VÒNG ĐỜI (CHU KỲ ĐẦU THAI) & TUỔI ĐỜI TÍNH THEO THÂN MỆNH NAM HOẶC NỮ

Loading

BA GIAI ĐOẠN CỦA MỘT ĐẦU THAI
Một vòng đầu thai có 12 giai đoạn chia làm 3 chu kỳ và giữa hai chu kỳ là một chuyển vận (12 = 3×3+3)
Đầu đời (Thai – Dưỡng – Trường Sinh) : Nhập hồn (chủ Mệnh) vào xác (hiện Thân), tính Mộc, cho đến khí đạt ngưỡng Mộc dục
– Chuyển vận nửa đầu đời : Mộc dục, ngưỡng cao nhất của việc hồn nhập xác, cơ thể không còn phát sinh các cơ quan bộ phận mới từ cấp vi mô đến vĩ mô, về mặt hồn cơ thể ngừng lớn, chỉ còn lớn về xác mà thôi
Giữa đời (Quan đới – Lâm quan – Đế Vượng) : Thân Mệnh song hành, đạt thái cực và hợp nhất ở Đế Vượng
– Chuyển vận nửa cuối đời : Suy, bắt đầu phân tách giữa Thân và Mệnh
Cuối đời (Bệnh – Tử – Mộ) : Tách hồn (chủ Mệnh) ra khỏi xác (hiện Thân), tính Kim, cho đến khi đạt ngưỡng Tuyệt
– Chuyển vận từ đời này sang đời khác : Tuyệt
VÒNG ĐỜI CỦA NAM
Vòng đời của Nam tính theo tuổi dương của Thân từ lúc sinh, với mỗi 7 năm thì đổi một chu kỳ Mệnh
– Thai (12 hoặc -1) : 9 tháng 10 ngày (1 tuổi âm hay 1 tuổi mụ)
– Dưỡng (11 hoặc 0) : 0-7 (7×1) tuổi
Sinh là bước chuyển giữa Thai và Dưỡng, tạo nên giai đoạn đầu của Dưỡng là Sơ Sinh
– Trường sinh (1) : 7-14 (7×2) tuổi
Dứt căn là bước chuyển kết thúc Trường sinh, thường tính là 12 tuổi thân chung cho nam và nữ, và 13 tuổi mệnh nam. Đây là khởi đầu cuộc đời của một con người như một chủ thể độc lập, nên vòng Trường sinh cho nam tính từ tuổi Mệnh này.
– Mộc Dục (2) : 14-21 (7×3) tuổi
Dạy thì là khởi đầu của Mộc dục, đối xứng với Dứt căn là bước kết thúc của Trường sinh. Dạy thì thường tính là 14 tuổi nam, vì nam thường được coi là dạy thì muộn hơn nữ, nhưng dứt căn ở nam lại trước nữ, khiến cho có sự đứt đoan rõ ràng giữ Dứt căn và Mộc dục ở nam so với nữ.
– Quan Đới (3) : 21-28 (7×4) tuổi
– Lâm Quan (4) : 28-35 (7×5) tuổi
– Đế Vượng (5) : 35-42 (7×6) tuổi
– Suy (6) : 42-49 (7×7) tuổi
– Bệnh (7) : 49-56 (7×8) tuổi
– Tử (😎 : 56-63 (7×9) tuổi
– Mộ (9) : 63-70 (7×10) tuổi, nếu chưa chết hoặc chuyển hoá trong mộ nếu đã chết, chiêu mộ Rốn, Ối, Nhau, Bào về cùng
– Tuyệt (10) : 70-77 (7×10 + 7×1)tuổi hoặc linh hồn lên bàn thiết kế đầu thai để tổng kết đầu thai cũ, thiết kế đầu thai mới
Đây là cách tính tuổi cho nam (Thân nam Mệnh nam).
Chu kỳ tuổi nam tính theo Thiên can. Thiên mệnh bắt đầu tính từ Trường sinh đến Tuyệt gồm 10 giai đoạn (10 can x 7 năm/chu kỳ = 70 tuổi xưa nay hiếm) nên gọi là vòng Trường sinh. Thai và Dưỡng là hai giai đoạn trước Trường sinh mà người con trai còn phụ thuộc vào sự dưỡng dục của Cha mẹ, đặc biệt của mẹ (gọi là tuổi Sơ sinh Mẫu giáo, chưa có Thiên mệnh riêng, Thiên tính riêng).
