CÁC ĐỊA DANH TRONG TRUYỆN KIỀU

Loading

CÁC VÙNG ĐẤT ĐOẠN TRƯỜNG
– BẮC KINH là quê của Vương Thuý Kiều.
Nguyễn Du không nêu tên Bắc Kinh ở phần giới thiệu quê nhà của Thuý Kiều ở đầu truyện. Địa danh Bắc Kinh xuất hiện ở phần sau của truyện Kiều, khi Kiều tự giới thiệu về mình và khi người khác nói về Kiều.
Thuý Kiều nói với sư Giác Duyên rằng quê mình ở Bắc Kinh
Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
“Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh,
Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu.
Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.”
Kim Trọng thăng đường tìm Thuý Kiều, và được kể rằng Tú Bà và Mã Giám Sinh đã mua người quê ở Bắc Kinh
Thăng đường chàng mới hỏi tra,
Họ Đô có kẻ lại già thưa lên
Sự này đã ngoại mười niên,
Tôi đà biết mặt, biết tên rành rành.
Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về.
Bắc Kinh là
– thủ đô của nước Kế và nước Yên thời nhà Chu;
– bồi đô của Liêu,
– thủ đô của Kim, Nguyên, Minh, Thanh, Trung Hoa Dân Quốc thời kỳ chính phủ Bắc Dương, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Như vậy, vào thời nhà Minh giai đoạn xảy ra truyện Kiều, Bắc Kinh là thủ đô của nhà Minh.
– HAI KINH : Quê nhà của Thuý Kiều trong truyện Kiều chính thức được Nguyễn Du giới thiệu là “Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng”, chứ không phải là Bắc Kinh. Hai kinh vững vàng thường được cho là Bắc Kinh và Nam Kinh, còn bốn phương phẳng lặng thì không có cách giải thích phù hợp. Nếu coi cấu trúc không gian gốc của đời Kiều là tứ tượng thì Hai Kinh là chấm trắng trong nửa đen và chấm đen trong nửa trắng. Tuỳ cách định tứ tượng này mà Hai Kinh có thể là
– – – Bắc Kinh, quê nhà của Thuý Kiều – Liêu Dương, quê nhà của Kim Trọng
– – – Bắc Kinh – Nam Kinh : hai kinh của nhà Minh
– – – Bắc Kinh – Thăng Long : hai kinh của Trung Quốc và Bắc Việt
– – – Kinh đô của Trung Hoa – Kinh đô của Ấn Độ : đây là bộ Hai Kinh trọn vẹn nhất vì nó bao được toàn bộ vùng đất gốc của Đạo Phật cùng hai nhân vật bí ẩn Hội Chủ và Tam Hợp Đạo Cô
Kiểu thơm lần giở trước đèn,
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.
Rằng: Năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung,
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
– LIÊU NINH : là huyện nằm ở trung tâm của tỉnh Liêu Ninh, một tỉnh biên giới Đông Bắc của Trung Quốc giáp khu tự trị Nội Mông và Triều Tiên. Đây là quê nhà của Kim Trọng. Liêu Dương với ý nghĩa là dương đinh ở biên, ở xa, ở nơi cô liệu đối xứng với Bắc Kinh với nghĩa là dương định ở trung tâm, ở nơi đô thị, tạo nên trạng thái Hai Kinh, với ý nghĩa là quê của Thuý Kiều và Kim Trọng.
Khi gia đình gặp biến thì Kim Trọng đang về quê hộ tang.
Bóng tàu vừa nhạt vẻ ngân,
Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào.
Nàng thì vội trở buồng thêu,
Sinh thì dạo gót sân đào vội ra.
Cửa sài vừa ngỏ then hoa,
Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang.
Đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.
Liêu Dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
Khi chấp nhận bán mình chuộc cha, Kiều đã nghĩ đến việc Kim Trọng ở xa không thể gặp lại
Một mình nàng, ngọn đèn khuya,
Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu:
“Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi,
Vì ta khắng khít cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa!
Trời Liêu non nước bao xa,
Nghĩ đâu rẽ cửa, chia nhà tự tôi!
Biết bao duyên nợ thề bồi,
Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?
Sau khi Kim Trọng từ Liêu Dương trở về đã hơn nửa năm, thì gia đình Kiều đã bị phiêu bạt ly tán
Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Vội sang vườn Thuý dò la,
Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.
Liêu Dương nằm ở trung tâm của bán đảo Liêu Ninh, với lịch sử liên quan đến Triều Tiên, Mông Cổ và Nga.
– Liêu Ninh là đất Yên (từ thời Chu). Phần Vạn Lý Trường Thành gần biển Liêu Ninh được coi là bắt đầu của Vạn Lý Trường Thành. Liêu Ninh đã từng là thủ đô của Mãn Châu, là một tên gọi ngoại lai cho một số vùng đất lịch sử và địa lý lớn chồng chập Trung Quốc và Nga, mà nay thường được cho là Hắc Long Giang, Cát Lâm và Liêu Ninh.
– Liêu Ninh là một trong các tỉnh có số nhân khẩu dân tộc thiểu số lớn tại Trung Quốc. Bên cạnh người Hán chiếm đa số, tỉnh Liêu Ninh còn có người Mãn, người Mông Cổ, người Hồi, người Triều Tiên và người Tích Bá cùng 51 dân tộc khác sinh sống. Liêu Ninh là gốc của người Đông Hồ hay người Khiết Đan.
