![]()
PHẬT THÀY
Đoàn Minh Huyên hay Đoàn Văn Huyên (1807 – 1856) được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An là người sáng lập giáo phái (Bửu Sơn Kỳ Hương) là tôn giáo bản địa đầu tiên ở An Giang, khởi nguồn cho nhiều tôn giáo và phong trào yêu nước chống thực dân xâm lược.
Đoàn Minh Huyên còn là một nhà yêu nước, nhà dinh điền đã có công khai hoang nhiều vùng đất ở Nam Bộ (Việt Nam), trực tiếp tác động đến các lãnh đạo kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ như. Nhiều người theo ông đã trở thành lãnh tụ kháng chiến. Tiêu biểu là Cố Quản Trần Văn Thành, một trong 12 đại đệ tử của Phật Thày Tây An, người tổ chức trại ruộng Láng Linh và lập chiến khu Bẩy Thưa đánh nhau với Pháp.
Ông được cho là đã hoá thân để trở thành tất cả các lãnh tụ tôn giáo và tâm linh lớn sau này của Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long)
– Phật Trùm (? – 1875) tên thật Tà Ponl, người Việt gốc Khmer, ở ấp Sàlon (Xà Lôn), xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông được tín đồ các giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo gọi tôn là Phật Trùm. Đền thờ ở nhà cũ của ông và mộ của ông đều ở núi Sàlon, ấp Sà lon, xã Lương Phi. Ông cũng được xem là lần chuyển kiếp thứ 2 của Phật Thầy Tây An.
– Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831 -1890, tên thật là Ngô Viện, tên khác Ngô Tự Lợi, được người trong đạo gọi tôn là Đức Bản Sư hay Ông Năm Thiếp, là Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa). Ông là lãnh tụ phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Ông bị Pháp truy đuổi gay gắt, và Pháp để tìm ông và để trừng phạt người theo ông đã gây ra nhiều cuộc thảm sát ở Thất Sơn. Chùa Tam Bửu hay chùa Tam Bảo ở chân núi Tượng (Thất Sơn), được xem như là Tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.
Nơi đây có mộ và đền thờ của đức Bổn Sư. Ông được xem là lần chuyển kiếp thứ 3 của Phật Thầy Tây An.
Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
– Sư Vãi Bán Khoai, năm xuất hiện 1901-1902. Ở Bến Tre có một ngôi đền và mộ của Sư Vãi Bán Khoai, tên thật là Huỳnh Phú Minh, pháp danh Sư Vãi Bán Khoai, sinh năm 1898, mất lúc 21 giờ đêm ngày mùng 10 tháng Hai năm Đinh Dậu (1957), hưởng dương 59 tuổi. Buổi đầu, an táng ông tại Cầu Móng (thuộc Bến Tre), sau cải táng về xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
– Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947) là người sáng lập đạo Phật giáo Hòa Hảo và đồng sáng lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng. Ông được các tín đồ gọi là “Đức Thầy”, “Đức Huỳnh Giáo chủ” hay “Đức Tôn Sư”. Ông biến mất, không rõ là bị giết bởi bên nào hay thực sự là ông muốn rút lui, nên không có mộ. Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc xã Phú Tân, tỉnh An Giang.
Phật giáo Hoà Hảo https://vi.wikipedia.org/…/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_H%C3…
Huỳnh Phú Sổ
Việt Nam Dân chủ xã hội Đảng
Thậm chí một số nguồn còn cho rằng ông Cử Đa, một người tu tiên đắc đạo tại Thất Sơn và Tà Lơn cũng là chuyển kiếp của Phật Thày Tây An.
Trong các chuyển kiếp trên,
– Tất cả đều tu theo Phật
– Hai người sáng lập giáo phái riêng dựa trên đạo Phật là Ngô Lợi (Tứ Ân Hiếu Nghĩa) và Huỳnh Phú Sổ (Phật giáo Hoà hảo). Hai người này cũng trực tiếp tổ chức các hoạt động quân sự chống Pháp (Phật Thày Tây An không trực tếp tham gia các hành động quân sự chống Pháp này mà đại đệ tử của thày trực tiếp làm việc này)
– Hai người thiên về tu tiên là Phật Trùm, Sư Vãi Bán Khoai, đặc biệt Cử Đa chỉ tu tiên, không xưng Phật hay Sư
Như vậy chỉ có các vị khai sáng đạo Cao Đài, một đạo có tiếng và nhiều Phật Tử trong Nam là không trực tiếp liên quan đến Phật Thày Tây An, tuy nhiên Cao Đài và Bửu Sơn Kỳ Hương có nhiều điểm chung
– Đều là đạo Cứu người, nói về Thượng, Trung, Hạ ngươn, là những điều được Phật Thày Tây An giảng
– Đưa Tứ ân vào giáo lý
– Nhiều đệ tử Bửu Sơn Kỳ Hương sau này tham gia vào Cao Đài khi đạo này mới thành lập, hoặc trong gia đình của một số người đệ tử đạo Cao Đài thế hệ trước đã từng xin
– Giáo chủ phái Chiếu Minh (phái nội tu, có tu thiền, huyền thuật và nhận truyền thừa) của đạo Cao Đài, Ngô Minh Chiêu chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật Thày Tây An, đã từng tu ở Thất Sơn và Tà Lơn.
– Đều là đạo tổng hợp, bên Phật Thày Tây An là kết hợp đạo Phật, đạo tu tiên và đạo thờ cúng tổ tiên, biểu đạt nhiều nhất dưới hình thức đạo Phật, Bên Cao Đài thì tổng hợp nhiều tôn giáo, có nói về chúa hơn là Phật. Phật Thày Tây An thiên về âm, Cao Đài rất nặng về hình cho nên thờ con mắt.
ĐOÀN MINH HUYÊN
Đoàn Minh Huyên là người ở vùng Cái Tàu Thượng, thuộc làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh, huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang; đến thời Pháp thuộc đổi thành làng Tòng Sơn và sau đó là làng Mỹ An Hưng thuộc tổng An Thạnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc xã Mỹ An Hưng, tỉnh Đồng Tháp).
Năm Kỷ Dậu 1849, ở Nam Kỳ, xảy ra vụ mất mùa và đại dịch (kéo dài đến 1850), đã làm nhân dân lâm vào cảnh cùng cực, khổ đau và chết chóc. Đại dịch lệ khí (khí độc) xảy ra vào năm Tự Đức thứ 2 (tức năm 1849), nước ta lúc đó có khoảng 8 triệu dân, và đại dịch đã làm chết 589.460 người (hơn nửa triệu người).
Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Trà Bư (nay thuộc ấp An Thái, thị trấn Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), rồi đến vùng Kiến Thạnh (xưa thuộc làng Long Kiến; nay thuộc xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), cư ngụ ở cốc ông đạo Kiến, trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ nghe theo những điều dạy khuyên của ông.
Thấy người tin theo ngày một đông, nên ngay năm ấy (1849), ông đã sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, với tôn chỉ và phương pháp hành đạo rất đơn giản.
Nghe ông chữa bệnh bằng nước cúng (nước lã), bông cúng,…đồng thời rao giảng đạo, quan tỉnh An Giang nghi ngờ ông là gian đạo sĩ, hoạt động chính trị nên bắt giam, nhưng xét không có bằng chứng phải thả tự do cho ông. Song ông buộc phải quy y theo đạo phật (phái Lâm Tế) và tu tại chùa Tây An, dưới chân núi Sam (Châu Đốc). Từ đó, ông được người dân tin tưởng gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An.
Mặc dù bị chỉ định cư trú, song ông vẫn thường đi lại khắp miền sông Hậu, phổ biến giáo lý Tứ Ân, đồng thời vận động dân nghèo khai hoang, dần hình thành 4 trung tâm dinh điền lớn, đó là Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp), Thới Sơn (Tịnh Biên), Láng Linh và Cái Dầu (đều thuộc Châu Phú)…
Phật Thầy Tây An viên tịch ngày 10 tháng 9 năm 1856, lúc 49 tuổi. Hiện mộ ông ở phía sau chùa Tây An (Châu Đốc), không đấp nấm theo lời căn dặn của ông.
Ông có nhiều đệ tử giỏi, như Đức Cố Quản (Trần Văn Thành), Tăng Chủ (Bùi Đình Thân), Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), Đạo Lập (Phạm Thái Chung), Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng),v.v…
BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (còn được gọi là đạo Lành).
Theo truyền thuyết của giáo phái này, thì Bửu Sơn (núi báu) là Thất Sơn, mà linh thiêng nhất là núi Cấm. Kỳ hương tức là mùi hương lạ.
Hội Long Hoa sau thời Mạt pháp sẽ được thành lập ở đó để đón nhận những ai biết tu hiền. Trước thực trạng nghèo đói và bệnh tật triền miên, nghe nói hội Long Hoa, giống như cõi Tiên tại thế, mà việc hành đạo lại rất dễ, nên người tin theo ngày càng đông. Nhà văn Sơn Nam viết : Có thể nói Phật Thầy Tây An là người thứ nhất báo hiệu và đánh thức người đời rằng thời kỳ Hạ nguơn sắp mãn để bước sang thời Thượng nguơn tức là thời kỳ Đức Di-lặc hạ sanh lập nên hội Long Hoa.
Đơn giản hóa đạo Phật
Người đến quy y sẽ được Đức Phật Thầy Tây An cấp cho một tấm “lòng phái” (mảnh giấy màu vàng có ghi bốn chữ “Bửu Sơn kỳ Hương” màu son), được truyền dạy giáo lý “học Phật-tu nhân”, tức là noi theo giáo lý Đức Phật mà tu sửa con người, tích cực thực hành thuyết “Tứ ân”, đó là: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo và Ân đồng bào nhân loại. Về việc hành đạo, tuy lấy đạo Phật làm gốc, nhưng tín đồ đạo này không cần thờ tượng Phật (trên ngôi thờ Tam bảo chỉ cần thờ tấm trần điều màu đỏ), không cần phải ly gia cắt ái, không cần ăn chay, cạo râu tóc, gõ mõ tụng kinh,…và không cần phải dâng cúng những lễ vật tốn kém (bông hoa, nước lã là đủ) những tư tưởng và đặc điểm này khá tương đồng với đạo Phật Giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật Giáo Hoà Hảo. Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Sơn Nam cho rằng đây là lối tu theo thuyết “vô vi”, tức là không chú trọng đến hình thức, không dụng tâm bày đặt ra cái này cái khác.