VÒNG ĐỜI CỦA NỮ
Vòng đời của Nữ tính theo tuổi mụ của Thân từ lúc trong thai, với mỗi 6 năm thì đổi một chu kỳ Mệnh
– Thai (1) : 1 tuổi (tuổi mụ của thân tính từ thai)
– Dưỡng (2) : 1-7 (6×1+1) tuổi (tuổi mụ chu kỳ 6 năm)
Sinh là bước chuyển giữa Thai và Dưỡng. Sau sinh là giai đoạn đầu của Dưỡng. Trong giai đoạn này có 1 loạt nghi lễ vòng đời, là lễ chôn nhau cắt rốn, lễ 1 ngày tuổi, lễ đặt tên, lễ bà mụ, lễ dạ đề, lễ thôi nôi, lễ căn 6 tuổi
– Trường sinh (3) : 7-13 (6×2+1) tuổi
Dứt căn là bước chuyển kết thúc Trường sinh, thường tính là 12 tuổi
– Mộc Dục (4) : 13-19 (6×3+1) tuổi
Dạy thì là bước sau Dứt căn, thường tính là từ 13 tuổi, 15 là tuổi cập kê và 18 tuổi là dạy thì trọn vẹn.
– Quan Đới (5) : 19-25 (6×4+1) tuổi có quan hệ tình dục
19 tuổi là bắt đầu Quan đới, giai đoạn thiết lập các quan hệ thân thiết bao gồm quan hệ thân thể với người ngoài xã hội, không phải người thân trong gia đình như giai đoạn trước.
– Lâm Quan (6) : 25-31 (6×5+1) tuổi
– Đế Vượng (7) : 31-37 (6×6+1) tuổi
– Suy (😎 : 37-43 (6×7+1) tuổi
– Bệnh (9) : 43-49 (6×8+1) tuổi
– Tử (10) : 49-55 (6×9+1) tuổi
– Mộ (11) : 55-61 (6×10+1) tuổi nếu còn sống hoặc chuyển hoá trong mộ nếu đã chết, chiêu mộ Rốn, Ối, Nhau, Bào về cùng
– Tuyệt (12) : 61-67 (6×11+1) tuổi hoặc linh hồn lên bàn thiết kế đầu thai để tổng kết đầu thai cũ, thiết kế đầu thai mới
Đây là cách tính tuổi cho nữ (Thân nữ Mệnh nữ). Cuộc đời tính từ Thai đến Tuyệt, theo vòng địa chi 12 con giáp, cũng là chu kỳ của thân gái 12 bến nước, chứ không gọi là vòng Trường sinh.
LỆCH TUỔI THÂN VÀ TUỔI MỆNH
Nhiều người bị hỏng Thân, sai Mệnh (ví dụ Thân nam Mệnh nữ hoặc Thân nữ Mệnh nam), thì tuổi đời sẽ tính rất phức tạp.
Nhiều người tuổi Thân thì đúng, nhưng tuổi Mệnh không đúng, vì Mệnh không đạt được sự trưởng thành tương ứng với Thân. Ví dụ không dứt căn được thì Tuổi thân có thể đến Quan đới nhưng tuổi đời chưa xong bước Trường sinh.
Một năm một tuổi một già
Ba năm một tuổi chi mà đợi anh
– Một năm là tuổi Thân, một tuổi là tuổi Mệnh. “Một năm một tuổi một già” là trưởng thành Thân Mệnh cùng nhịp.
– Ba năm là tuổi thân, một tuổi là tuổi Mệnh. “Ba năm một tuổi” là không trưởng thành về tinh thần như năm tuổi vật lý của thân thể.
CÁC MỐC CỦA VÒNG ĐỜI
Vòng đời có một số mốc cần lưu ý tính cho cả Thân và Mệnh
– “12 tuổi dứt căn” là dành cho cả Thân nam và nữ, nhưng dứt căn là một quá trình mà 12 tuổi là bắt đầu thôi, có người sẽ mất vài năm để kết thúc Mệnh này.