– LÂM THANH, thuộc tỉnh Sơn Đông, chỗ Mã Giám Sinh khai gian là quê mình
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,
Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Kim Trọng tìm theo địa danh này không thấy
Biết bao công mượn, của thuê,
Lâm Thanh mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi, hỏi một nơi,
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
– LÂM TRUY, Lâm Truy hoặc Lâm Tri, thuộc tỉnh Sơn Đông, chỗ Tú Bà và Mã Giám Sinh mở lầu xanh. Đây là địa danh được nhắc đến nhiều nhất trong các địa danh của truyện Kiều. Trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Thuý Kiều được cho là người Lâm Tri, chứ không phải người Bắc Kinh.
Những là lạ nước, lạ non,
Lâm Chuy vừa một tháng trời tới nơi.
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao?
Thúc Sinh mở cửa hàng buôn bán ở Lâm Chuy, nên mới có duyên gặp Kiều ở đây
Khách du bỗng có một người,
Kỳ Tâm họ Thúc, cũng nòi thư hương.
Vốn người huyện Tích, châu Thường,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Chuy.
Khi Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, Hoạn Thư lừa Thúc Sinh quay lại Lâm Chuy
Thú quê thuần hức bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.
Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một niềm quan tái, mấy mùa gió trăng.
Tình riêng chưa dám rỉ răng,
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
“Cách năm, mây bạc xa xa,
Lâm Chuy cũng phải tính mà thần hôn.”
Được lời như cởi tấc son,
Vó câu thẳng ruổi nước non quê người.
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.
Roi câu vừa gióng dặm trường,
Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh.
Thúc Sinh đi đường bộ cả tháng, nhưng Hoạn Thư cử người trong lúc đó đi bắt Thuý Kiều bằng đường thuỷ
Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng: “Ngứa ghẻ hờn ghen,
1610. Xấu chàng mà có ai khen chi mình!
Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.
Lâm Chuy đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về.
Làm cho, cho mệt, cho mê,
Làm cho đau đớn, ê chề cho coi!
Trước cho bõ ghét những người,
Sau cho để một trò cười về sau!”
Sau khi bị bắt, Kiều nghĩ về nơi đã gặp Thúc Sinh là Lâm Chuy
Lâm Chuy chút nghĩa đèo bòng,
Nước non để chữ tương phùng kiếp sau!
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc, biết đâu là nhà?
Sau khi Thúc Sinh phát hiện ra việc Thuý Kiều bị vợ bắt về Vô Tích chứ không phải bi chết cháy, nhớ lại những ngày tháng cùng Kiều ở Lâm Chuy
Lần lần tháng trọn ngày qua,
Nỗi gần nào biết đường xa thế này?
Lâm Chuy từ thuở uyên bay,
Buồng không, thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Kiều kể cho Từ Hải về thời gian lưu lạc ở Vô Tích và Lâm Chuy, Từ Hải tức giận đưa người về Vô Tích và Lâm Chuy bắt người
Trong quân có lúc vui vầy,
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
“Khi Vô Tích, khi Lâm Chuy,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân oán, đôi đường chưa xong.”
Từ công nghe nói thuỷ chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân, tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Chuy.
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã, bắt về hỏi tra.
Khi gặp Thúc Sinh, Kiểu hỏi chuyện cũ ở Lâm Chuy
Cho gươm mời đến Thúc lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ giun.
Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Chuy người cũ, chàng còn nhớ không?
Sâm, Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Lâm Chuy cũng là nơi sau này Kim Trọng được bổ nhiệm làm quan
Rễ bèo chân sóng lạc loài,
Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly.
Vâng ra ngoại nhậm Lâm Chuy,
Quan sơn nghìn dặm, thê nhi một đoàn.
Cầm đường ngày tháng thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao.
Thuý Vân mơ thấy Lâm Thanh thực ra phải là Lâm Chuy, cho nên khi đến Lâm Chuy, Kim Trọng đã thăng đường hỏi về truyện của Kiều và đúng là tìm ra được manh mối.
Phòng xuân trướng rủ hoa đào,
Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng,
Nghe lời, chàng cũng hai đường tin, nghi.
Nọ Lâm Thanh với Lâm Chuy,
Khác nhau một chữ, hoặc khi có lầm.
Trong cơ, thanh khí tương tầm,
Ở đây hoặc có giai âm chăng là?
Thăng đường chàng mới hỏi tra,
Họ Đô có kẻ lại già thưa lên:
“Sự này đã ngoại mười niên,
Tôi đà biết mặt, biết tên rành rành.
Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về.
Thuý Kiều tài sắc ai bì,
Có nghề đàn, lại đủ nghề văn thơ.
Kiên trinh chẳng phải gan vừa,
Liều mình thế ấy, phải lừa thế kia.
Phong trần chịu đã ê chề,
Dây duyên, sau lại gả về Thúc lang.
Phải tay vợ cả phũ phàng,
Bắt về Vô Tích, toan đường bẻ hoa.
Bực mình, nàng phải trốn ra,
Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia.