Đề cao Tứ ân
Ngoài việc tuân theo thuyết vô vi và pháp môn học Phật-tu nhân, Đức Phật Thầy Tây An còn đề cao Tứ ân (bốn ơn) là ơn tổ tiên, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại. Đây là bốn ân lớn mà mọi tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương phải hết lòng kính thờ và phụng sự. Có thể xem đây là nét tinh túy của đạo, bởi yếu lý này rất phù hợp với bản sắc của dân tộc Việt. Chính vì vậy, khi quân Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, các tín đồ đã báo “ân đất nước” bằng cách đứng lên chống ngoại xâm, mà cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867-1873) do Trần Văn Thành (một trong số đại đệ tử của Phật Thầy Tây An) phát động, là một minh chứng.
Cổ vũ khẩn hoang
Đức Phật Thầy Tây An rất xem trọng việc khẩn hoang, làm rẫy ruộng để người hành đạo có thể tự túc được lương thực, không phải nhờ vào người khác để mà tu. Nhờ vậy đã dấy lên được một phong trào khai hoang rộng khắp miền Tây Nam Bộ lúc bấy giờ. Theo sách Lịch sử địa phương An Giang, thì năm 1851, Đức Phật Thầy Tây An đã phân công các đệ tử là Trần Văn Thành, Tăng Chủ (Bùi Đình Thân), Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến),… thành lập nhiều đoàn tín đồ đi khẩn hoang những miền đất hoang vu, lập nên những trại ruộng, như ở Cần Lố (Đồng Tháp Mười), Láng Linh (Châu Phú), Thới Sơn (Tịnh Biên),… Nhờ đức tin mà những tín đồ đã bám trụ và khẩn hoang, biến những vùng đầm lầy, rừng rậm thành những vùng đất rộng lớn, màu mỡ. Sau này, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng sâu sắc các yếu lý trên.
Sám giảng (trích)
Tương truyền, Đức Phật Thầy Tây An thường căn dặn các tín đồ và người đến chữa bệnh bằng những câu như sau:
Dặn cùng già trẻ gái trai,
Giữ lòng niệm Phật lâu dài đừng quên.
Thảo ngay nhơn nghĩa cho bền,
Thờ cha kính mẹ, tưởng trên Phật Trời.
Nói cho lớn nhỏ ghi lời,
Nhứt tâm niệm Phật, Phật Trời độ cho.
Ai trau công quả cho dày,
Đất bùn có thuở mọc rày hoa sen.
Màu thiền đắc ý cùng màu,
Còn hơn chen chúc công hầu vương khanh.
Tây Phương trước mặt chẳng còn bao xa
Cách nhau vì bởi ái hà biển mê
Dốc lòng niệm chữ từ bi,
Lấy đao trí huệ cắt đi cho rồi…
THẤT SƠN HUYỀN BÍ
Bửu Sơn Kỳ Hương phát sinh trên vùng đất Thất Sơn, các tôn giáo và phong trào liên quan sau này cũng phát sinh trên vùng đất đầu nguồn sông Hậu ở nước ta này
Thất Sơn liên quan đến một ngọn núi thiêng tại Campuchia là Tà Lơn (Bokor). Các vị tu tại Thất Sơn cũng đều có tu tại Tà Lơn. Dân gian có câu
Cử Đa là Tiên,
Đoàn Minh Huyên là Phật,
Huỳnh Phú Sổ là Thánh
Nguyễn Trung Trực là Thần.
PHẬT THÀY TÂY AN : MƯỜI HAI ĐẠI ĐỆ TỬ
Phật Thầy Tây An có mười hai Đại Đệ tử, cũng gọi là Thập nhị hiền thủ. Trong số này hai vị nổi tiếng hơn hết là Cố Quản Trần Văn Thành và Ông Ba Nguyễn Văn Thới.
Cố Quản Trần Văn Thành nổi bật do công nghiệp tổ chức trại ruộng Láng Linh và lập chiến khu Bẩy Thưa đánh nhau với Pháp. Ông Ba Nguyễn Văn Thới nổi tiếng vì đã viết cuốn Kim Cổ Kỳ Quan để giải thích và khai triển giáo lý và các điều tiên tri của Bửu Sơn Kỳ Hương trong quần chúng.
Đứng đầu hàng Đại Đệ tử là ông Trần Văn Thành, được gọi là ông Đạo Lành về mặt tôn giáo, và Cố quản Thành về mặt tranh đấu chống Pháp.
Ông Trần Văn Thành tức Cố Quản, tức Đạo Lành… 1873
Ông Tăng chủ bộ Bùi (không rõ tên)… 1907
Ông Bùi Văn Tây tức Đình Tây, 1802-1890
Ông Nguyễn Văn Xuyến tức Đạo Xuyến, 1834-1914
Ông Đặng Văn Ngoạn tức Đạo Ngoạn, 1820-1890
Ông Phạm Thái Chung tức Đạo Lập… 1877
Ông Đạo Lãnh (không rõ tên) biệt tích 1856
Ông Trần Văn Nhu tức Cậu Hai Nhu, 1847-1914.
Ông Nguyễn Văn Thới tức Ba Thới, 1866-1927.
Ngoài ra còn các vị Đạo Lập, Đạo Sang, Đạo Thạch, Đạo Sĩ, Đạo Thắng, Đạo Chợ, Đạo Đọt… nhưng không có tài liệu về các vị này, mà chỉ nhận theo lời đồn lại trong dân gian.
Danh sách trên đây gồm 9 vị. Tục truyền trong dân gian, Phật Thầy Tây An có thập nhị hiền thủ. Có thể vị còn lại là ông Đạo Sang ở Cái Dầu Châu Đốc, và ông Đạo Thạch ở Thạnh Mỹ Châu Đốc, ông Đạo Lãnh ở Gò Sát.
CỐ QUẢN TRẦN VĂN THÀNH
Ông làm chức Chánh Quản Cơ dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Không có tài liệu nào ghi chép ngày sanh, chỉ được biết ông từ trần năm 1873. Quê quán tại Cồn Nhỏ làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương tỉnh Châu Đốc, ông là con một gia đình khá giả có điền sản, lớn lên đi học chữ Nho, và luyện tập võ nghệ. Tướng mạo khôi ngô cao lớn, ông thường mặc áo mầu dà, đầu chít khăn xước bằng nhiễu điều.
Khi nghe tin đồn rằng Phật Thầy Tây An giáng lâm độ bịnh cứu dân và giảng đạo, ông tìm về Xẻo Môn, làng Long Kiến, tỉnh Long Xuyên, để xem xét hư thực ra sao. Gặp lúc bịnh nhân đông đảo, ông phải chờ suốt ba ngày ở ngoài sân, rồi đức Phật Thầy kêu vào hỏi chào và chuyện vãn thân mật. Sau đó ông xin quy y theo Bửu Sơn Kỳ Hương. Cả gia đình ông sau đó cũng quy y luôn.
Khi Phật Thầy bị cưỡng bách định cư tại chùa Tây An núi Sam, ông thu xếp việc nhà giao hết ruộng vườn cho người trong thân tộc, rồi bỏ làng ra đi theo đường đạo hạnh với Phật Thầy.
Ông tổ chức và lãnh đạo trại ruộng Bửu Hương Các tại Láng Linh (tỉnh Châu Đốc) theo công thức vừa tu hành vừa sản xuất nông nghiệp của Bửu Sơn Kỳ Hương.
Sau khi Phật Thầy viên tịch (1856) ông Trần Văn Thành được tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương rất tin tưởng và tuân thủ các mạng lịnh của ông.
Khi Pháp cưỡng chiếm ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây, ông được chứng kiến cảnh uy hiếp của Thủy sư Đô đốc De Lagrandière và Doudart de Lagrée đem tầu chiến và đại bác đến hăm dọa bắn vào thành Châu Đốc, để đòi phải giao nạp Thủ khoa Huân, gieo rắc sự kinh hãi và phẫn uất trong dân chúng. Đã thấm nhuần giáo lý Tứ Ân, lại bực tức nung nấu trước cảnh bị ngoại chủng uy hiếp, ông bí mật chiêu mộ nghĩa quân trong vùng, tổ chức kháng chiến. Đồng thời liên lạc với các vị lãnh tụ kháng Pháp khác, ông chuẩn bị cho tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tinh thần sẵn sàng hy sinh vì đất nước. Đến lúc tình hình trở nên khó khăn, các lãnh tụ Cần Vương kẻ bị bắt người bị giết, ông rút về lập căn cứ tại Bảy Thưa giữa Long Xuyên và Châu Đốc, để cố thủ đợi thời. Nhưng chẳng bao lâu, quân Pháp dò biết, nên kéo quân đến vây đánh. Trận này, quân của Cố Quản đại bại.
Từ trận này trở đi, ông biệt tích. Có người nói ông đã từ trần, nhưng điều này không thấy ghi trong tài liệu, cả phía Pháp cũng không có tài liệu xác định nào.
ÔNG BA THỚI
Trong hệ thống Đại Đệ tử Phật Thầy Tây An, ông Nguyễn Văn Thới là người sau cùng và cũng là một nhân vật đặc biệt, do công trình sáng tác phong phú của ông. Đó là bộ Kim Cổ Kỳ Quan mà dân chúng vùng Hậu Giang rất truyền tụng.
Nguyên danh là Nguyễn Văn Thới, tức ông Ba Thới, sanh năm 1866 (Bính Dần) đời Tự Đức 19, tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (sau này Cao Lãnh trở thành tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong). Tác người ông cao lớn, đặc biệt có chòm râu bạc dài tới rún.
Ông tự phát đạo tâm, mùa đông năm 1906 từ bỏ gia đình đi thẳng lên núi Sam, vào trại ruộng Thới Sơn tìm cậu hai Trần Văn Nhu để học đạo. Cậu hai Nhu là con cố Quản Trần Văn Thành, một Đại Đệ tử của Phật Thầy. Rồi ông dời cả gia đình về trại ruộng Bửu Hương Tự, vừa làm ruộng vừa hành đạo.
Năm 1913, nhà cầm quyền Pháp bao vây trại ruộng, đốt phá tan tành. Cậu Hai Nhu và người trong trại bị xiêu tán đi. Ông Ba Thới phải dời gia đình về xã Kiến An tại doi lộ lở, thuộc Cù Lao Ông Chưởng tỉnh Long Xuyên. Tình Thầy nợ Nước miên man bao nỗi cảm hoài, ông ký thác lòng mình vào bộ sách Kim Cổ Kỳ Quan, gồm chín cuốn, cũng gọi chín bổn: Vân Tiên, Thiên Tứ, Cổ Vãng Kim Ca, Ngồi Buồn, Kiểng Tiên, Kim Cổ Kỳ Quan, Cáo Thị, Tứ Đại và Thừa Nhàn, toàn văn vần, tuy văn chương bình dân mộc mạc, có khi bí hiểm tiên tri, nhưng chứa đựng mối cảm hoài tha thiết tình Thầy nợ Nước, ưu đời ái đạo trong một hoàn cảnh xã hội bi đát, quốc phá gia vong, mà Phật Thầy đã nói trước về những khổ cảnh tai nạn đang chờ đợi chúng sanh trong những thời kỳ sắp tới.
