TRUYỆN KIỀU : HỘI CHỦ & 10 BÀI THƠ ĐOẠN TRƯỜNG

Loading

Nhân vật bí hiểm nhất trong truyện Kiều không phải ai khác mà chính là Hội Chủ. Hội Chủ là ai ?
Hội Chủ là người đứng đầu hội Đoạn trường. Truyện Kiều không giải thích rõ về bản chất của hội Đoạn trường, chỉ biết rằng đó không phải là một hội tự nguyện của những người chung sở thích, mà dường như là một hội của những người có chung số mệnh đoạn trường, không phân biệt họ là người dương như Kiều hay người âm như Đạm Tiên. Hội Đoạn trường được đứng đầu bởi một vị nữ chủ có khả năng tri thông thiên mệnh, được hội viên gọi là Hội Chủ.
Hội Chủ giám sát danh sách hội viên, nên khi xuất hiện tên của Kiều, Hội Chủ liền đưa thông tin cho Đạm Tiên, để Đạm Tiên báo mộng cho Kiều. Đó là lý do Hội chủ được Kiều gọi là Mộng Thần.
Mộng Thần có thể tiên tri được các sự kiện cuộc đời của Kiều trong Đoạn trường và sau Đoạn trường, mà chính là Đoạn trường tân thanh.
Hội Chủ không chỉ báo mộng cho Kiều mà còn qua Đạm Tiên trao cho Kiều 10 bài thơ Đoạn trường, để khi Kiều hoạ chúng, thì chính thức bước vào Đoạn trường. Khi Kiều kết thúc Đoạn trường ở sông Tiền Đường, 10 bài thơ lại được Đạm Tiên thu về để trả lại cho Hội chủ.
Khi Kiều hoạ 10 bài thơ này, Đạm Tiên khen Kiều xứng đáng đứng đầu hội Đoạn trường. Như vậy, hội Đoạn trường còn có thứ bậc và thứ bậc này phụ thuộc vào việc hoạ thơ Đoạn trường.
Bản chất của hội Đoạn trường là gì ? Hội viên và thứ bậc của hội Đoạn trường là gì ? Hội chủ của hội Đoạn trường là ai ? 10 bài thơ Đoạn trường là gì ? Lễ hoạ 10 bài thơ và lễ rút lại 10 bài thơ nhằm mục đích gì ? Đây chính là những chi tiết bí hiểm bậc nhất của truyện Kiều.
Nếu không hiểu Hội Chủ và 10 bài thơ này, chúng ta sẽ không hiểu được những lời Nguyễn Du viết về thiên mệnh trong truyện Kiều và lý do Nguyễn Du viết truyện Kiều bằng thơ lục bát.
Cuộc đời của những nhân vật chủ chốt của các đất nước và dân tộc khi giáng thế thường được tiên tri và được hỗ trợ bởi các vị thần tiên hay cao nhân ẩn dật. Nếu đọc kỹ những lời tiên tri của Hội Chủ về Kiều, có thể đoán được Kiều phải là một nhân vật rất đặc biệt của đất nước và dân tộc, và Hội Chủ ở tầm mức đưa được ra các tiên tri này càng phải là một nhân vật đặc biệt hơn.
Kiều có thiên mệnh, nên khi Kiều bước vào Đoạn trường, có thần tiên dẫn đường và giúp đỡ. Nguyễn Du viết truyện Kiều cũng vì thiên mệnh và có thể cũng có thần tiên dạy bảo, trợ giúp ông. Chúng ta có thể cần hiểu được tầm vóc và ý nghĩa chuyện Kiều cũng vì chúng ta cần giải và cần thuận theo thiên mệnh của chính mình. Hội Chủ có thể không chỉ đứng sau Đạm Tiền, sau Kiều, sau Nguyễn Du mà có thể đứng sau cả mỗi chúng ta, cả đất nước và dân tộc trong Đoạn trường.
HỘI CHỦ BÁO MỘNG ĐOẠN TRƯỜNG CHO KIỀU QUA ĐẠM TIÊN
Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa ngồi bên triện, một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng, như gần như xa.
Thuý Kiều trong giấc ngủ đêm Thanh Minh, đã mộng thấy một tiểu kiều, vừa có nét trẻ trung tươi mới “có chiều thanh tân”, vừa có vẻ phong sương từng trải xưa cũ “có chiều phong vận”. Nàng tiểu kiều này được mô tả “sương in mặt, tuyết pha thân”, trong khi hai kiều (Thuý Vân – Thuý Kiều) có “mai cốt cách, tuyết tinh thần”, nghĩa là ba nàng kiều đều có vẻ sương tuyết tương đồng với nhau.
Rước mừng, đón hỏi dò la:
“Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây?“
Thưa rằng: “Thanh khí, xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Kiều rất vui mừng khi gặp nàng tiểu kiều này, bèn hỏi nàng từ xứ Đào Nguyên (suối nguồn) nào đến đây. Tiểu kiều ấy trả lời rằng nàng đến từ khu vực có nấm mộ Đạm Tiên đến, vừa gặp Kiều lúc chiều. Nghĩa là nàng ấy chính là Đạm Tiên.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu, gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.