Thoắt buôn về, thoắt bán đi,
Mây trôi bèo nổi, thiếu gì là nơi!
Bỗng đâu lại gặp một người,
Hơn người trí dũng, nghiêng trời uy linh.
Trong tay muôn vạn tinh binh,
Kéo về đóng chật một thành Lâm Chuy.
Tóc tơ các tích mọi khi,
Oán thì trả oán, ân thì trả ân.
Đã nên có nghĩa, có nhân,
Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen.
Chưa tường được họ được tên,
Sự này, hỏi Thúc Sinh viên mới tường.”
Lâm Chuy là nơi Giác Duyên gặp Kiều lần đầu
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao?
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: “Những người đâu ta?
Với nàng thân thích gần xa?
Người còn, sao bỗng làm ma khóc người?”
Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
Xúm quanh kể họ, rộn lời hỏi tra:
“Này chồng, này mẹ, này cha,
Này là em ruột, này là em dâu.
Thật tin nghe đã bấy lâu,
Pháp sư dạy thế, sự đâu lạ dường!”
Sư rằng: “Nhân quả với nàng,
Lâm Chuy buổi trước, Tiền Đường buổi sau.
Khi nàng gieo ngọc, trầm châu,
Đón nhau, tôi đã gặp nhau rước về.
Cùng nhau nương cửa bồ đề,
Thảo am đó, cũng gần kề chẳng xa.
Phật tiền ngày bạc lân la,
Đăm đăm, nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.”
Sơn Đông có núi Thái Sơn, được mệnh danh là Đông Nhạc, một trong số Ngũ Nhạc danh sơn Trung Quốc và được coi là ngọn núi quan trọng nhất trong số đó. Núi Thái Sơn nằm ở giữa nước Lỗ và nước Sở, mà đi ca dao Việt “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Núi Thái Sơn trung tâm tế lễ trời đất lớn nhất qua các đời vua Trung Quốc. Năm 219 TCN, Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc đã tổ chức một buổi lễ trên đỉnh núi, tuyên bố sự thống nhất của đế quốc của mình trong một bản khắc nổi tiếng. Đến thời nhà Hán (206-220), Phong thiện được coi là nghi thức tế lễ cao nhất và nó tiếp tục được cử hành dưới thời nhà Tùy, Đường. Thậm chí, nghi thức này tổ chức vào năm 666 bởi Đường Cao Tông có cả đại diện của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Ba Tư, Ấn Độ, Cao Câu Ly, Bách Tế, Tân La, Đột Quyết, Vu Điền, Chân Lạp, Omeyyad.
Sơn Đông là giữ cửa biển của sông Hoàng Hà, sông chảy qua Tế Nam, thủ phủ Sơn Đông, rồi chảy ra biển ở Đông Dinh.
Sơn Đông trong lịch sử là đất kinh đô của bộ lạc Thần Nông Thị (vua là Thần Nông và Viêm Đế), của Tiên Thương) và sau này là đất của nước Lỗ, nước Tề, nước Việt (thời Chu)
– Bộ tộc Thần Nông thị (thời Tam Hoàng Ngũ Đế), giai đoạn Thần Nông (tương truyền ước khoảng 2737 TCN- khoảng 2699 TCN) và Viêm Đế (tương truyền ước khoảng 2737 TCN – khoảng 2699 TCN). Kinh đô
– – – Lỗ (tương truyền nay thuộc Khúc Phụ, Sơn Đông)
– Nhà Thương thời kỳ đầu tiên đóng đô ở Sơn Đông
– – – Bạc (có thuyết nói là nay thuộc vùng ranh giới giữa tây bộ Liêu Ninh và đông bắc bộ Hà Bắc, có thuyết nói là nay thuộc Yển Sư, Hà Nam)
– Nước Lỗ, được Cơ Bá Cầm thành lập trong thời kỳ trị vì của Chu Thành Vương vào năm 1043 TCN, và bị Sở diệt trong thời Chiến Quốc 256 TCN. Kinh đô
– – – Lỗ Sơn (nay là huyện Lỗ Sơn, Bình Đính Sơn, Hà Nam)
– – – Yểm Thành (nay là huyện cấp thị Khúc Phụ, Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông)
– – – Khúc Phụ (nay là thôn Cổ Thành, Khúc Phụ, Tế Ninh, Sơn Đông)
– Nước Khương Tề, đất được phong cho Khương Tử Nha sau khi nhà Chu diệt nhà Trụ vào năm 1046 TCN, bị nước Tần tiêu diệt năm 221 TCN (nước cuối cùng bị Tần Thuỷ Hoàng tiêu diệt). Kinh đô
– Nước Việt, chư hầu nhà Chu, Kinh đô
– – – Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang) ? – 468 TCN
? – 306 TCN
– – – Lang Da (nay thuộc Giao Nam, Sơn Đông) 468 TCN – 378 TCN
– – – Ngô (nay thuộc Tô Châu, Giang Tô) 378 TCN – ?
Sơn Đông là đất của Văn Thánh và Võ Thánh, được thờ ở Văn Miếu và Võ Miếu của cả Việt Nam (Thăng Long) và Trung Quốc
– Văn : Khổng Tử ( 551 TCN – 479 TCN).