Kim Cổ Kỳ Quan được xem là một tác phẩm giảng đạo, chú giải và khai triển giáo lý và những điều tiên tri trong kinh sách Bửu Sơn Kỳ Hương. Đây cũng là tác phẩm ra đời sau cùng, trước khi dòng Tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương chuyển sang giai đoạn mới, gọi là giai đoạn Phật Giáo Hòa Hảo, cũng là thời kỳ phát triển sâu mạnh và toàn diện của Tông phái này.
ĐÌNH TÂY
Đình Tây tên Bùi Văn Tây (1826 – 1914) là một trong những cao đồ của Phật Thầy Tây An (gọi tắt là Phật Thầy), là một trong số ít người có công khai phá sơn lâm, lập nên hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (sau này hợp thành phường Thới Sơn, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang), và là người gắn liền với truyền thuyết về một con sấu năm chân có tên Ông Năm Chèo.
Hiện nay người đến viếng đình Thái Sơn, nơi ông hành đạo (nay thuộc xã Thái Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang), sẽ thấy phía trước đình có một ao nước rộng chứa nước sinh hoạt cho cả vùng. Chính tại ao này khi xưa là nơi Đình Tây lén thả nuôi con sấu dữ.
Cách đình khoảng vài trăm mét là mộ ông bà Đình Tây (mộ không đấp nấm).
Tục truyền, một hôm Đức Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) sai ông Đình Tây xuống vùng Láng Linh (nay thuộc huyện Châu Thành và huyện Châu Phú, An Giang), giúp đỡ đẻ cho một sản phụ vì người chồng tên Xinh, đi bắt rùa rắn chưa về. Khi người chồng về, biết ông Đình giúp đỡ gia đình mình như vậy, bèn tặng ông một con sấu nhỏ rất kỳ lạ. Con sấu có năm chân, mũi đỏ, da láng chứ không sần sùi như sấu thường.
Khi ông Đình Tây mang con sấu về, Phật Thầy xem qua, bảo là con “nghiệt súc” nên trừ đi, nhưng vì thương con sấu, ông bèn giấu thầy, đem về trại ruộng Xuân Sơn xích chân nó lại và nuôi. Được ba năm, con sấu trở nên to lớn, và sau một đêm mưa to gió lớn, con sấu bò đi mất. Khi Đình Tây lại trại ruộng thì mới biết nó cắn đứt chân bị xích để trốn.
Quá lo buồn vì không biết hậu họa như thế nào, ông Đình Tây bèn thưa chuyện với Phật Thầy. Phật Thầy bèn cho người rèn một lưỡi câu, một lưỡi mun và hai cây lao có lưỡi nhọn dài chừng năm tấc…rồi giao bốn vật bằng sắt này và một sợi dây tơ cho Đình Tây cất giữ, phòng con “nghiệt súc” xuất hiện gieo tại họa cho dân lành.
Sau khi Phật Thầy đã viên tịch, GS. Trinh Vân Thanh kể: Lần ấy, gặp lúc mùa nước lên, “Ông Năm Chèo” (tức con sấu 5 chân) trườn lên vùng Láng Linh phá xóm phá làng. Khi gặp Ông Năm Chèo, người dân hay hô to: “Bớ Ông Năm Chèo, ông Đình (tức Đình Tây) tới” thì lập tức sấu trốn mất tăm. Sau này, sấu lại liên tiếp lên bờ giết hại người dân, người ta liền đi mời ông Đình Tây đến, thì sấu năm chân lại nhanh chóng biến mất. Rồi kịp khi ông ra về, thì ít ngày sau nó lại xuất hiện. Ba lần “cút bắt” như vậy, ông nguyện rằng: Nếu phần số mi phải lọt vào tay ta hôm nay thì mi cũng nên tuân theo số Trời, để cho ta làm tròn phận sự mà Đức Phật Thầy đã giao phó; còn như mi chưa tới số, thì mi cũng đừng nên trở lại phá khuấy dân chúng nữa.
Từ đó về sau “Ông Năm Chèo” không còn xuất hiện. Tuy vậy, ở vùng sông nước Vàm Nao, Láng Linh…những dân thương hồ và dân chài lưới thời bấy giờ đều ngán sợ có ngày “ông” sẽ trở lại, nhận chìm xuồng ghe rồi hãm hại người…
Tương truyền khi quân Pháp càn bố binh Gia Nghị của Đức Cố Quản (Trần Văn Thành) tại vùng Bảy Thưa, vì yếu thế nghĩa quân phải rút lui. Khi ấy nhằm mùa nước nổi, quân Pháp sau lưng bắn phá rất gấp mà trước mặt thì đế sậy dày đặc, ghe xuồng chống đi không được. Lúc ấy “Ông Năm Chèo” bỗng nổi lên, rẽ đường giúp cho xuồng ghe theo đó mà trốn thoát…
Bộ dụng cụ của ông Đình Tây hiện đang được lưu giữ mà theo truyền thuyết, khi Ông Năm Chèo trở mình, chỉ người nào đức hạnh, đạo cao mới có thể dùng chúng để bắt Ông Năm Chèo.
NGUYỄN VĂN XUYẾN
Ông Nguyễn-văn-Xuyến sanh năm Giáp-Ngọ (1834), nhằm đời Minh-Mạng thứ 15. Bởi ông được liệt vào hàng đại đệ-tử của Đức Phật-Thầy Tây-An, cho nên người đời quen gọi là ông Đạo Xuyến.
Tường ông trung người, mặt thỏn tóc thường cạo vanh chung quanh rồi búi ở giữa, nên ông luôn luôn bịt một chiếc khăn chín-chỉ phủ kín từ đầu xuống chí mép tai ông thường mặc đồ vải dà, thỉnh-thoảng cũng có đi giày hàm-ếch đen. Thích hút thuốc điếu, và mỗi khi có tân-khách vui-vầy. Ông cũng có dùng một đôi nhắm rượu.
Ông có hai đời vợ. Vợ trước ở Cái-Vừng (Phú-Thuận, Châu-Đốc) là bà Phạm-Thị, sanh được sáu người con: Nguyễn-thị-Đinh, Nguyễn-văn-Tồn, Nguyễn-văn-Giáp, Nguyễn-thị-Nhàn- Nguyễn-thị-Nhựt và Nguyễn-văn-Tờn.
Khi vợ trước mất, ông cưới bà vợ sau tên là Thị-Khoảnh, ở làng Bình-Long (Châu-Đốc) chỉ sanh được có một gái là Nguyễn-thị-Nhờ. Hiện nay miêu- duệ của ông còn thấy có một người cháu ngoại là Nguyễn-văn-Điệu (con của bà hại Đinh), ở chùa Châu-Long-Thới (Bình-Long), năm nay 72 tuổi.
Quê ông ở Ba-Giác (Quận Mỏ-Cảy, tỉnh Bến-Tre). Vì bồ-côi cha từ khi còn nhỏ cho nên ông và người em là Nguyễn-văn-Thới (1) phải nhờ sự làm-lụng hết sức vất-vả của mẹ mới nuôi được đến lớn khôn. Ông có học chữ nho và lúc đến cất chùa ở Bình-Long, người ta thấy ông biết làm thuốc Bắc.
Năm 1817, nhân có vụ tàu Pháp bắn phá cửa Đà-Nẳng, triều-đình lo sợ, chuẩn-bị quân-sĩ để chống lại. Lúc ấy ở các tỉnh phía Đông Nam-Kỳ, dân tráng cũng bị buộc nhập ngũ tòng quân để phòng-ngự thành Gia-Định, làm cho dân-chúng xôn-xao, nhiều người ở miệt Định-Tường và Bến-Tre cũng mà bỏ nhà dời đi xứ khác.
Thân mẫu của ông thấy vậy rất lo sợ sẽ có sự loạn-lạc xảy ra, hơn nữa, tuổi ông lúc bấy giờ cũng được lối mười ba mười bốn, thì không còn mấy năm nữa sẽ phải tòng quân, cho nên bà rời bỏ Ba-Giác, đem con thẳng lên Trà-Đư (Quận Hồng-Ngự, tỉnh Châu-Đốc) là quê-quán của Bà mà tá-túc với một người em ruột. Nơi đây, ông theo người cậu để làm ăn, kiếm tiền độ-nhựt.
Có một hôm ông cùng với cậu bơi xuồng đi đồng. Chẳng rõ ông làm phật ý người cậu thế nào mà ông bị cậu đánh và đuổi lên bờ. Không trở về nhà, ông quá-giang thuyển của một người khách thương, đỗ ra vàm Hồng-Ngự rồi thẳng xuống Đốc-Vàng Hạ (thuộc làng Tân-Phú, tỉnh Long-Xuyên), vào làm con nuôi cho một bà già kia, không con cái.
Ở đây một thời-gian, gặp mùa lúa chín, ông đi coi chim gần chùa Đốc-Vàng Hạ. Nhân thường tới nghỉ trưa trong chùa, nên vị Hòa-Thượng ở chùa nầy được dịp thấy ông diện mạo khôi-ngô, và hỏi thăm lai-lịch. Sau khi biết rõ, vị Hòa-Thượng thân hành đến xin với bà già nuôi ông, cho ông được về ở chùa. Từ đây, ông bắt đầu tu-niệm và học-hành kinh luật của nhà thiền. Bởi ông tánh tình hiền-hậu lễ-phép, nên được vị Hòa-Thượng rất thương yêu tín cậy.
Qua một thời-gian lối hai năm thì vị Hòa-Thượng chùa Đốc-Vàng Hạ tịch. Trước khi tịch, vị Hòa-Thượng kêu ông đến mà bảo: Thầy sắp lên giàn hỏa mà diệt-độ, vậy trong đống tro tàn ấy, Thầy để lại cho con một lóng tay cái, con khá lấy mà làm phép hộ thân.
Quả thật, khi vị Hòa-Thượng ấy thiêu mình xong, ông vào tìm được lóng tay như lời dặn. ông bèn may đãy mà đeo luôn vào mình, rồi từ ấy bắt đầu vân-du lên vùng Thất-Sơn, luyện phép và tầm sư học đạo thêm; nhân thế, ông mới có dịp quy-y với Đức Phật-Thầy.