Nàng Đạm Tiên không vòng vo mà đi ngay vào vấn đề chính của cuộc gặp gỡ này rằng sau khi được Kiều quan tâm, thắp hương, đề thơ, khóc thương ở mộ, Đạm Tiên đã trình Hội Chủ xem xét trường hợp của Kiều và Hội Chủ thấy Kiều có tên trong sổ Đoạn trường.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa.
Đạm Tiên nói rằng việc này là kết quả của tiền kiếp, nhân duyên từ trước. Vì Đạm Tiên đang ở trong hội Đoạn trường, giờ hội lại có thêm Kiều, nên nàng và Kiều là hai người cùng một hội (đoạn trường), một thuyền (lênh đênh).
Sau đó Đạm Tiên nói về một thứ bí hiểm của cái hội Đoạn trường : Đó là 10 bài thơ mới ra và bảo Kiều hoạ 10 bài thơ này.
Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”
Kiều liền làm 10 khúc ngâm hoạ cho 10 bài thơ nhận được.
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm.
Đạm Tiên xem 10 bài thơ Kiều hoạ, nức nở khen Kiều là người vừa có tấm lòng thơ vừa có năng lực diễn đạt thơ khác thường, nếu mà đem các bài thơ Kiều làm vào tập thơ Đoạn trường của hội thì Kiều chắc chắn đứng đầu.
Xem thơ nấc nở khen thầm:
“Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường!
Ví đem vào tập đoạn trường,
Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai!”
Xong việc rồi, Đạm Tiên không nấn ná mà đi ngay, mặc dù Kiều còn muốn níu lại.
Thềm hoa, khách đã trở hài,
Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Lúc đó, gió nổi lên động bức mành, Kiều tỉnh giấc mớ biết là mình vừa chiêm bao, trông không thấy người nhưng vẫn thấy mùi hương, nên biết những chuyện xảy ra trong chiêm bao là có thật.
Gió đâu sịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
Trông theo nào thấy đâu nào,
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.
Kiều lưỡng lự trong canh khya, suy nghĩ về tương lai mà lo sợ.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa, nghĩ nỗi sau này mà kinh!
Hoa trôi, bèo dạt, đã đành,
Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!
Càng suy nghĩ Kiều, cảm xúc càng dâng lên, Kiều bắt đầu khóc lóc. (Riêng vụ đụng chút là cảm xúc dâng trào rồi khóc lóc này Kiều quả so sánh được với Tấm)
Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi,
Nghĩ đòi cơn, lại sụt sùi đòi cơn.
Kiều khóc lóc rền rĩ làm mẹ Kiều tỉnh giấc, đến hỏi nguồn cơn
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà huyên chợt tỉnh, hỏi: “Cơn cớ gì?
Cớ sao trằn trọc canh khuya,
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?”
Kiều thưa rằng mình tuổi còn trẻ, chưa kịp trả nợ báo hiếu cho cha mẹ, đã được báo về Đoạn trường.
Thưa rằng: “Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ, tóc tơ chưa đền.
Rồi kể cho mẹ rằng ban ngày đi chơi mả Đạm Tiên, đêm về gặp Đạm Tiên trong chiêm bao.
Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên,
Nhắp đi, thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
Đoạn trường là số thế nào?
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Số phận trong đoạn trường như thế nào sẽ ứng với một bài thơ như thế này, và vịnh vào một khúc ngâm như thế kia. Đây là những giải thích chi tiết nhất về 10 bài thơ đoạn trường và việc hoạ thơ này của Kiều.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thôi có ra gì mai sau!”
Suy luận theo những điều thấy trong mộng, Kiều cho rằng số phận mình mai sau không ra gì.
Dạy rằng: “Mộng triệu cứ đâu?
Bỗng không mua não chuốc sầu, nghĩ nao!”
Mẹ Kiều nghe vậy bèn gạt đi, cho rằng đó chỉ là giấc mộng, không nên suy nghĩ nhiều để chuốc thêm sầu não.
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ, đã dào mạch Tương.
Kiều vâng lời mẹ nói, nhưng thoắt cái lại tiếp tục khóc lóc.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng,
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.
Cảnh vật vẫn như mọi ngày, chim hót, bông liễu bay và trăng sáng, chỉ có tâm trạng của Kiều đã thay đổi, không ai còn hiểu được những nỗi niềm này của Kiều.
Thực ra trước đó Kiều đã có những dự cảm về số phận của mình, nên tiếng đàn của Kiều nghe sầu thảm và Kiều dễ đồng cảm với số phận hồng nhan bạc mệnh của Đạm Tiên. Tuy nhiên, bây giờ những dự cảm không nói thành lời này của Kiều đã có thêm một dự báo rõ ràng từ bên ngoài củng cố. Ám ảnh về Đoạn trường của mình đã đẩy Kiều đến những hành động chủ động gánh vác những trách nhiệm gia đình báo hiếu cha mẹ và gác lại tình cảm riêng tư.