– Võ :
– – – Khương Tử Nha (1156 TCN – 1015 TCN) công thần hàng đầu của nhà Chu được thờ đầu ở Võ Miếu Thăng Long, được cho là người giết Đắc Kỷ (thực ra ông là Đạo Sỹ, giỏi cả Văn, cả Võ và cả Y Thuật)
– – – Tôn Tử (Sinh 544 TCN ở nước Tề – Mất 470 TCN ở nước Ngô) viết Binh pháp Tôn Tử
– – – Tôn Tẫn (382 TCN – 316 TCN) cháu của Tôn Tử học trò của Quỷ Cốc Tiên Sinh, viết Binh pháp Tôn Tẫn
Danh thánh 10 thánh của Trung Quốc
– Văn Thánh Khổng Tử (nhà tư tưởng thời Xuân Thu);
– Binh Thánh Tôn Tử (nhà quân sự thời Xuân Thu)
– Sử Thánh Tư Mã Thiên (nhà sử học thời Tây Hán);
– Y Thánh Trương Trọng Cảnh (lang y thời Đông Hán);
– Võ Thánh Quan Vũ (tướng lĩnh thời Đông Hán-Tam Quốc);
– Thư Thánh Vương Hi Chi (nhà thư pháp thời Đông Tấn);
– Họa Thánh Ngô Đạo Tử (họa sĩ thời Đường);
– Thi Thánh Đỗ Phủ (nhà thơ thời Đường);
– Trà Thánh Lục Vũ (nhân vật thời Đường);
– Tửu Thánh Đỗ Khang (nhân vật thời Tây Chu).
Ẩm thực Sơn Đông là 1 trong 8 trường phái ẩm thực nổi tiếng của Trung Quốc
Các địa điểm quan trọng của Sơn Đông
– Tế Nam : sông Hoàng Hà
– Đông Dinh : cửa sông Hoàng Hà
– Thành phố Thái An : núi Thái Sơn
– Thanh Đảo : thành phố ven biển, có núi Lão Sơn
– Lâm Truy của quận Lâm Truy, địa cấp thị Truy Bác, tỉnh Sơn Đông).
– – – Khu lăng mộ vua Tề (Qi Kings Mausoleum) : Trải dài trên diện tích rộng lớn, bao gồm hơn 100 gò mộ của các vị vua họ Điền (Tiền Tề) và Tề Cảnh công. Nổi tiếng nhất tại đây là hố chôn ngựa tế thần (Horse Pit of Duke Jing), nơi các nhà khảo cổ phát hiện hơn 600 bộ xương ngựa được chôn cùng vua.
– – – Bảo tàng Di sản Văn hóa Tề (Qi Heritage Museum) : Quần thể kiến trúc rộng 152.000 m2 bao gồm 5 khu vực bảo tàng chuyên đề: Bảo tàng Văn hóa Tề, Bảo tàng Bóng đá (ghi nhận Lâm Truy là cái nôi của môn thể thao này),
– – – Bảo tàng Xe ngựa Cổ đại và Bảo tàng Lăng mộ thời Chiến Quốc.
– – – Tàn tích cố đô nước Tề: Di chỉ thành cổ Lâm Truy rộng lớn với hệ thống tường đất nện chạy dài hàng chục km, minh chứng cho sự giàu có và sầm uất của quốc gia này trong lịch sử.
– Khúc Phụ
– – – Khổng Miếu là đền thờ chính, nơi tổ chức các nghi lễ cúng tế vị “Vạn thế sư biểu”, dựng trên nền nhà cũ của ông. Đây là văn miếu lâu đời và lớn nhất trên thế giới.
– – – Khổng Phủ là dinh thự và nơi sinh sống của các thế hệ hậu duệ trực hệ của Khổng Tử.
– – – Khổng Lâm là nghĩa trang và lăng mộ của Khổng Tử cùng gia tộc họ Khổng.
– Thị trấn Tôn Lão Gia (nơi được cho là quê hương của ông) thuộc huyện Quyền Thành, tỉnh Sơn Đông.
– – – Tôn Tẫn Kỷ Niệm Đường & Quần thể du lịch tại Huyện Quyền Thành : Đền thờ/Tưởng niệm Tôn Tẫn, khu mộ Tôn Tẫn
– Vô Tích : thuộc tỉnh Giang Tô, quê Thúc Sinh, Thúc sinh cùng thân phụ từ Vô Tích sang buôn bán ở Lâm Chuy
Khách du bỗng có một người,
Kỳ Tâm họ Thúc, cũng nòi thư hương.
Vốn người huyện Tích, châu Thường,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Chuy.
Khuyển Ưng nghe lệnh Hoạn Thư bắt Kiều từ Lâm Chuy về Vô Tích theo đường biển
Nước trôi hoa rụng đã yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian!
Khuyển, Ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao, lèo thẳng cánh suyền,
Đè chừng huyện Tích, băng miền vượt sang.
Dỡ đò, lên trước sảnh đường,
Khuyển, Ưng, hai đứa nộp nàng dâng công.
Vực nàng tạm xuống môn phòng,
Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
Vô Tích là nơi Kiều bị Hoạn Thư giam, sau khi trốn khỏi nhà Hoạn Thư, Kiều gặp Giác Duyên cũng ở đây
Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành “Chiêu Ẩn am” ba chữ bài.