Năm Canh-tuất (1850), sau khi lặn-lội lên vùng Thất-Sơn, ông trở về núi sam, quy-y với Đức Phật-Thầy, lúc ấy ông vừa đúng 17 tuổi. Khác hơn các vị đại đệ-tử khác của Đức Phật-Thầy. ông không có ở trại ruộng nào và cũng không ở thường trực tại chùa Tây-An núi Sam, ông được Đức Phật-Thầy dạy đóng một chiếc xuồng nhỏ rồi chạy buồm mà đi, mỗi khi thuyền đến đâu hết gió là ghé vào truyền đạo. Do đó mà từ miệt Bà-Rịa trở xuống miền dưới, đâu đâu cũng có vết chân của ông.
Theo lời thuật của ông Nguyễn-văn-Điệu thì trong lúc giáo đạo ở miền dưới, một hôm, nhân trời tối, ông ghé vào nhà nọ để nghỉ nhờ một đêm. Người trong nhà sai khi niềm-nỡ hỏi chào xong, bỗng quỳ phục xuống đất lạy ông rồi thú nhận rằng mình không phải là chủ nhà, mà thật ra là ma quỉ, vì phá-phách lộng hành quá nên chủ nhà không ở được, phải bỏ mà đi, nay thấy ông đến, xem rõ là bậc cái thế siêu-phàm nên đồng xin quy-phục. ông lấy lời đạo-đức vỗ-về và bảo bọn yêu quái ấy từ nay nên quày đầi tu-niệm, không được phá rối người đời nữa. Bọn quỷ ấy râm-rấp vâng lời.
Sáng ra, ông kiếm người để nhắn cho chủ nhà hay mà trở về, song chủ nhà không tin, sợ lầm mưu yêu quái. Túng thế, ông phải tìm đến tận mặt họ để nói rõ đầu đuôi rồi dẫn trờ về nhà.
Muốn cho được chắc-chắn từ nay yêu quái không còn có nữa, chủ nhà yêu-cầu ông ếm đối cúng-kiếng và lưu lại đó ít lâu làm tin. Ông bèn cho dọn lể vật ra làm tiệc khao, rồi kêu lên mà bảo: Nếu bọn yêu quái chúng bây bằng lòng đi khỏi nhà này thì hãy nhậm lễ làm tin thử nào !
Ông nói vừa dứt tiếng, tất cả đũa trên bàn đều rung động và gom vào chén, tỏ ý vâng lời. Từ ấy nhà nầy êm tịnh và dân làng theo về tu-niệm rất đông.
Cứ như thế, ông đem pháp-thuật để cứu đời và giáo đạo, lâu lâu lại trở về núi Sam để thăm viếng và học hỏi thêm với Đức Phật-Thầy, rồi lên Thất-Sơn để luyện thêm bí-pháp.
Theo lời nhiều bậc phụ-lão kể lại thì ông thường dùng cây dâu đẽo thành nhiều hình nhơn nho-nhỏ rồi để và ruột ngựa, mang lên núi để luyện phép. Đến nơi, ông vùi những hình nhơn ấy xuống đất, đoạn ngồi luyện, mãi đến khi được thiêng, những hình ấy tự mình dưới đất chui lên, đi chạy trên mặt đất ông mới thôi. Trong lúc ngồi luyện, nhiều khi có rắn rít cọp beo đến gầm thét bao vây, nhưng ông vẫn điềm nhiên không hề ghê sợ.
Ngoài những việc huyền-diệu kể trên, ông còn có nhiều phép lạ như đi trên cầu bằng sậy ngang mương mà không gãy, bắt hổ báo để cỡi đi trong núi làm vật đỡ chơn mà hổ phải cúi đầu v.v… không thể kể hết.
Thấy ông đi đây đó và lên non luyện phép mãi, Đức Phật-Thầy một lần nọ bảo ông: Ông muốn tu thành Phật không được đâu. Hãy lo cho quốc-vương thủy thổ đã !
Lĩnh-hội được ý của Thầy, ông đến Cái-Vừng cưới em ruột của ông Phạm-văn-Công – là người có quen thân từ hồi đi truyền đạo ở Bà-Rịa – về làm vợ, và về sau, ông theo chỗ đã chỉ của Đức Phật-Thầy mà dựng lên tại làng Bình-Long một ngôi chùa để mở cơ hóa-độ quần sinh (1). Tại đây, bịnh nhơn đến rất nhiều, làm cho ông có dịp giúp đời và phổ truyền cái tư-tưởng học Phật tu nhân mà Đức Phật-Thầy vẫn luôn luôn nhắc-nhở.
Ông tuy dựng chùa Châu-Long-Thới nhưng thường lên xuống và ở chùa Đốc-Vàng H ạ nhiều hơn. Vì theo ông, nơi đây là dấu cũ. Bởi vậy khi ông tịch rồi, bà vợ sau của ông – Thị-Khoảnh – vẫn còn giữ-gìn ngôi chùa nơi Đốc-Vàng Hạ cho đến khi bà mất.
Ông cứu binh giúp đời đến năm 81 tuổi thì tịch. Trước khi tịch, có cô gái thứ hai (Nguyễn thị Đinh) và người rễ đến thăm, ông vui-vẻ nói: May-mắn quá ! các con hôm nay đến đây là một dịp để cho Thầy được thấy mặt !
Thế rồi chiều lại, ông cùng ăn thịt heo rừng và vui-vẻ trò chuyện với các con trong nhà Cả Tồn (con thứ ba của ông) ở cạnh chùa Châu-Long Thới (lúc đó ông vẫn còn mạnh-khỏe như thường). Đến khuya, ông phát lên khò-khè rồi nằm êm cho đến 5 giờ sáng (3) thì tịch. Hôm ấy nhằm ngày mùng 4 tháng 8 năm Giáp-Dần (1914). Các đệ-tử hay tin đều đau-đớn vô cùng, thương tiếc như mất cha, mất mẹ.
Mộ-phần của ông hiện giờ còn thấy tại sau chùa Châu-Long-Thới, đất đã sủng xuống, không có dựng bia. Vì trước kia đã theo lời dặn của ông mộ để bằng chứ không có đắp nấm.
Ngày nay, chùa Châu-Long-Thới là một di-tích của ông. Trong chùa có ba tượng cốt bằng đá, do chính tay ông hồi xưa đã thỉnh được trên vùng Thất-Sơn đem về thờ. Nghi-thức thờ phượng thì đúng y chân-giáo của Đức Phật-Thầy. Có một điều là khách thập phương sang đây, nếu xem kỹ, sẽ lấy làm lạ về họ của ông. Vì trong chùa có hai linh-vị, một tấm lớn để: Quy-y Phật Tam-Bửu đạo nhơn Nguyễn-văn-Xuyến linh-vị. Và một tấm nhỏ, thờ chung với Đức Cố-Quản, đề: Kỉnh thành Ông Đạo Trần-văn-Xuyến an tại. Trần và Nguyễn, họ nào mới thật là họ của ông ? Hỏi ra tường tận thì ông thật là họ Nguyễn, còn họ Trần là họ mà người sau đã theo lòng phái của ông để viết ra đó thôi.
ÔNG ĐẠO NGOẠN (1820-1890).
Ông Đạo Ngoạn nguyên danh là Đặng-Văn-Ngoạn, sanh năm Canh-thìn (1802) nhằm Minh-Mạng nguyên niên. Theo quyển « Đạo-Ông giảng-tập » bằng văn nôm, chép theo thể thượng-lục hạ-bát, lời lẽ thận-trọng đáng tin cậy nhưng không rõ tác-giả là ai, thì ông Ngoạn là một trong « thập-nhị hiền-thủ » của Đức Phật-Thầy Tây-An ngày xưa. Chính thế mà thời nhân quen gọi ông là ông Đạo-Ngoạn.
Sinh quán ông tại làng Nhị-Mỹ, tổng Phong-Thạnh, quận cao-Lãnh, tỉnh Định-Tường (nay là tỉnh Kiến-Phong). Trong lòng sông Cần-Lố, thuộc xẻo rạch Trà-Bông (Đồng Tháp-Mười).
Ông có ba đời vợ. Vợ đầu tiên tên Thị-Nhị, vợ giữa là Thị-Thu, vợ sau tên Nguyễn-Thị-Huê (?). Vợ đầu bà vợ giữa không con. Vợ sau tức là Thị-Huê, ở với ông chỉ sanh được một trai là Đặng-Công-Hứa. Hiện nay Công-Hứa còn sống, tuổi thọ được 76, nối chí cha và đang trụ-trì tại chùa Trà-Bông.
Năm ngoài 20 tuổi, ông Ngoạn còn một mẹ già, một người anh và một em gái. Sau khi đã cần-mẫn làm ăn lập được một khoảnh ruộng vườn khả-dĩ nuôi sống đủ gia-đình, ông xin phép mẹ cho thong-thả tìm nơi dưỡng tính tu tâm, vì ông cảm thấy « lòng bồ-đề của mình đã bắt đầu nảy-nở ». Mẹ ông thuận cho. Ông liền vào rạch ông-Bường, lựa một nơi thanh vắng để tịnh-niệm.
Trong thân-tộc của ông có người ghét bỏ đến cáo với làng rằng ông ngầm mưu làm chuyện bất lương chứ không phải thực tâm tu-tỉnh. Làng bắt ông ra nhà việc Cây-Me (bây giờ là Doi-Me) để tra hỏi. Anh ông là Bổn Chính hay tin phẩn-nộ không cùng, Chính đến nhà làng Phản-đối rồi cũng bị bắt luôn.
Bấy giờ có người bà con với ông có thế-lực, đang làm chức Quản-Khám tại Mỹ-Trà (Cao-Lãnh) đến can-thiệp nên hai anh em ông được tha. Từ đó ông Ngoạn buồn lòng, lập chí về non tu-tỉnh để tránh cuộc đời dua-mị đê hèn của thế-nhân chen-lấn.
Tháng chạp năm canh-Tuất (1850) khi biết tin Đức Phật-Thầy Tây-An được phép nhà cầm-quyền tỉnh An-Giang cho vào núi Sam truyền đạo, ông Ngoạn liền từ-giã mẹ, tìm đến tận nơi để xin quy y. Với bẩm chất hiền-lương điềm-đạm, mới đầu ông được Đức Phật-Thầy ủy cho vào núi Voi hiệp cùng ông Bùi-Văn-Thân, tức Tăng-Chủ Bùi Thiền-Sư mở ruộng lập nhà, chùa rồi 14 tháng sau, ông được Đức Phật-Thầy đổi về núi Sam hiệp cùng ông Đạo Thạch để giúp Ngài trong việc phát phù trị bịnh và xem sóc trong chùa Tây-An.
Trong thời gian ở đây, ông được Đức Phật-Thầy tin yêu lắm. Đến những chuyện truyền đạo và thù-tiếp với những bậc nho giả bốn phương, Đức Phật-Thầy nhiều khi giao phó cho ông được trọn quyền định-liệu.
