![]()
Các vị thày tiêu biểu của miền đất Nam Bộ & Tây Nam Bộ thời Nguyễn
– Thày Thím (dinh Thày Thím, Bình Thuận)
– Thày Võ Trường Toản (đền Chí Hoà, TP HCM) người dạy tất cả các vị quan văn võ và cả các thiền sư nhà Nguyễn ở Nam Bộ và rất nhiều vị ẩn tu khác
– Đoàn Minh Huyên Phật Thày Tây An, sáng lập Bửu Sơn Kỳ Hương (chùa Tây An Cổ Tự núi Sam, Châu Đốc, An Giang), có thể gọi là tổ của các dòng tôn giáo bản địa Nam Bộ hình thành trong thời kỳ thực dân cùng với các công cuộc kháng chiến chống thực dân
Dòng tu song hành với các vị thày ở Nam Bộ này là dòng Lâm Tế Gia Phổ, với các thiền sư tiêu biểu sau đây
– Tổ Tông – Viên Quang, đời thứ 36 dòng Lâm Tế Gia Phổ, học trò của thày Võ Trường Toản
– Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh, đời thứ 36 dòng Lâm Tế Gia Phổ, quy y cho Đoàn Minh Huyên (Phật Thày Tây An)
Liên quan nhất đến Thày Thím ở Bình Thuận là dòng Lâm Tế Liễu Quan ở Nam Trung Bộ (đất Chiêm Thành xưa) có
– Thiền sư Tánh Thông Giác Ngộ còn gọi là Hòa thượng Sơn Nhân (1774-1842) đời 39 Lâm Tế Liễu Quán ở chùa Hang Phú Yên (người gốc Gia Định)
– Thiền sư Hải Bình Bảo Tạng (1818 – 1862) đời 40 Lâm Tế Liễu Quán học trò của thiền sư Tánh Thông Giác Ngộ ở chùa Hang Cổ Thạch Bình Thuận, người gốc Phú Yên
– Tổ Hữu Đức (1812 – 1887) đời thứ 40 dòng Lâm Tế – Liễu Quán, ở chùa Tà Cú, Bình Thuận, người gốc Phú Yên
LÂM TẾ NAM BỘ
Thiền phái Lâm Tế được truyền vào Đàng Trong (bao gồm cả Nam Bộ ngày nay) từ thế kỷ 17 bởi các vị cao tăng như Thiền sư Nguyên Thiều, Minh Hải – Pháp Bảo, Thạch Liêm và sau đó là sự phát triển rực rỡ của Thiền sư Liễu Quán.
Tại Nam Bộ, dòng Lâm Tế đã dung hợp linh hoạt giữa “Thiền” và “Tịnh Độ” (niệm Phật), cùng các yếu tố tín ngưỡng dân gian, giúp đạo Phật dễ dàng đi vào đời sống của người dân khai hoang.
Khi phát triển tại vùng đất mới, dòng Lâm Tế được chia thành 6 hệ phái truyền thừa với các bài kệ truyền pháp riêng biệt:
– Lâm Tế Chánh tông: Do Thiền sư Nguyên Thiều khai sáng, là gốc của dòng Lâm Tế tại Đàng Trong.
– Lâm Tế Gia Phổ: Truyền thừa qua các thế hệ và phát triển mạnh dòng Lâm Tế Bổn Ngươn, gắn liền với các bậc tiền bối tại Tổ đình Giác Lâm (TP.HCM).
– Lâm Tế Liễu Quán: Bắt nguồn từ Thiền sư Liễu Quán, phát triển cực thịnh ở miền Trung và lan tỏa mạnh mẽ vào Nam Bộ.
– Lâm Tế Chúc Thánh: Do Tổ sư Minh Hải – Pháp Bảo sáng lập tại Quảng Nam, sau đó các thế hệ đệ tử đã di chuyển và hoằng pháp khắp các tỉnh miền Trung và Nam Bộ.
– Lâm Tế Thiên Thai: Mang đậm bản sắc Việt hóa, kết hợp nghi lễ Thiền và Mật giáo, rất phổ biến tại khu vực miền Đông Nam Bộ.
– Lâm Tế Giáo Quán: Chú trọng kết hợp giữa việc thực hành Thiền định và giáo lý kinh điển.
Tại Nam Bộ, Tổ đình Giác Lâm (quận Tân Bình, TP.HCM) được xem là “cái nôi” lan tỏa của dòng Lâm Tế Gia Phổ tại Gia Định và Nam Kỳ lục tỉnh.
Lâm Tế Gia Phổ là một dòng phái thuộc thiền phái Lâm Tế, lấy bài kệ của ngài Đạo Mân – Mộc Trần làm phổ hệ để truyền thừa nối tiếp để hoằng dương Phật pháp và cũng để phân biệt với các dòng phái khác thuộc tông Lâm Tế.
– Lâm Tế (臨 濟) là tên của ngài Lâm Tế, người họ Hình, pháp hiệu Nghĩa Huyền, người Tào Châu, đời Đường, đắc pháp với ngài Huỳnh Bá trở thành vị Tổ của tông Lâm Tế.
– Gia Phổ (家 譜), miền Nam gọi là Phổ, miền Bắc gọi là phả, tức chỉ cho sự tiếp nối qua các thế của một một gia phả nào đó. Gia Phổ được nói đến là một dòng phái thuộc thiền phái Lâm Tế, lấy bài kệ của ngài Đạo Mân – Mộc Trần làm bài kệ để nối tiếp nhau truyền thừa. Bài kệ này cũng xem như là gia phả của dòng phái.