Xăm xăm gõ mé cửa ngoài,
Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
“Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu.
Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.”
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng, khánh bạc bên mình giở ra.
Xem qua, sư mới dạy qua:
“Phải nơi Hằng Thuỷ là ta hậu tình.
Chỉn e đường sá một mình,
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.”
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
Kiều kể cho Từ Hải về thời gian lưu lạc ở Vô Tích và Lâm Chuy, Từ Hải tức giận đưa người về Vô Tích và Lâm Chuy bắt người
Trong quân có lúc vui vầy,
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
“Khi Vô Tích, khi Lâm Chuy,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân oán, đôi đường chưa xong.”
Từ công nghe nói thuỷ chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân, tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Chuy.
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã, bắt về hỏi tra.
Sau này Kim Trong thăng đường tra hỏi được chuyện Kiều bị bắt về Vô Tích
Phong trần chịu đã ê chề,
Dây duyên, sau lại gả về Thúc lang.
Phải tay vợ cả phũ phàng,
Bắt về Vô Tích, toan đường bẻ hoa.
Bực mình, nàng phải trốn ra,
Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia.
– Châu Thai : thuộc tỉnh Chiết Giang, chỗ Kiều bị Bạc Hạnh đem bán cho chủ thanh lâu, rồi sau gặp Từ Hải ở đây
Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần, tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
Thấy nàng mặn phấn, tươi son,
Mừng thầm được buổi bán buôn có lời.
Hư không đặt để nên lời,
Nàng đà lớn sự, rụng rời lắm phen.
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần.
Rằng: “Nàng muôn dặm một thân,
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
Khéo oan gia, của phá gia!
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây?
Kíp toan kiếm chốn xe dây,
Không dưng chưa dễ mà bay đường trời!
Nơi gần thì chẳng tiện nơi,
Nơi xa thì chẳng có người nào xa.
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.
Cửa nhà buôn bán Châu Thai,
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề.
Thế nào nàng cũng phải nghe,
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai.
Bấy giờ ai lại biết ai,
Dầu lòng bể rộng, sông dài thênh thênh.
Nàng dù quyết chẳng thuận tình,
Trái lời nẻo trước, luỵ mình đến sau!”
Sau này Kim Trọng thăng đường điều tra về tung tích của Kiều cũng biết được Từ Hải gặp Kiều ở Châu Thai.
Nghe lời Đô nói rõ ràng,
Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc Sinh.
Nỗi nàng hỏi hết phân minh,
Chồng con đâu tá, tính danh là gì?
Thúc rằng: “Gặp lúc lưu ly,
Trong quân, tôi hỏi thiếu gì tóc tơ.
Đại vương tên Hải, họ Từ,
Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người.
Gặp nàng thời ở Châu Thai,
Lạ gì quốc sắc, thiên tài phải duyên.
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
Làm cho động địa, kinh thiên đùng đùng.
Đại quân đồn đóng cõi đông,
Về sau chẳng biết vân mồng làm sao?”
– Việt Đông : tên một huyện thuộc tỉnh Phúc Kiến, quê Từ Hải
Lần thâu gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
Râu hầm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
– Hàng Châu : thuộc tỉnh Chiết Giang, chỗ Từ Hải làm giặc và cũng là nơi có sông Tiền Đường, nơi Kiều trẫm mình
Xảy nghe thế giặc đã tan,
Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Chiết Giang.
Được tin Kim mới rủ Vương,
Tiện đường, cùng lại tìm nàng sau xưa.
Hàng Châu đến đó bấy giờ,
Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.
Rằng: “Ngày hôm nọ giao binh,
Thất cơ, Từ đã thu linh trận tiền.
Nàng Kiều công cả, chẳng đền,
Lệnh quân lại bắt ép duyên thổ tù.
Nàng đà gieo ngọc, trầm châu,
Sông Tiền Đường đó, ấy mồ hồng nhan!”
– Sông Tiền Đường : con sông chảy qua Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, nơi Kiều nhảy sông tự vẫn khi đang trên thuyền của Hồ Tôn Hiến và bị ép gả cho viên tướng địa phương (thổ quan), kết thúc đoạn trường
Khi Kiều tự vẫn ở chỗ Tú Bà, Đạm Tiên đã hiện ra nói rằng Đoạn trường chưa tận, hẹn gặp ở sông Tiền Đường.
Nàng rằng: “Trời thẳm đất dày,
Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
Thôi thì thôi, có tiếc gì!”
Sẵn dao tay áo, tức thì giở ra.
Sợ gan nát ngọc, liều hoa,
Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay.
Thương ôi, tài sắc bậc này,
Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần!
Nỗi oan vỡ lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nen.
Nàng thì bằn bặt giấc tiên,
Mụ thì cầm cập, mặt nhìn hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coi sóc, rước thầy thuốc men.
Nào hay chưa hết trần duyên,
Trong mê dường đã đứng bên một nàng.
Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?
Số còn nặng nghiệp má đào,
Người dù muốn quyết, trời nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu bồ,
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.”
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong.
Triều đâu nổi sóng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây!
“Đạm Tiên, nàng nhé có hay?
Hẹn ta, thì đợi dưới này rước ta.”