Suốt bốn năm theo hầu hạ bên Thầy để học điều đạo nghĩa, ông Ngoạn tự thấy tâm hồn nhẹ nhỏm vui-tươi. Bỗng một hôm, Đức Phật-Thầy kêu ông lại gần mà bảo phải trở về Trà-Bông để « bảo dưỡng mẹ già » và phải « tìm nơi kết tóc » để sanh con nối hậu, vì nợ trần của ông còn nặng. Tuân lịnh Thầy, nhưng ông Ngoạn còn bịn-rịn, xin nán lại ít ngày để thu xếp công việc trong chùa rồi sẽ trở về quê-quán.
Chuyện bay ra ngoài, Thị-Nhị là một tín-đồ của Đức Phật-Thầy, bấy lâu lo việc nấu nướng ở liêu sau, nghe tin bèn đến tận mặt ông Ngoạn nguyền xin trọn đời theo ông để « nâng khăn sửa trấp ». Ông Ngoạn bằng lòng. Hai người dẫn nhau đến trước Đức Phật-Thầy trình bày ý-định và xin Ngài cho phép đi về Trà-Bông.
Đức Phật-Thầy nói: « Việc ấy tùy ý các con. Nhưng sau nầy, riêng Đạo-Ngoạn phải chịu nhồi quá: nghèo nàn đến nổi vận khố, đi giữa chợ đông, khốn cùng, đến đỗi trèo non lội suối để trốn tránh, cho đến năm 60 tuổi mới được thảnh-thơi nhàn-hạ ».
Ngày rằm tháng 7 năm Giáp-Dần (1854) ông Ngoạn cùng vợ rời núi Sam, về Trà-Bông viếng mẹ rồi lập một ngôi chùa tại vàm. Từ ấy chuyên lo chữa bịnh và phổ-thông mối đạo.
Với phương-tiện tại gia cư-sĩ và học Phật tu nhân, ông Ngoạn nhất-đán đã thu-phục được hàng ngàn tín-đồ. Vì thế Thị-Nhị sanh lòng lợi-dụng, thâu nạp của tiền, vật thực, chứa đựng đầy rương đầy lẫm. Mặc dù ông Ngoạn đã hết lời giảng-dứt cấm ngăn, Thị-Nhị vẫn làm liều không kiêng-nễ chi hết.
Một ngày kia chùa bỗng dưng phát hỏa, cháy sạch của tiền mà Thị-Nhị bấy lâu dành trữ. Kế tiếp, nạn binh lửa do Pháp vào chiếm đóng Nam-Kỳ tràn lan khắp nơi, ông Ngoạn cũng như muôn ngàn người khác, phải đem gia-đình truân-chuyên lánh nạn.
Năm 1867, quân Pháp cưỡng chiếm 3 tỉnh miền Tây và lập trật-tự ở Nam-Kỳ, ông Ngoạn trở về dựng lại chùa xưa, bổn đạo quy-tụ rất đông, sự chữa trị của ông càng linh mầu hơn trước nữa.
Phen nầy Thị-Nhị thâu thập của tiền đem về gởi cho quyến thuộc, lại còn sanh tâm chống-báng với ông Ngoạn mọi điều… Tín đồ của ông Ngoạn thấy vậy không dằn được lòng căm tức, yêu cầu ông cản ngăn. Thị-Nhị thấy thế lại càng kiếm chuyện hành-hung, buộc ông Ngoạn phải giao hết chùa-chiền, giao hết quần áo đang mặc trong mình chớ không được chừa lại một món chi cả. Nhị viện lý là nhờ công của mình chắc-mót.
Ông Ngoạn chỉ còn tay không với một cái quần đùi, để mặc ý cho Thị-Nhị dở chùa chở đi nơi khác, ông chẳng hề hở môi phàn-nàn than-trách.
Tín-đồ của ông rất đổi thương tâm, xúm nhau kẻ giúp lá người cho cây và ra công cất lại cho ông ngôi chùa khác.
Nhưng oan-quả vẫn chưa thôi, Thị-Nhị – sai khi dở chùa về cất tại giòng Thá-La gần đó – lại đến bắt ông về ở. Túng quá, ông Ngoạn chẳng biết làm sao với người ngoan phụ, chẳng lẽ mình tu-hành mà mãi rầy-rà, ông liền ẩn-lánh lên miền Thất-Sơn, với ý-định là mong Thị-Nhị quên ông, hay có chồng khác đi cho ông khỏi bận.
Nhưng sau đó ít hôm, Thị-Nhị dò biết được tin, bèn gom góp của tiền, lên núi Két là chỗ địa-cầu của Thất-Sơn, cất am ở đó để chận đón ông Ngoạn.
Biết là chuyện không hiền, ông Ngoạn sau khi chu-du cùng khắp Thất-Sơn, ông kết bạn với ông Tường (không rõ người gốc tích ở đâu) rồi rủ ông nầy sang Tà-Lơn tìm nơi tỉnh-dưỡng.
Trong khoảng ở Tà-Lơn, ông luyện được rất nhiều phép thuật. Có bận ông bảo ông Tường đem rỗ của ông đã đươn được trên non xuống Sốc-Thổ để đổi gạo về ăn. Ông Tường sợ lạc đường, lại sợ thú dữ nên từ chối không đi. Ông bảo ông Tường cứ đi, ông sẽ cho hùm thiêng dẫn lối. Ông Tường đánh bạo ra đi. Thế là quả thật, có cọp đi trước kêu chừng và giữ-gìn cho ông Tường một cách cẩn thận.
Ở Tà-Lơn một độ. Ngày kia thình-lình ông Ngoạn rơi lụy mà boả ông Tường rằng: « Chư thần cho tôi hay: hiện nay mẹ tôi ở nhà đau nặng, đang nguyện vái và mong mỏi tôi về. Vậy chú liệu xem có thể một mình ở lại hay cùng về với tôi ?».
Ông Tường nghe sao hay vậy chớ trong lòng bán tin bán nghi. Nhưng khi hai người về đến Trà-Bông thì quả thật, thân mẫu của ông Ngoạn còn đang trầm-kha trên giường bịnh.
Lo thuốc thang cho mẹ vừa mạnh, ông Ngoạn lại phải nghĩ đến việc mưu sinh, vì lúc nầy, đúng y như lời Phật-Thầy mách trước ngày xưa, ông Ngoạn thật nghèo nàn vất-vả, chỉ có một cái khố rách che thân mà thôi. Ông phải lên núi Két hái thuốc, nấu thuốc cao, thuốc dán để đổi kiếm chút tiền nuôi mẹ và độ hồ khẩu cho mình. Hồi nầy Thị-Nhị đã trở về giòng Tha-La, ông không còn lo vì sự trở ngại lôi-thôi ở núi Két nữa.
Theo tài-liệu trong « Đạo-Ông giảng-tập » thì khoảng nầy ông Ngoạn hiệp cùng ông Bùi-Văn-Thân ông Cả-Lăng, ông Chủ-Dương, chấn chỉnh tại chùa chiền trong làng Hưng-Thới. Và cũng chính lúc nầy ông bí-truyền tâm-pháp cho ông Từ-Đọt (hay từ Lão) một đệ-tử của Đức Phật-Thầy – và dặn-dò công việc truyền-đạo cho ông nầy trước khi ông Ngoạn rời khỏi Thới-Sơn.
Rời Thới-Sơn, ông Ngoạn trở về Trà-Bông viếng mẹ. Một hôm, mẹ bảo rằng: Mẹ nghĩ con thì tuổi một ngày một lớn; mà mẹ thì mỗi lúc một già, nay mai mẹ nhắm mắt rồi, mẹ sẽ không vui lòng mà để con ở lại với cảnh lao-đao khổ cực như vầy mãi mãi. Nên mẹ đã lựa cho con một chỗ tại làng Mỹ-Long, con hãy sớm mà lo lập lại cho rồi gia-thất.
Vâng lời mẹ, ông Ngoạn xuống Mỹ-Long cưới vợ. Bà ấy tên là Thị-Thu: tánh nết thuần-hòa, dung-tư đứng-đắn. Không bao lâu bà đã lo làm lụng có một số vốn và mua muối đổi được một số lúa khá nhiều. Bà định giúp ông Ngoạn để dựng lại chùa-chiền, chấn bưng đạo-đức.
Nhưng Thị-Nhị với tấm lòng sâu độc, đem ghe từ giồng Tha-La xuống Cái-Sao-Hạ (Mỹ-Long) a vào nhà chở hết lúa và muối mà bà Thu đã dày công dành-dụm.
Thấy việc quá ngang trái, Hương-Chủ Sắc là người có thế-lực nhứt trong vùng, đến cản ngăn và thóa-mạ Thị-Nhị, nhứt quyết không cho chở lúa. Ông Ngoạn thấy vậy can ông Chủ Sắc và tự nhận là nghiệp quả của ông, vì theo lời tiên-tri của Đức Phật-Thầy, đến năm 60 tuổi sắp lên ông mới được thong-dong rổi-rảnh. Ông Chủ Sắc không biết tính sao, vì không có nguyên-cáo, ông đành để cho Thị-Nhị tự ý tung-hoành.
Nhưng trời vẫn còn tựa người lành, bà Thu lại ra sức làm lụng nuôi mẹ giúp chồng, ít lâu tiền bạc có dư, bà theo ông Ngoạn về Trà-Bông cất lại ngôi chùa ngay nền ngày trước, mà ông Ngoạn vì lánh Thị-Nhị đã bỏ hư, và nổ-lực vung trồng ruộng phước.
Bổn đạo nghe tiếng trở về thăm viếng và nghe thuyết Pháp rất đông. Nhưng công cuộc phổ-truyền đạo đức đang tiến hành hiệu quả thì bỗng bà Thu mang bịnh ngặt mà qua đời. Ông Ngoạn lại phải một phen bận lòng lo-lắng. Ông giao hết của cải của bà Thu cho hai người cháu là Hai Nhẫn và Bảy-Truyền rồi đóng cửa mà chuyên lo kinh-kệ. Năm ấy ông ngoài 50 tuổi.
Năm Giáp-Tuất (1874), bệnh thời khí hoành nhiều nơi làm cho nhân-dân nhộn-nhàng kinh-sợ không làm ăn được. Hương chức làng Nhị-Mỹ thấy thế hội nhau bàn-tính, rồi kéo đến chùa Trà-Bông thỉnh-cầu ông Ngoạn chữa trị.
Vốn sẳn lòng đạo-đức, lại giỏi về khoa cứu chữa bịnh nầy từ khi còn gần-gủi bên Đức Phật-Thầy, ông Ngoạn liền đem hết năng-tài thi-thố. Công hiệu của sự trị binh và quần-chúng kéo tới đông-đảo thế nào, thiết tưởng đoạn văn dưới đây trong tập « Đạo Ông giảng-tập » đủ miêu-tả rõ.
