ đạo tâm … Tâm nằm trong biên giống như Tài được đặt trong Mệnh, Tài không vượt qua cái biên của Mệnh, Tài dùng để phục vụ cho Mệnh.
Một số người trong chúng ta trước khi đầu thai có lời thề Thuận Tài Mệnh. Đây là bài học rất lớn ở giai đoạn cuối của Công Nguyên, khi mà Tài đạp đổ Mệnh.
Tài đạp Mệnh biểu hiện trong truyện Kiều là sự tràn lan của những thày bà buôn người, coi tài sắc của Kiều chỉ là món hàng để kiếm tiền cho mình. Tài đạp Mệnh biểu hiện trong xã hội bằng cả đám đông ám ảnh về tích luỹ tài vật, tài chính, tài năng, sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để có thêm tài, sẵn sàng hại người để giành tài về cho mình. Thực trạng nhân tâm và xã hội này được mô tả như là “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” ở đầu truyện Kiều.
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
LỜI THỀ MỆNH TRONG THỜI MẠT CỦA CÔNG NGUYÊN
Tại sao hai lời thề này liên quan đến truyện Kiều ? Tại sao hai lời thề này được đưa vào kết thúc truyện Kiều ? Câu chuyện đời Kiều xảy ra vào giai đoạn cuối Công Nguyên và Kiều là người phải trải qua Đoạn trường để thấu hiểu được thực trạng xã hội và thấu hiểu hai lời thế này.
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Con đường Kiều đi mà con đường mà chúng ta cũng cần đi, nên con đường ấy là một dạng đường Đạo, đạo Kiều và truyện Kiều là một dạng kinh, kinh Kiều. Đạo Kiều không phải là một thứ giáo điều, mà là những lời quê của một người đã sống, đã trải nghiệm con đường đó bằng tất cả thân thể và xúc cảm của mình.
Niềm vui của Kiều khi đi qua Đoạn trường được mô tả bằng sự thay đổi tiếng đàn sầu bi bạc mệnh của Kiều đầu câu chuyện sang tiếng đàn vui tươi, đằm thắm ở cuối câu chuyện.
Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”
Nàng rằng: “Vì chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
Một phen tri kỷ cùng nhau,
Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa.
Niềm vui của Kiều là niềm vui của người đã đi qua học bài học này, mà vẫn còn giữ được Thân, được Tài và đặc biệt là giữ được Mệnh của mình.
Câu kết của truyện Kiều như một lời chúc, chúc cho chúng ta tìm được niềm vui ấy như Kiều ở cuối Đoan trường tân thanh của mỗi chúng ta, vì Đoạn trường không phải con đường của riêng Kiều phải đi, mà là con đường mà tất cả chúng ta sớm hay muộn cũng sẽ phải đi ở giai đoạn mạt của Công Nguyên này.
LƯU Ý : Để nhớ lại lời thề này và tự nghiệm về lời thề chúng ta có thể thử vài cách
– Đọc đi đọc lại 6 câu đầu của truyện Kiều và 14 cây thơ cuối của truyện Kiều cho đến khi cảm thấy thực sự ngấm, mạch thơ có thể tự chảy tự vang lên trong lòng mình
– Xem cung Mệnh, cung Thân, cung Tài Bạch, cung Quan Lộc của mình (gọi là Mệnh Thân Quan Tài), rồi tự ngẫm nghĩ những bài học của các cung đó
– Thắp hương khấn thày Khổng Tử (đại diện đạo Khổng), Phật Thích Ca (đại diện đạo Phật), thày Lão Tử (đại diện đạo Lão) và mẹ Quán Âm (đại diện đạo Mẫu mà cũng đại diện cho tam giáo đồng nguyên), xin được hiểu lời thề này.
– Nếu cảm thấy đủ hiểu, đủ vững có thể tự lập lại lời thề Thuận Thân Mệnh và Thuận Tài Mệnh trước ban thờ gia tiên hoặc ở giữa đất trời nơi mình cảm thấy lời thề đó có thể được chứng.
Chia sẻ:
Scroll to Top