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!”
Giác Duyên nghe nói mừng lòng,
Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường.
Đánh tranh, chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.
Thuê năm, ngư phủ hai người,
Đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quản mấy công,
Khéo trong gặp gỡ cũng trong chuyển vần.
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước, chưa loà bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
Nàng còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
Mơ màng phách quế, hồn mai,
Đạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: “Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
Chị sao phận mỏng, đức dày?
Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai!
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm vì nước, vì dân,
Âm công cất một đồng cân đã già.
Đoạn trường sổ, rút tên ra,
Đoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về sau,
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.”
Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
“Trạc Tuyền!” – Nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng, nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền, nào thấy Đạm Tiên?
Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền, mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
Nạn xưa, trút sạch làu làu,
Duyên xưa, chưa dễ biết đâu chốn này.
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao?
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: “Những người đâu ta?
Với nàng thân thích gần xa?
Người còn, sao bỗng làm ma khóc người?”
Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
Xúm quanh kể họ, rộn lời hỏi tra:
“Này chồng, này mẹ, này cha,
Này là em ruột, này là em dâu.
Thật tin nghe đã bấy lâu,
Pháp sư dạy thế, sự đâu lạ dường!”
Sư rằng: “Nhân quả với nàng,
Lâm Chuy buổi trước, Tiền Đường buổi sau.
Khi nàng gieo ngọc, trầm châu,
Đón nhau, tôi đã gặp nhau rước về.
Cùng nhau nương cửa bồ đề,
Thảo am đó, cũng gần kề chẳng xa.
Phật tiền ngày bạc lân la,
Đăm đăm, nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.”
– Nam Bình : thuộc tỉnh Phúc Kiến, nơi Kim Trọng được bổ làm quan, mở ra sự kiện tìm gặp được Thuý Kiều
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
Dấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.
Nghĩ điều trời thẳm, vực sâu,
Bóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn?
Những là nấn ná đợi tin,
Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời!
Năm mây, bỗng thấy chiếu trời,
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành:
Kim thì cải nhậm Nam Bình,
Chàng Vương cũng cải nhậm thành Phú Dương.
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cũng thuận một đường phó quan.
– Phú Dương : tên huyện thuộc tỉnh Chiết Giang, ở gần sông Tiền Đường. Đây là nơi mà Vương Quan, em trai Thuý Kiều được bổ nhiệm làm quan.
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
Dấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.
Nghĩ điều trời thẳm, vực sâu,
Bóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn?
Những là nấn ná đợi tin,
Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời!
Năm mây, bỗng thấy chiếu trời,
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành:
Kim thì cải nhậm Nam Bình,
Chàng Vương cũng cải nhậm thành Phú Dương.
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cũng thuận một đường phó quan.
Đây cũng nơi quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến đóng đại bản quân và đặt kế dụ hàng để phục bắt Từ Hải. Tại đây, sau khi Từ Hải bị giết, Thúy Kiều bị ép gả cho một viên thổ quan và được cho là đã trẫm mình xuống sông Tiền Đường. Nhờ sự kiện bổ nhiệm này, mà Kim Trọng và Vương Quan có điều kiện thuận lợi lần theo dấu vết của Kiều.
CÁC VÙNG ĐẤT MANG TÍNH ƯỚC LỆ
Tất cả các vùng đất mang tính ước lệ trong truyên Kiều có điểm chung là mang tính kết duyên âm dương, song hành âm dương, đối xứng âm dương, hài hoà âm dương. Ghép bộ vùng đất liên quan đến sự ly tán âm dương của Kiều và Kim Trọng trong Đoạn trường tân thanh nói ở trên với các vùng đất mang tính ước lệ âm dương này tạo nên một bộ đôi hoàn hảo.
– Sông Tương – Hồ Động Đình : Sông Tương là một con sông chi lưu của Trường Giang, chảy qua địa phận tỉnh Hồ Nam, đổ vào hồ Động Đình. Như tên gọi của mình, sông Tương liên quan là ước lệ về sự tương tư khi lứa đôi bị chia cắt, hồ Động Đình liên quan đến sóng lòng của nỗi nhớ thương.
“Mạch Tương” được nhắc đến trong chương Kiều mơ gặp Đạm Tiên, diễn tả dòng nước mắt của Kiều sau lần đầu Đạm Tiên báo mộng về kiếp đoạn trường.
Dạy rằng: “Mộng triệu cứ đâu?
Bỗng không mua não chuốc sầu, nghĩ nao!”
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ, đã dào mạch Tương.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng,
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.
“Mạch Tương”, “giọt tương” xuất phát từ điển xưa: Vua Thuấn mất, hai vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh tìm đến bờ sông Tương, khóc lóc rất thảm thiết, máu theo nước mắt tuôn ra. Có nơi kể thêm, sau đó, hai bà đã tự trầm mình ở sông ấy Nhân thế, người ta dùng cách nói “mạch tương” hoặc “giọt tương” để trỏ nước mắt.
“Sông Tương” được nhắc đến trong chương Kiều và Kim Trọng hẹn ước. Tuy Kim Trọng và Thuý Kiều ở hai nhà liền kề, nhưng vẫn không gặp được nhau thường xuyên qua giới hạn giữa hai nhà chính là “sông Tương một dải nông sờ”
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ.
Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.
“Sông Tương” lại thể hiện nỗi thương nhớ trong ngăn trở, cách xa của lứa đôi. Cặp câu trong “Truyện Kiều” được cho là bắt nguồn từ giai thoại Lương Ý Nương – một nữ sĩ thời Hậu Chu ở vùng hồ Động Đình, Hồ Nam. Tình yêu của nàng và một hàn sĩ họ Lý bị cha ngăn trở, Lương Ý Nương trong cảnh ly biệt đã viết “Trường tương tư” có đoạn:
“Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy.”
(Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không được gặp
Cùng uống nước sông Tương.)
“Mành Tương” giống như sông Tương biểu tượng cho sự ngăn trở lứa đôi.
Mành Tương phơn phớt gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình:
“Ví chăng duyên nợ ba sinh,
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi?”
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu.
Giọt Tương mang hàm ý là giọt nước mắt của Thúc Sinh trong lần gặp gỡ với Thúy Kiều – khi đó đã là ni cô Trạc Tuyền chép kinh trong nhà họ Hoạn, bị Hoạn Thư ép phải đánh đàn cho vợ chồng Thúc Sinh nghe.
Vợ chồng chén tạc, chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan, bắt nhặt, đến lời,
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại, như ngây,
Giọt dài, giọt ngắn, chén đầy, chén vơi.
Ngảnh đi, chợt nói, chợt cười,
Cáo say, chàng đã giạm bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: “Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn, thì ta có đòn!”
Sinh càng nát ruột, tan hồn,
Chén mời, phải ngậm bồ hòn, ráo ngay!
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi.
Rằng: “Hoa Nô đủ mọi tài,
Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe!”
Nàng đà tán hoán, tê mê,
Vâng lời, ra trước bình the, vặn đàn.
Bốn dây như khóc, như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
Cũng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu, chàng những gạt thầm giọt tương.”
– Lam Kiều : Lam Kiều là một cái cầu bắc trên sông Lam, thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Lam Kiều là đất có tiên nữ, có duyên gặp gỡ người đẹp như ngọc, cũng là đất mua được ngọc quý. Trong truyện Kiều, Lam Kiều là địa điểm xuất phát mọi vận hành trọng yếu của nàng Kiều, có thể nói đó là đất Thiên Di cho nàng Kiều.
Nghề riêng nhớ ít, tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?
Rằng: “Mua ngọc, đến Lam Kiều,
Sính nghi, xin dạy bao nhiêu cho tường.”
– Hợp Phố
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
Giơ tay với lấy về nhà:
“Này trong khuê các, đâu mà đến đây?
Gẫm âu người ấy, báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!”
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
“Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi.
Chiếc thoa nào của mấy mươi,
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”
– Động Đào – Thiên Thai
Xắn tay mở khoá động Đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi,
Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên.
– Đỉnh Giáp – Non Thần
Đến nhà vừa thấy tin nhà,
Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương rọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.
Tiếng sen khẽ động giấc hoè,
Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
– Châu Trần
Sinh rằng: “Chút phận bọt bèo,
Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.”
Cười rằng: “Đã thế thì nên!
Mộc già hãy thử một thiên trình nghề.”
Nàng vâng cất bút tay đề,
Tiên hoa trình trước án phê xem tường.
Khen rằng: “Giá lợp Thịnh Đường,
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!
Thực là tài tử giai nhân,
Châu Trần, còn có Châu Trần nào hơn?
Thôi đừng rước dữ, cưu hờn,
Làm chi lỡ nhịp cho đờn ngang cung?
Đã đưa đến trước cửa công,
Ngoài thì là lẽ, song trong là tình.
Dâu con trong đạo gia đình,
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong!”
Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần, tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
Thấy nàng mặn phấn, tươi son,
Mừng thầm được buổi bán buôn có lời.
Hư không đặt để nên lời,
Nàng đà lớn sự, rụng rời lắm phen.
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần.
– Sông Tần – Dương Quan
Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
Rạng ra gửi đến xuân đường,
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
Tiễn đưa một chén quan hà,
1500. Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
Sông Tần một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
THIÊN DI HAY ĐIỀN TRẠCH ?
Câu hỏi : Giả sử có một bản thiết kế cuộc đời dành cho Kiều mà thể hiện trên bản đồ Tử Vi, thì bộ địa danh của Đoạn Trường Tân Thanh trên sẽ liên quan đến
– Thiên Di
– Điền Trạch
hay ở cung nào ?
Lưu ý :
Bất kỳ địa điểm nào gồm địa điểm sinh đều liên quan đến cả Điền trạch và Thiên di.