Đạo ông pháp-thuật gắn keo,
Ra oai Phật-lực cứu-điều muôn dân.
Chuyển xoay kinh chú như thần,
Ôn-hoàng dịch khí một lần phải kiêng.
Phù linh hay tợ thuốc tiên,
Phun đâu giải đó mạnh liền như xưa.
Tổng nào tỉnh ấy đều ưa,
Biết bao nhiêu kể người ta đông vầy.
Kẻ lui người tới dẫy đầy,
Dòng sông chật nức ghe cây chen luồn.
Sự đông đúc hiện giờ đến đổi làm cho quân Pháp ở Định-Tường kinh sợ. Họ xuống lệnh cho nhà chức-trách ở Sa-Đéc quan-sát coi nếu thật là gian đạo-sĩ « hội dân làm loạn thì cấp tốc bắt ngay». Nhưng lúc này giới hữu quyền ở đây phần nhiều đều cảm-phục uy-đức của ông Ngoạn, họ mật bàn với nhau, thỉnh sắc thần đem về để sau hậu tổ chùa Trà-Bông rồi báo về tỉnh đường rằng sự tụ-hội đông-đảo là để cầu an bá-tánh và cúng thần chớ không chi lạ. Nhờ vậy mà từ ấy sự lui tới của dân chúng mới yên. Ngày nay tại chùa Trà-Bông vẫn còn để thờ Long-Đinh, ấy là nếp cũ ngày xưa vẫn còn roi dấu.
Từ khi bà Thu là vợ giữa của ông Ngoạn mất đi, ông không hề nghĩ đến việc tục huyền nữa. Nhưng mẹ ông không nghe, thường dạy ông lấy vợ để sanh con nối hậu.
Nhớ lời Thầy xưa và tuân theo lệnh mẹ, ông Ngoạn cưới bà Nguyễn-thị-Huê ở rạch Cái-Vừng (thuộc làng Nhị-Mỹ) về coi sóc trong ngoài và sớm hôm nuôi dưỡng từ-mẫu. Bà nầy đức-độ thanh-cao, làm ăn giỏi-giắn. Trong việc giúp-đỡ bịnh-nhân và tiếp đãi tín-đồ của ông Ngoạn lúc sau nầy, một phần lớn nhờ ở bàn tay của bà giúp sức.
Căn-cứ theo bài du-ký Đế-Thiên (có lẽ là của ông Đặng-Công-Hứa) thì năm ông Ngoạn đúng 60 tuổi, tức là năm Canh-Thìn (1880), ông nằm mộng thấy có Khổng-tước bay đỗ vào lòng, rồi trong năm ấy bà Huê thọ thai và sanh hạ một trai. Nhân thấy điềm ứng chim công, ông Ngoạn theo đó mà đặt tên con là Đặng-Công-Hứa. Cuộc đời sóng gió của ông Ngoạn trước kia từ nay không còn có nữa. Ông sớm chiều thong-thả giảng đạo xem kinh, tịnh-niệm và tu bồi công-đức.
Tết Canh-Dần (1890), giữa lúc có tín-đồ tựu về lễ Phật đông-đủ, ông Ngoạn vui vẻ nói: « Trong năm nay, chúng đệ-tử sẽ không còn gặp mặt ta nữa. Vậy mỗi người cứ trì-tâm đạo-tác phước-điền, chớ khá vì chẳng ai nhắc-nhở mà lảng-xao bổn-phận ». Tín-đồ nghe nói biết là lời trối nên đau đớn bịn-rịn chẳng chịu ra về, ông phải đem thuyết « hữu hình tắc hoại » ra giảng-giải, ai nấy mới chịu an lòng nghe theo.
Ngày 19 tháng 2 năm ấy, ông tắm gội sạch-sẽ rồi ngồi niệm Phật mà tịch-diệt, thọ được 70 tuổi. Tín-đồ xúm nhau chôn cất và thương-xót vô cùng, có người ở lại Trà-Bông đến ba năm để săn-sóc và bồi đắp chung-quanh nắm xương tàn của người liễu-ngộ cho thỏa-lòng luyến tiếc.
Qua mười năm khói lửa, ngôi chùa Trà-Bông đến giờ hãy còn giữ được nguyên vẹn phong-độ uy-nghiêm, mặc dù cây cối quanh chùa đã phải nhiều phen đương đầu với sự tàn-phá của miểng bom oanh-tạc.
ÔNG ĐẠO LẬP
Tên thật là Phạm-thái Chung, pháp danh Sùng-đức-Võ, danh từ Ông Đạo Lập mà người ta quen gọi, là ông có đứng ra thành lập một ngôi chùa mang tên Bồng-Lai tại Bài-Bài, thuộc xã Nhơn-Hưng, quận Tịnh-Biên (Châu-Đốc).
Trong một bài-vị để thờ tại chùa Bồng-Lai, còn ghi thêm, ông Đạo-Lập có một biệt hiệu nữa là Bồng-Lai La-Hồng.
Sinh quán của ông Đạo Lập tại xã Đa-Phước, bên kia thành phố Châu-Đốc, một nơi có phong cảnh nên thơ còn mang một danh xưng khác là Cồn-Tiên.
Khi Đức Phật Thầy Tây-An bị nhà đương cuộc thời Tự-Đức dời về tỉnh lỵ An-Giang, ông Đạo lập đã tìm đến thăm viếng và sau đó, ông quy-y với Đức Phật-Thầy.
Trong số các đại-tử của Đức Phật Thầy, phả nói ông Đạo Lập là một danh-nhân quan-trọng, có tài-ba, huyền-thuật dị-kỳ. Ông có thể đi mây về gió, làm lắm điều khác lạ với thế nhân mà ở quanh vùng Thất-Sơn không mấy ai là không biết danh.
Bóng dáng của ông, từ Hà-Tiên đến Châu-Đốc, từ núi Tà-Lơn đến niềm Đồng-Tháp, thoạt đó thoạt đây, thường xuyên không vắng suốt một thời gian vài mươi năm, khoảng từ 1856 đến 1877.
Đi trên bộ ông đội nóng to vành, phất-phơ đôi tay áo rộng. Đi qua sông, ông thả nón làm thuyền, lấy gậy làm chèo hoặc xăn tay áo mà bơi qua.
Phật-pháp của ông cao thâm. Tín-đồ của ông đông-đảo. Tất cả giáo-điều tu-nhân, học Phật mà ông lãnh-giáo được nơi Phật-Thầy, ông đều đem đi hoằng-dương khắp nơi. Trong những lúc đi vân du hóa chúng, truyền rằng có không biết bao nhiêu huyền-sử kinh-dị bao trùm chung quanh ông. Chúng tôi chỉ xin chọn lọc và kể lại với tất-cả sự e-dè.
B. Ông Đạo Lập canh-bối
Bối là bọn kẻ trộm, thường cỡi xuồng nhẹ, chuyên ăn cắp của ghe thương-hồ đỗ nghỉ vào các bến sông về đêm. Trong các dịp vân-du, ông Đạo Lập thỉnh-thoảng cũng có giang trên một thương thuyền để nghỉ chân trên một vài chặn đường. Theo lời thuật của Mộng-Tuyết Thất Tiểu Muội, thì có một bận, ông Đạo Lập lãnh phần canh bối cho « bạn » ngủ. Có kẻ trộm mò vào, ông cứ để cho chúng cứ tự nhiên. Ông tựa mình vào cửa mui ngồi yên, lim-dim như ngủ. Thấy ông không động đậy, kẻ trộm tự-nhiên dọn đồ qua thuyền. Khi chúng dọn được một mớ và toan lấy thêm, bây giờ ông Đạo mới tằng-hắng, lên tiếng bảo:
-Thôi chớ ! bấy nhiêu đã đủ cho « ở nhà » đền cho chủ ghe rồi !
Kẻ trộm hoảng-kinh, nhè-nhẹ chèo lui mất.
Sáng ra ông kể chuyện cho bạn chèo ghe nghe ai nấy đều hậm-hực, tức vì không bắt được bối, để cho chúng một trận đòn. Nhưng ông đạo cười bảo:
-Các người chớ nóng. Tuy vậy mà từ đây các người sẽ được ngủ yên, khỏi phải thức mà canh chừng bối nữa.
Ai nấy đều tức mình, nhưng không dám cải và cũng chưa biết tại sao từ nay lại khỏi sợ bối !
Nhưng rồi đúng như lời của ông Đạo, không rõ ông đã làm gì mà từ đó lại sau, tuyệt-nhiên trên chiếc ghe nầy không hề bị bối, dù rằng chủ ghe hay bạn ghe đều không có một ai thức canh.
C. Ông Đạo Lập luyện phép và làm phép
Trong lúc vân-du, ông Đạo thường dẫn theo một người đệ-tử tên là Huỳnh-văn-Thiện. Mỗi lần lên núi, ông Đạo kiếm chỗ cho đệ-tử tạm ngụ rồi tự mình tìm chỗ u-tịch ngồi thiền hoặc luyện phép.
Theo lời ông Huỳnh-văn-Thiện thường kể thì có ông Trương-hồ-Ngạc, cũng là một đệ – tử của ông Đạo, có tính hiếu kỳ, nên một lần lén thầy, rình xem coi thầy đã làm gì ở nơi thanh vắng. Ông Ngạc đã trông thấy ông Đạo làm một chiếc tàu nhỏ thả trên mặt nước rồi niệm chú. Ông Đạo có diệu thuật khiến chiếc tàu ấy chạy tới chạy lui theo ý muốn của mình.
Biết được cách đó và học lén được những câu chú của thầy, ông Ngạc mới bắt chước làm theo. Kết quả ông đã thành công. Nhưng liền sau đó ông Ngạc ngã lăn ra chết. Ông Huỳnh-văn-Thiện được chứng kiến cảnh ấy, đau khổ vô cùng vì lúc đó vắng Thầy. Ông phải ngồi thâu canh bên xác ông Ngạc để chờ Thầy về liệu tính xem sao !
Sáng ra ông Đạo về một tay xách gói và một tay xách chiếc đệm bàng. Ông Đạo không chờ ông Thiện trình bày tự-sự đã nói ngay trước:
– Thì ta đã lo sẵn đồ vật, để xem về đây chôn nó !
Những câu chuyện như thế được truyền ra, danh của ông Đạo Lập càng lớn. Người ta đến nhờ ông cứu bịnh và lãnh phái quy-y cùng lúc càng đông. Nên để có chỗ nơi an-trụ và quy ngưỡng, các đệ-tử của ông hợp nhau dựng lên một ngôi chùa. Người ta đến làm công-quả thật đông và nhất là ngày khánh-thành, ghe xuồng đậu chật cả một khúc sông trên kinh Vĩnh-Tế.