– Nam thập tam, nữ thập tứ :
– Nữ thập tam, nam thập lục
Hai câu trên đều chỉ độ tuổi dứt căn và bắt đầu dậy thì ở nam và nữ, là bước chuyển giữa Trường sinh và Mộc dục. Bình thường độ tuổi Mệnh của nam dài hơn nữ, khởi Mệnh của nam lại muộn hơn nữ, nhưng ở bức chuyển này Nam lại chuyển ở Trường sinh mà nữ lại chuyển ở Mộc Dục, vì bên nam Dứt căn xong mới Dạy thì, còn nữ thì hai sóng này chồng chập nhau, do bản chất của tuổi nam là tuổi hạt, tuổi đứt đoạn giữa các mệnh, trong khi tuổi nữ là tuổi sóng, tuổi chồng chập gối đầu giữa các Mênh, mà Mộc dục là lúc sóng hạt âm dương cực kỳ rõ ràng.
– Lấy chồng từ thuở mười ba/Đến năm mười tám, thiếp đà năm con : Đây là tình trạng thân không gánh nổi mệnh, dạy thì sớm, có con quá sớm và quá mau
– “Nữ tử thập hựu ngũ niên nhi kê” 女子十有五年而笄 (Con gái 15 tuổi thì cài trâm) Nữ 15 tuổi cập kê, tuổi Mệnh nữ là Mộc dục
– Tuổi “niên phương nhược quán” (theo Kinh Lễ là 20 tuổi), sách Từ hải 辭海 “Nữ-tử hứa giá, kê nhi tự chi; kỳ vị hứa giá, nhị thập tắc kê” (Con gái đã hứa gả chồng thì cài trâm và đặt tên chữ; còn con gái chưa hứa gả chồng thì hai mươi tuổi cũng cài trâm). 20 tuổi Mệnh nữ là Quan đới.
– Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu : Câu này dành cho nam, 17 là tuổi Mộc Dục
– Trai ba mươi hãy đang xoan/Gái ba mươi tuổi đã toan về già : Trai 30 ở Lâm Quan, nữ 30 ở Đế Vượng, sau Đế Vượng là suy, là về già rồi. Vợ chồng lấy nhau trai hơn tuổi gái thường là vì lý do như vậy.
– Ba mươi tuổi đàn bà, bốn mươi tuổi đàn ông: Đánh dấu độ tuổi độ chín về cả thể chất, tư duy lẫn kinh nghiệm sống, quãng thời gian Đế Vượng ở nữ và Đế Vượng ở nam.
– “49 chưa qua 53 chưa tới” dành cho cả nam và nữ
– “70 tuổi xưa nay hiếm” dành cho nam
TUỔI CỦA CÁC VỊ THÁNH NHÂN TRONG LỊCH SỬ & HUYỀN SỬ
– Khương Tử Nha : Sử ký chỉ ghi ông thọ hơn 100 tuổi. Tính từ khi gặp Cơ Xương năm 80 tuổi tới khi qua đời, Khương Tử Nha hoạt động trong khoảng hơn 20 năm cuối thời nhà Thương, giúp thành lập nên nhà Chu. Trước 80 tuổi, ông làm gì cũng thất bại. Như vậy, ông đã ở vòng Trường sinh thứ 2 khi bắt đầu sự nghiệp nhà Chu. Vậy là về Thân thì ông vẫn ở cuối một đời đầu thai, nhưng theo Mệnh thì ông lại ở đoạn đầu của đại vận mới, đại vận thứ hai của cuộc đời mình
– Nhiều tích về các vị thần linh trong đình đền đưa ra thời gian được mẹ mang nặng đẻ đau của họ dài hơn thai kỳ 9 tháng 10 ngày thông thường, ví dụ 10 tháng, 12 tháng, 16 tháng. Nghĩa là bộ cấu trúc Thân và nhịp Mệnh của họ lớn hơn người thường.
– Sự tích Lão Tử ra đời : Trong sự tích thày Lão Tử có nói thày sinh ra khỏi nách mẹ khi đã 72 tuổi, trong khi người thường ra khỏi bụng mẹ mới tính là 1 ngày tuổi, nghĩa là thày Lão Tử đã đi qua 6 vòng Trường sinh thai của 6 Thân Mệnh khác nhau (Thân, Rốn, Ối, Nhau, Bào hình và Bào âm), tạo nên 6×12=72. Nói cách khác thày Lão Tử là một con người trọn vẹn Thân Rốn Ối Nhau, Bào hình, Bào âm. Điều này rất khó vì người ta nói Sinh ly, Tử biệt, việc này chỉ có thể xảy ra khi thày Lão Tử sinh ra ở trạng Thân Mệnh đồng cung Vô chính diệu (chính là trạng thái Bào âm). Ở trạng thái trẻ sơ sinh, thày Lão tử đã trưởng thành hơn người 70 tuổi xưa nay hiếm mà chỉ có mỗi cái thân. Bào âm có tên gọi là Bao la, nó sẽ vượt qua giới hạn hình của tư cung mẹ, bào thai lúc đó giống như được mẹ chắp cánh bay ra vũ trụ. Đó là lý do sinh ở nách, gốc của cánh. Sự tích này nói về bản chất của đạo Lão và gợi ý nền tảng để hiểu Đạo đức Kinh.