Thiền phái Lâm Tế truyền đến đời thứ 31 là Đạo Mân – Mộc Trần, ở chùa Thiên Đồng (Trung Quốc), “về sau Thiền sư Đạo Mân đắc pháp với Thiền sư Viên Ngộ Mật Vân, nên có pháp danh là Thông Thiên – Hoằng Giác”[3]. Thiền sư xuất bài kệ gồm 4 câu (28 chữ):
導本原成佛祖先 (Đạo bổn nguyên [4] thành Phật tổ tiên)
明如紅日麗中天 (Minh như [5] hồng [6] nhật lệ trung thiên)
靈源廣潤慈風譜 (Linh nguyên quảng nhuận từ phong phổ)
照世真燈萬古懸 (Chiếu thế chơn đăng vạn cổ huyền).
Tại Tổ đình Giác Lâm, hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế Gia Phổ, có các Tổ kế thừa tiếp nối sau:
– Đời thứ 35: Phật Ý – Linh Nhạc
– – – Chùa Từ Ân
– Đời thứ 36: Tổ Tông – Viên Quang
– – – Học trò của Phật Ý Linh Nhạc, học ở chùa Từ An
– – – Trụ trì chùa chùa Giác Lâm, mất ở chùa Giác Lâm, tháp chứa di cốt Thiền sư Viên Quang nằm ở chùa này và thầy được thờ ban tổ của chùa này.
– – – Học trò của Võ Trường Toản, là bạn đồng môn với Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định… Lúc còn nhỏ ở Biên Hòa, Thiền sư Viên Quang cùng và danh thần Trịnh Hoài Đức (1765-1825) là đôi bạn thân. Lớn lên, thiền sư Viên Quang) trở thành người phát triển chùa Giác Lâm, như cái nôi của Lâm Tế ở Gia Định nói riêng và Nam Bộ nói chung. Trịnh Hoài Đức được vua Gia Long cử làm Hiệp Tổng trấn Gia Định Thành. Đây là hai nhân vật làm lịch sử dòng tu và dòng đời nổi danh đất Gia Đinh.
– – – Là thày của Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh, từng làm Trụ trì chùa Giác Lâm (khi Thiền sư Viên Quang viên tịch), làm Tăng cang chùa Thiên Mụ và chùa Giác Hoàng ở Huế; Thiền sư Tiên Khuyến Từ Nhượng, và Tiên Trí Quảng Thông. Cả hai từng làm trụ trì chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long (Biên Hòa).
– Đời thứ 37: Tiên Giác – Hải Tịnh (1788 – 1875)
– – – Sư từng trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định, trụ trì chùa Giác Lâm (khi Thiền sư Viên Quang viên tịch), trụ trì chùa Tây An (núi Sam Châu Đốc), làm Tăng cang chùa Thiên Mụ và chùa Giác Hoàng ở Huế.
– – – Năm Tân Tỵ (1821), Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc viên tịch ở chùa Từ Ân, có lẽ sư Hải Tịnh được thầy cử đến trông coi chùa Từ Ân, trong khi Hòa thượng Liên Hoa (tức Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt) đang bận hoằng hóa ở kinh đô Huế.
– – – Năm 1850, Hòa thượng Hải Tịnh cho trùng tu viện Quan Âm (được xây trong sự trùng tu chùa Giác Lâm) thành chùa Giác Viên để dùng chùa này làm cơ sở học tập cho khoa Ứng phú. Trong khi đó Hòa thượng vẫn phát triển việc giảng dạy cho chư Tăng ở chùa Giác Lâm như Thiền sư Tổ Tông Viên Quang đã thực hiện từ trước. Năm Nhâm Tý (1852), ông hương đăng già (là người sáng lập và trông coi chùa Giác Viên, chưa rõ họ tên) mất, Hòa thượng Hải Tịnh cử đệ tử là Thiền sư Minh Vi Mật Hạnh làm trụ trì chùa Giác Viên. Đây là chùa có cây Nam Mai quý lấy giống từ cây mai ở mộ Mạc Cửu (Hà Tiên)
– – – Năm 1847, Tổng đốc An-Hà (An Giang và Hà Tiên) là Doãn Uẩn (1795-1850) vui mừng vì lập được đại công đánh đuổi được quân Xiêm La, bình định được Chân Lạp, nên đã cho xây dựng một ngôi chùa bằng tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói; và đặt tên là Tây An tự với hàm ý trấn yên bời cõi phía Tây và thỉnh Thiền sư Tiên Giác – Hải Tịnh về làm trụ trì. Hòa thượng Tiên Giác – Hải Tịnh là người đã làm lễ xuất gia cho Đoàn Minh Huyên (Phật Thầy Tây An người khai sáng giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương) tai chùa này với pháp danh Pháp Tạng (thuộc đời thứ 38 Thiền phái Lâm Tế). Sau khi Đoàn Minh Huyên (Phật Thày Tây An) viên tịch, Tiên Giác – Hải Tịnh đã cử học trò của mình, Hoàng Ân (thế danh Nguyễn Nhất Thừa) đến trụ trì chủa Tây An.
– Đời thứ 38: Minh Khiêm – Hoằng Ân
– Đời thứ 38: Minh Vi – Mật Hạnh
– Đời thứ 39: Như Lợi
– Đời thứ 40: Hồng Hưng – Thạnh Đạo
– Đời thứ 41: Nhựt Dần – Thiện Thuận
– Đời thứ 42: Lệ Sành – Huệ Sanh