Cũng bằng những diệu thuật như trên, ông Đạo từng lấy một cây ếm tại Ton-hon do người Tàu chôn. Cây ếm bằng đá trên mặt có khắc chữ: « Càng-Long, ngũ thất niên trọng thu, cốc dán ». Người ta đã nghĩ rằng cây ếm ấy do họ Mạc đã ếm với mục-đích bí ẩn ! cây ếm ấy bây giờ vẫn còn lại Bài-Bài, miền biên-giới xa-xôi.
D.Ông Đạo Lập qua hải
Theo một bài nhan-đề ông Đạo Lập, tác giả là bà Mộng-Tuyết Thất Tiểu Muội, đã thuật lại một cách tin-tưởng và cho rằng bác của tác-giả, người thường kể lại chuyện ông Đạo-Lập, vốn là người có học, không hề chịu tin những chuyện quàng-xiên, thì ông Đạo đã qua biển một cách dễ-dàng Đầu đuôi câu chuyện được chúng tôi rút gọn như sau:
-Ông cố của tác-giả vốn là nhà hàng-hải, từng đi buôn sang Xiêm. Ông vừa đống xong một chiếc thuyền buôn đặt tên « Minh-Thuận ». và định cho xuất-cảng với những hồ-tiêu, sáp ong, hải sâm, đồi-mồi thì vừa đúng vào lúc ông Đạo Lập ghé chơi nhà. Sau lễ cúng kiếng, ông cố tác giả hỏi xin ông Đạo một điềm may-mắn, một phép bình-an cho chuyến khai-trương đặc-biệt đó.
Ông Đạo Lập đưa ra cho ba lá bùa, nói:
– Chuyến đi nầy rồi cũng may-nắm phát-tài. Duy có vướng chút lo sợ. Nhưng cũng sẽ bình-an vô sự. Vậy bùa nầy, khi ra khỏi cửa Hà-Tiên đốt đi một lá, lá thứ nhì để lúc nào có một con cá to định làm hại thì đốt. Còn là thứ ba dành đốt khi vào cửa sông Bắc Nam.
Tất cả trên thuyền có mười người phần đông là Minh-Hương. Khi thuyền ra giữa vời, thình lình ở trước mũi thuyền sóng chỉ bắn lên cao. Một con cá to nhảy bổng lên khỏi mặt nước bằng một tầm người đứng. Vị thuyền trưởng nhớ lời dặn của ông Đạo Lập, đem lá bùa thứ hai thả tàn xuống biển. Thuyền bình yên, lại vượt khơi trên biển.
Một buổi chiều trước mũi thuyền bổng vụt hiện một vật gì to như hòn đảo. Cả thuyền kinh ngạc tưởng chừng tàu bị lạc vào một đảo hoang nào. Nhưng không, hòn đảo ấy biết cử-động và khi đến gần, mới rõ đó là một cái kỳ của một con kinh-ngư khổng-lồ đang đùng đùng lướt sóng chận đầu thuyền. Khi biết rõ đó là một vật ăn thịt người thì cả thuyền hoảng-kinh bối-rối. Vị thuyền trưởng bây giờ mới sực nhớ lại lá bùa thứ nhì đã đốt là lầm. Chắc-chắn nó phải được đốt vào lúc nầy để ngăn chận con kình ngư sát nhân mới đúng. Lúc túng-cùng, vị thuyền trưởng đành phải đem đốt lá bùa thứ ba và nó hoàn toàn vô hiệu. Cá lướt tới càng nhanh hơn, dễ thường cái quẩy nhẹ của-nó cũng đủ làm thuyền lật úp được. Mọi người trên thuyền đều trông rõ được từng cạnh khía của cánh vi cá khổng lồ. Vị thuyền trưởng ra lịnh cho thuyền đảo trịt một bên để tránh vật dữ, nhưng sóng bủa trùng trùng, tràn lên ngập cả sàn thuyền. Cánh vi và cánh buồm thuyền đã song song ngang nhau, cách khoảng không hơn mười thước. Lưng cá cọ và sườn thuyền, mình thuyền nghiêng về một bên. Phút nguy ngập đã tới.
Tuy-nhiên con cá không hành-hung. Đợi khi thuyền qua vừa khỏi, nó quạt đuôi một cái thôi thuyền quay tròn mấy vòng và mọi vật trong thuyền xô đổ. Rồi thuyền mới từ từ yên lại.
Từ hôm ấy cho đến khi trở về, thuyền được bình-yên không có gì trở ngại nữa. Nhưng khi thuyền về tới Mũi-Nai, thuyền trưởng lên bờ, thì đã thấy có ông Đạo-Lập đứng sẵn dưới đám dừa bên mé nước.
Ông Đạo Lập cười nói:
-Ở nhà đoán biết ữa nay cậu thuyền trưởng về, nên ghé lại đón mừng… Chà ! bữa chiều hôm đó, ở ngoài vời Thổ-Châu, cậu thuyền thường sợ đã xanh mặt. Khi đó ở nhà ở trên chót cột buồm chớ đâu! Nếu ở nhà không giữ cho thuyền vững lại và không đuổi con quái-ngư đi, nó sẽ cấn đến và đột lật cho thuyền chìm, thì các người tất đều vào bụng nó rồi ! Các người đã chẳng thấy từ xa nói hướng thẳng về mũi thuyền đó hay sao !
Thuyền trưởng nghe nói thì hoảng-hốt trở lại như hồi đang lâm nguy giữa biển. Còn ông Đạo Lập thì nói tiếp:
– Chỉ tội nghiệp cho con cá bè bỗng dưng chịu chết oan ! Vì lá bùa thứ hai của ở nhà cho, đáng lẽ phải để mà diệt con quái ngư ấy !
Nghe qua tự-sự ai nấy thảy kinh hồn.
E. Ông Đạo Lập ném dao
Vì thích sống giang-hồ, ông Đạo thường không ở nơi nào lâu. Do đó mà ông hay có giang trên các ghe buôn cho đỡ chân. Một lần ông Đạo Lập có giang trên một ghe bán mía. Ngồi buồn trên ghe, ông lấy dao ra róc mía thì gặp phải cây dao lụt quá, róc không sạch vỏ mía. Ông Đạo liền vứt cây dao xuống sông và phàn nàn:
– Dao lụt thế nầy không bỏ còn để làm gì !
Người chủ nghe thấy thế không được bằng lòng nhưng làm thinh không nói
Sáng hôm sau, ghe đến một chợ nhỏ. Bạn ghe lên bờ đi chợ mua về một rỗ cá. Bấy giờ chủ ghe mới có dịp lên tiếng hờn mát.
– Mua cá làm chi? Có dao rựa đâu mà làm cá !
Bấy giờ ông Đạo Lập ngồi trong khoang ghe, lên tiếng :
– Liệng xuống hôm qua chỗ nào thì hãy lặn chỗ đó mà mò lên. Đã mất mát đi đâu !
Nói rồi ông bước ra, chỉ mặt nước, chỗ cách mũi ghe một sãi, bảo người bạn ghe lặn xuống đó mà lấy dao lên. Quả nhiên cây dao yếm mà ông Đạo Lập liệng xuống nước bữa trước được lấy lại. Cần để ý rằng chiếc ghe mía mà ông Đạo Lập có giang, từ chỗ ném dao cho đến chỗ mò dao, cách xa một ngày rưỡi đường, thế mà cứ chỗ đánh dấu của ông Đạo Lập, lại tìm lại được một cách dễ-dàng.
Càng lạ lùng hơn cây dao lụt trước, nay được sáng trưng, bén ngót như có ai mài sẵn.
F. Ông Đạo Lập tàng-hình
Trong buổi đầu thuộc Pháp, không rõ ông Đạo Lập đã góp tay vào các nghĩa đảng thế nào, mà thực dân thường theo dõi tìm bắt ông luôn. Trong các đệ-tử Đức Phật-Thầy Tây-An, ngoài Cố-Quản Trần-văn-Thành chắc-chắn có ông Đạo Lập là người có đứng hoạt-động cứu quốc.
Một lần ông Đạo Lập đến Hà-Tiên, vào thăm nhà quen thì cũng đúng là khi thực dân dò ra tung tích ông Đạo Lập nên tìm đến vây bắt.
Ông Đạo đang ngồi uống trà tại một vườn cam với chủ nhân, chợt nghe có tiếng động, ông liền đứng lên cắp nón, cầm gậy, xô cửa tầu khận – một cái nhà ngoài dùng chứa hàng-hóa – bước vào rồi bảo chủ nhân khóa chặt lại.
Chủ nhân trở vào nhà trên thì một bọn người Pháp đang lục soát kiếm tìm ông Đạo-Lập. Sau khi tìm khắp nơi, họ bắt phải mở tầu khậu cho xem. Và kết-quả là ông Đạo-Lập đã đi đâu mất, không hề một ai trông thấy bóng dáng gì !
Thêm một câu chuyện tàng-hình khác: Trong đảng Cần – Vương, có ông Học-Sanh-Thái người Châu-Đốc. Ông Thái về sau kết thông-gia với nhà Cách-Mạng Nguyễn-Thần-Hiến ở Hà-Tiên. Ông Thái lại cũng có kể một câu chuyện tàng-hình về ông Đạo-Lập như sau:
Khi đảng Cần-Vương còn hoạt-động, ông Thái vốn được trong đãng tín-nhiệm, ông giữ một tờ mật chiếu của Triều-đình. Ông Thái lấy làm lo sợ bại lộ tờ mật chiếu là một tang chứng thật nguy, nên ông mới đem giấu tại một cái miểu thờ Thần Nông bí mật, không một người thứ hai hay biết.
Nhưng ít lâu sau, tờ chiếu mật mất. Một điều lạ là ông Thái rất thận trọng ông đã nhét mật chiếu vào sau tờ giấy đỏ có viết chữ thần to tướng lại bàn chánh rồi dán kỹ lại thì ai biết và ai mà dám động tới chỗ tốn-nghiêm kia ! Ông Học-Sanh Thái rất lo sợ bại lộ cơ-mưu. Nhưng thời-gian qua, vẫn bình-yên không có gì lạ. Một hôm ông gặp ông Đạo Lập. Ông Đạo Lập hỏi ngay
– Chú có làm mất cái gì không?
– Không ! Tôi chẳng có gì mà mất.
Ông Đạo Lập nói:
– Thử nhớ lại xem, vật không quý, bỏ thì thương, vương thì tội !
Bấy giờ ông Thái mới nhớ ra và nói rõ nỗi lo âu của mình bấy lâu nay. Ông Đạo Lập cười:
-Ở nhà đốt đi rồi chớ mất đi đâu ! Chúng ta mưu đồ là vì đại nghĩa chứ đâu phải vì bổng lộc !