– Sự kiện Phật Thích Ca đản sinh : Thày Thích Ca vừa ra đời đã tự đi bảy bước (là nhịp của một chu kỳ tuổi Mệnh của nam) trên hoa sen, nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Hoa sen là biểu tượng của điểm làm tổ trên dạ con của mẹ, nhưng trong trường hợp này là mẹ Trái đất.
Lão Tử và Thích Ca là các vị dụ về thần đồng, là những người tuổi Mệnh vượt xa tuổi Thân. Có thể thấy Thần Đồng trước hết là đồng Thân Mệnh ở trạng thái cao nhất của chính mình và của cha Trời mẹ Đất. Thày Lão Tử hay thày Thích Ca vừa ra đời ở trạng thái con người trọn vẹn Thân Mệnh, từ cái gốc đó, họ mới bắt đầu bước trên con đường tu Phật hay tu Tiên, còn người thường chưa xong bước làm người, chả biết cái gốc người, cái Thân và Mệnh của mình ra sao đã tu Phật tu Tiên thì chắc chắn là tu hoang tưởng, tu mất cả gốc Thân lẫn đích Mệnh.
THAI & ĐẾ VƯỢNG : VÒNG ĐỜI TRONG VÒNG ĐỜI
Thai và Đế Vượng là hai giai đoạn đặc biệt trong cuộc đời của một con người, khi mà sự phát triển của Thân và Mệnh, cùng đạt được sự hoà hợp để có thể tạo ra sinh mệnh mới trong thân thể mới.
Vòng đời của Thai
– Tuyệt :
– – – Thân : Thai ở trường xứ sở
– – – Mệnh : Thiết kế bào thai và thiết kế thai kỳ
– Thai :
– – – Thân : Hợp tử
– – – Mệnh : Đầu thai của em bé vào hợp tử
Dưỡng :
– – – Thân : Phôi dâu
– – – Mệnh : Vận hành phôi dâu trong vòi trứng
– Mộc dục :
– – – Thân : Phôi thai
– – – Mệnh : Phôi làm tổ trong tử cung
– Quan đới :
– – – Thân : Nhau thai
– – – Mệnh : Hình thành bánh nhau
– Lâm quan :
– – – Thân : Bào thai
– – – Mệnh : Hình thành bào thai
– Đế vương :
– – – Thân : Bào thai
– – – Mệnh : Hoàn thành bào thai, xoay ngôi thai
– Suy :
– – – Thân : Vôi hoá nhau thai
– – – Mệnh : Chuẩn bị chuyển dạ
– Bệnh :
– – – Thân : Phân tách của dạ, bào
– – – Mệnh : Chuyển dạ
– Tử :
– – – Thân : Tách bộ rốn ối nhau khỏi ối
– – – Mệnh : Sinh (vỡ ối, bong nhau)
– Mộ :
– – – Thân : Tách thân và nhau
– – – Mệnh : Chôn nhau, cắt rốn
– Tuyệt :
– – – Thân : Tách thân khỏi rốn
– – – Mệnh : Rụng rốn, sinh thân
Đế Vượng
– Với nữ là giai đoạn mang thai và sinh con, vì mang thai là mang một sinh mệnh, mang cả một vòng trường sinh
– Với nam là giai đoạn đỉnh cao sự nghiệp tạo lập ra được một sự nghiệp giống như mang thai và sinh ra được một đứa con tinh thần ví dụ lập quốc hay để lại một tác phẩm để đời
Đế Vượng kiểu nam hay nữ đều cho phép tạo ra một vòng trường trọn vẹn sinh bên trong chính mình, nữ mang thai và sinh con bằng thân thể, nam mang thai và sinh đứa con tinh thần.
Chia sẻ:
Scroll to Top