– Điền trạch thiên về nơi ở lại, đất ở trạng thái tĩnh và định hình : Rõ ràng nơi ta ở đầu tiên là nơi sinh, nơi chôn nhau, cắt rốn
– Thiên di là địa điểm từ đó bắt đầu một vận hành, rõ ràng địa điểm sinh là khởi đầu Thiên di của một cuộc đời
Các địa điểm trọng yếu trong cuộc đời chúng ta mà thường liên quan đến cả Điền Trạch và Thiên Di gồm
– Đất đai xảy ra sự kiện vòng đời
– – – Nơi sinh : Nơi vỡ ối, chuyển dạ, cắt rốn, rụng rốn
– – – Nơi chôn nhau, giữ rốn
– – – Nơi sống
– – – Nơi làm việc
– – – Nơi đến thăm
– – – Nơi sinh con
– – – Nơi nuôi dạy con
– – – Nơi ốm đau
– – – Nơi chết
– – – Nơi chôn cất
– Quê hương
– – – Quê nội : quê bố và ông bà nội
– – – Quê ngoại : quê mẹ và ông bà ngoại
– – – Quê chồng : quê chồng và quê bố mẹ, ông bà chồng
– Đất đai sở hữu
– – – Đất mua bán
– – – Đất được cho tặng
– – – Đất khai khẩn
– – – Đất truyền thừa (truyền thừa chia 2 nhóm máu và đất, nhóm đất liên quan nhiều đến Điền Trạch, nhóm máu liên quan nhiều đến Thiên di, và truyền thừa có thể đi theo bộ thân, bộ mệnh, bộ linh hồn, có thể nhận từ cha mẹ, gia đình, dòng tộc, tổ tiên, quê hương, đất nước).
– Đất đai thờ cúng, ví dụ đất có ban thờ gia tiên như nhà thờ tổ, nhà cha mẹ và đất đai nơi mình tự lập ban thờ
– Đất đai sử dụng
– – – Dạng thuê mượn
– – – Dạng chiếm dụng
– Đất đai cho thuê, cho mượn, bị chiếm dụng
– Đất đai quản lý và chịu quản lý
– Đất đai ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng
– Đất đai mà đi qua, ở tạm, hoặc lưu trú từ 1 đêm đến nhiều đêm, mà để lại và nhận về năng lượng/dấu ấn liên quan đến Thân và Mệnh.
Có những người ở một chỗ cả năm, nhiều năm, đó cũng là nơi sinh, nhưng chẳng hề tiếp đất, không biết đất có gì trọng yếu, có những người ngủ một đêm thôi đã mở ra rất nhiều nghiệp qủa cuộc đời, cho nên Thiên di và Điền trạch liên quan đến Thân Mệnh đang ở cấp độ nào. Cấp nàng Kiều có khác với cấp người thường chúng ta ? Với tử vi của Kiều, phải chọn nơi sinh là Bắc Kinh, hay Bắc Kinh – Nam Kinh, hay Trung Quốc, thậm chí là Việt Nam – Trung Quốc, hay cao hơn nữa là cả cụm Ấn Độ – Đông Nam Á – Trung Hoa ? Điều này liên quan đến việc chúng ta xác định mệnh của Kiều là gì và ảnh hưởng của Kiều rộng lớn đến đâu. Hãy nhớ rằng quan hệ mệnh của Kiều trong Đoạn trường Tân Thanh là “hại một người (chính mình, hại thân), cứu muôn người (mệnh)”.
DANH SÁCH CÁC NHÂN VẬT & ĐỊA ĐIỂM THEO THỨ TỰ XUẤT HIỆN TRONG TỪNG CHƯƠNG CỦA TRUYỆN KIỀU
Hồi 01: Gia cảnh họ Vương : Vương Ông/vợ, Thuý Kiều, Thuý Vân, Viên Quan – Bắc Kinh
Hồi 02: Kiều chơi tết thanh minh : Đạm Tiên, Kim Trọng
Hồi 03: Kiều mơ gặp Đạm Tiên : Hội Chủ
Hồi 04: Kiều thề nguyền với Kim Trọng :
Hồi 05: Kim Trọng về quê hộ tang : Liêu Dương (Liêu Ninh)
Hồi 06: Kiều bán mình chuộc cha :
Hồi 07: Kiều gửi duyên Thuý Vân :
Hồi 08: Kiều bị Mã Giám Sinh hại : Mã Giám Sinh
Hồi 09: Kiều rơi vào tay Tú Bà : Tú Bà – Lâm Chuy (Sơn Đông)
Hồi 10: Kiều mắc lừa Sở Khanh : Sở Khanh
Hồi 11: Kiều ở lầu xanh
Hồi 12: Kiều gặp Thúc Sinh
Hồi 13: Kiều kết duyên Thúc Sinh
Hồi 14: Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư : Hoạn Thư – Vô Tích (Giang Tô)
Hồi 15: Hoạn Thư ghen tuông lập kế : Thày đồng
Hồi 16: Kiều ở nhà họ Hoạn
Hồi 17: Kiều trốn khỏi nhà họ Hoạn : Giác Duyên, Bạc Hà, Bạc Hạnh – Châu Thai (Chiết Giang)
Hồi 18: Kiều gặp Từ Hải : Từ Hải – Hàng Châu (Chiết Giang)
Hồi 19: Kiều báo ân báo oán : Tam Hợp Đạo Cô
Hồi 20: Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến : Hồ Tôn Hiến – Tiền Đường (Chiết Giang)
Hồi 21: Kim Trọng tìm Kiều : Nam Bình (Phúc Kiến)
Hồi 22: Kim, Kiều tái hợp : Tiền Đường (Chiết Giang)
SƠ ĐỒ
Chia sẻ:
Scroll to Top