Bây giờ ông Thái mới tỉnh-ngộ và hỏi:
– Thế sau ông biết tôi giấu ở miễu mà hủy bỏ ?
Ông Đạo Lập không đáp thẳng câu hỏi mà bảo ông Thái cố nhớ lại xem có gì lạ khí đem giấu tờ mật chiếu trong miễu. Ông Thái liền thuật lại là khi giấu xong đi ra, nghe tiếng động dưới cỏ, ông giật mình ngó xuống thì thấy con rắn bò sát bên chân. Ông Đạo Lập cười bảo:
-Ở nhà đó chớ rắn-rít gì. Không hóa rắn, làm sao theo dõi để biết rõ chuyện bí mật của chú được !
Khi trở về già, ông Đạo Lập về Bài-Bài cư-ngụ và tịch-diệt tại đây. Không thấy bài-vị ghi rõ ông mất năm nào. Chỉ biết được ngày 29 tháng 9 hằng năm là ngày cúng vía của ông.
Mộ ông được chôn cất tại xã Vĩnh-Ngương, cũng theo căn-tích của Đức-Phật Thầy, không có đắp nắm.
ÔNG ĐẠO LÃNH
Trong cuộc dẹp loạn Chân-Lạp của ông Quản Thành (1) (tức về sau là Đức Cố Quản) dưới triều vua Thiệu-Trị, Đức Cố Quản có một thuộc tướng rất tài-ba và lạ-lùng, làm người Chân-Lạp phải lắm phen kinh sợ; thuộc tướng ấy là ông Hai Lãnh (và bây giờ người ta gọi là ông Đạo Lãnh).
Ông Hai Lãnh gốc người Việt-Nam (1); không rõ họ gì. Ông còn có một tên nữa là cậu hai Gò-Sặt. Hai Lãnh võ-nghệ rất cao, có thuật gồng, thông bùa thư và thông nho học.
Khoảng năm Tân-Sửu (1841), Hai Lãnh gặp ông Quản-Thành tại An-Giang (Châu-Đốc) và xin tùng quân. Từ đó, ông và ông Quản-Thành là đôi bạn chí thân, thường gần-gũi bên nhau để đàm văn, luận võ.
B. Khả năng
Năm Quí-Mão (1843), ông Quản-Thành mang binh đi dẹp quân phiếu-loạn Châu-Lạp ở miền Thất-Sơn. Tại trận Láng-Cháy, ông Hai-Lãnh giúp ông Quản-Thành thành công rực-rỡ là ông đã dùng tiếng Cao-Miên để giảng-dụ hai tướng giặc lợi hại là bướm và Vôi về hàng.
Cũng trong năm ấy, ông Hai Lãnh cầm quân dẹp loạn Phủ Kép ở Giang-Thành, ông bắt sống được nhiều tướng giặc bằng cách đi tay không một mình vào trận, không sợ gươm đao. Ông bắt giặc và trói giặc bằng một vài miếng đấm, đá xem ra như bỡn, nhưng quân giặc phải chịu thúc thủ quy hàng.
Có khi lương-thực tiếp-tế thiếu-thốn, ông đang đi dọc đường, đói lả, thấy bên trong Sóc Thổ có người nấu bánh tét trong trã to đang sôi sụt gần chín, ông ghé lại, mò tay vào trã nước sôi để lấy bánh, thế mà không chút phỏng da. Người Thổ tưởng ông là thần, gọi là Tà Lãnh.
Tuy vậy, có một bận ông đi đánh giặc bị thua lạc đường, tưởng chừng mất tích, đã gây cho người thân của ông một cản tang-tóc đau thương. Chuyện ấy hơi dài, sẽ kể ở sau.
C. Bị giặc bắt
Một ngày vào khoảng năm Ất-Tị (1845), ông Hai Lãnh (2) thừa lịnh ông Quản-Thành dẫu một tốp bính đi tuần-sát ở mạn biên-thùy Miên-Việt.
Để nhẹ bớt sự băng rừng lướt bụi, tốp binh nầy được dùng thuyền đua theo đường kinh Vĩnh- Tế đến đuôi làng Vĩnh-Ngươn. Khi lên bộ đi được một quảng đường, thình-lình bị một toán người Cao-Miên rất đông ồ ra tập-kích. Bởi vùng nầy đã được an-ổn từ nên quân Việt không có ý đề-phòng. Bị đánh bất-ngờ, binh sĩ mất tinh-thần, lớp chết, lớp bỏ chạy tan vỡ hết. Riêng ông Hai Lãnh còn kẹt lại một mình, ra sức đánh chém tứ tung, nhưng quân Cao-Miên càng lúc càng đông, làm sao ông không sao thoát khỏi vòng vây được.
Cầm sự suốt buổi chiều hôm ấy, ông Hai nhờ giỏi võ-nghệ, lại có thuật gồng nên mới khỏi bị hại, nhưng cũng không thể kềm hãm được nào đói, nào mệt. Thừa lúc nhá-nhem tối, ông chuyển hết sức mạnh đánh quyết về một chỗ rồi vẹt đường mà chạy ra.
Màn đêm buông phủ. Tiếng la ó rền vang của quân Cao Miên lùng kiếm ông Hai dội vào mấy khu rừng già rồi tan ra thành một thứ âm thanh kinh khủng. Ông Hai Lãnh một mình thất thiểu chạy đi.
Sáng ra, ông thấy mình bị lạc rất xa-vào lĩnh-vực Cao-Miên, không thể nào theo đường cũ mà trở về được, nên ông giả dạng thường nhân, vào xóm xin ăn rồi lang-thang đi mãi.
Tốp binh chạy thoát được về đến An-Giang báo cho ông Quản-Thành hay thì trời đã sáng.
Ông Quản-Thành hỏa-tốc điểm binh kéo vào cứu viện. Nhưng đến nơi, quân dân Cao-Miên đã tan mất tự bao giờ, còn ông Hai Lãnh tìm kiếm khắp nơi không thấy. Quản-Thành cho lịnh cấm trại ở đó để dò nghe tin-tức. Song thất-vọng. Vài hôm sau, ông buồn rầu kéo binh trở về.
Bà Hai (vợ ông Hai Lãnh), sau khi hay được tin nầy, bà cùng với người con gái dẫn nhau lên tận Cao-Miên tìm kiếm ông Hai. Ngót mấy tháng vượt rừng lội suối mà tuyệt nhiên không thấy tăm hơi, bà nghĩ ông Hai đã chết, nên sau rối, bà trở về núi Phi-Lai (núi Doi), ở đó chờ đợi lâu nữa rồi tự thiêu mình mà chết.
Ngày nay, những lúc đêm thâu canh vắng, khách thập phương vãn cảnh nơi vùng Thất-Sơn, thỉnh-thoảng còn nghe trong các chùa, am, miếu, quán, hoặc dưới những túp lều tranh lụp-xụp lưa-thưa văng-vẳng đưa ra những câu vè thơ êm-ái như ru :
… Bà Hai am-tự thâm tình
Hỏa thiêu thân thể, ấn hình Phi-Lai…
khách sẽ ngậm-ngùi mà nhớ ngay rằng đồng-hào miền sơn-cước xa-xôi nầy vẫn còn ghi mãi cái chết đau-đớn của bà Hai.
D. Quy y và chứng quả
Nhưng ông Hai lại trở về.
Từ khi chạy lạc lên đất Cao-Miên, ông Hai Lãnh phải sống vất-vả với chuỗi ngày đe-dọa, lầm-than. Sau ông chạy lên tận Gò-Sặt (Pursat) nương-náu với vài người bạn quen ở đây cho đến tháng chạp năm Bính-Ngọ (1846), khi vua Cao-Miên dâng biểu tạ tội với nước ta, ông mới được sồng tự-do và lần hội dò đường về nước.
Lúc nầy giặc-giả đã yên, lại gặp cảnh vợ con tan-tác, ông Hai cảm thấy lòng mình buồn nản vô cùng, ông quyết xin với ông Quản-Thành cho được về thong-thả tìm nơi dưỡng tính tu tâm, mặc dầu ông Quản-Thành tỏ ra không đành rời ông một phút.
Sau đó, ông Quản-Thành quy y với Đức Phật Thầy Tây An và được tôn xưng là Đức Cố Quản; còn ông Hai Lãnh cũng trở thành đồ đệ của Đức Phật Thầy với-danh hiệu là ông Đạo Lãnh. Hai vị thường có cơ hội gặp nhau ở núi Sam, trước mặt Phật Thầy Tây An, cho đến năm Bính-Thìn (1856) trở đi, nghĩa là sau ngày Phật Thầy Tây-An tịch-diệt, thì không còn ai gặp ông Hai Lãnh ở đâu nữa. Người ta bảo nhau rằng ông đã được chứng quả trên non Tiên.
Giờ đây, đọc lại ít vần thơ cũ của ông Hai, Trình trong bài thập thủ liên hườn ta sẽ hiểu qua trích-thái lẫn tâm-hôn ông trong những ngày chót ở chốn núi sâu rừng thẳm.
Thấy những phiền cho cuộc ở đời,
Xa tầm non nước một phương trời.
Hoa tươi trước mặt thơm-tho nực,
Thú dữ bên mình nhả-nhớn chơi,
Nghiêng chén hải lan vui chốn chốn,
Cụm cây trăng sở dạo nơi nơi.
Quên năm Giáp-Tí năm nào cả,
Luyện thuốc linh-đơn tế-độ người.
Độ người thẳng tới cõi thiên-thai,
Chẳng nhuộm màu đời có mấy ai ?
Giày cỏ đến lui trời đất rộng,
Áo sen xài-xạc núi sông dài.
Cảnh vui & hiệp son dồi phấn,
Thú lạ tình ưa đá chẳng phai.
Nghiêng ngửa cội tùng nghe tiếng gió,
Dọc ngang mặt thích thế không hay,
Thế không hay có bậc người lành,
Trên dảnh mình ngâm chữ thái-bình,
Một tấm lòng nhân mây sắc trắng,
Trăm đường tục lợi nước màn xanh,
Dạy đời hằng giữ câu vi thiện,
Tưởng đạo vui theo dạ chí thành,
Cửa Phật trau-giồi công đức lớn,
Ngâm tầm mùi đạo rất tinh-minh.
Cũng có người nói rằng mấy bài nầy là do Đức Phật Thầy đọc cho ông Đạo Lãnh chép lại – Điển nầy chưa có gì để kiểm chứng được
Chưa biết chắc được Ông Đạo lãnh có phải là : trong 12 đại Đệ Tử Đức Phật Thầy không. Cho nên theo sự dẻ dặt thường lệ, chúng tôi xin đặt tiết nầy ở phần cuối chương.