HỘI CHỦ QUA ĐẠM TIÊN BÁO MỘNG CHO KIỀU LẦN THỨ HAI
Khi nhận ra mình bị Tú Bà mua đưa vào lầu xanh để tiếp khách và Mã Giám Sinh không phải chồng của Kiều mà chỉ là người thay mặt Tú Bà đi mua Kiều và mang Kiều về lầu xanh, Kiều đã cầm dao tự tử. Đây là con dao Kiều lấy từ nhà và mang sẵn theo người, để tự phòng thân.
Nàng rằng: “Trời thẳm đất dày,
Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
Thôi thì thôi, có tiếc gì!”
Sẵn dao tay áo, tức thì giở ra.
Chuyện của Kiều vỡ lở, người ở lầu xanh chạy tới. Tú Bà vừa sợ vừa tiếc tiền nên vội lao vào cấp cứu và gọi thầy thuốc đến.
Sợ gan nát ngọc, liều hoa,
Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay.
Thương ôi, tài sắc bậc này,
Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần !
Nỗi oan vỡ lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nen.
Nàng thì bằn bặt giấc tiên,
Mụ thì cầm cập, mặt nhìn hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coi sóc, rước thầy thuốc men.
Kiều vung dao dứt khoát, nên rơi vào hôn mê. Trong cơn mơ, Đạm Tiên xuất hiện bên nàng, rủ rỉ rằng nhân quả của nàng mà gây ra Đoạn trường này còn dở dang, nàng phải đi tiếp, không thể chết, trốn nợ đoạn trường. Số trời là nàng cần phải chịu hết kiếp bồ liều trong Đoạn trường cho đến sông Tiền Đường, thì Đạm Tiên xin hẹn gặp lại Kiều ở đó.
Nào hay chưa hết trần duyên,
Trong mê dường đã đứng bên một nàng.
Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?
Số còn nặng nghiệp má đào,
Người dù muốn quyết, trời nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu bồ,
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.”
Sau một ngày chạy chữa, Kiều tỉnh dạy
Thuốc thang suốt một ngày thâu,
Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan.
Tú Bà chực chẵn vội vàng can ngăn khuyên giải Kiều, hứa hẹn rằng sẽ tìm nơi tử tế cho Kiều nương thân
Tú Bà chực sẵn bên màn,
Lựa lời khuyên giải, mơn man gỡ dần:
“Một người dễ có mấy thân!
Hoa xuân đương nhuỵ, ngày xuân còn dài.
Cũng là lỡ một lầm hai,
Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây !
Lỡ chân trót đã vào đây,
Khoá buồng xuân để đợi ngày đào non.
Người còn thì của hãy còn,
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà.
Làm chi tội báo oan gia,
Thiệt mình mà hại đến ta hay gì?”
Kiều nghe lời Tú Bà, và nhớ lời của Thần Mộng, thấy rằng nếu chết thì nợ kiếp này chưa trả xong sẽ sang kiếp sau.
Kề tai mấy nỗi nằn nì,
Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi
Vả trong thần mộng mấy lời,
Túc nhân âu cũng có trời ở trong.
Kiếp này nợ trả chưa xong,
Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau!
HỘI CHỦ BÁO MỘNG CHO KIỀU VỀ HẾT ĐOẠN TRƯỜNG Ở SÔNG TIỀN ĐƯỜNG QUA ĐẠM TIÊN
Sau khi Từ Hải chết, Kiều bị Hồ Tiên Hiến bắt lên thuyền, bắt ca hát phục vụ, lại muốn gả cho một thổ quan. Thổ quan là một vị quan địa phương, có thể là người dân tộc được triều định chấp nhận để cai trị địa phương, khác với Hồ Tôn Hiến là quan triều đình. Trên thuyền, Kiều thấy thuỷ triều đang dâng bèn hỏi tên dòng sông mới biết đó là sông Tiền Đường.
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong.
Triều đâu nổi sóng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường.
Nhớ đến lời Thần Mộng báo từ lúc tự tử ở chỗ Tú Bà, Kiều nhận ra đây chính là nơi Đạm Tiên hẹn nàng về việc kết thúc Đoạn trường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây!
Kiều nhắn nhủ trong lòng với Đạm Tiên rằng nàng đã hẹn Kiều thì hãy đến đón Kiều.
“Đạm Tiên, nàng nhé có hay?
Hẹn ta, thì đợi dưới này rước ta.”
Sẵn bức tranh, Kiều để lại thư tuyệt mệnh rằng Từ Hãi đã hậu đãi Kiều, và nghĩ cho việc nước, nhưng không nhờ Kiều lại phụ lòng Từ Hải, gián tiếp nghe kế hàng của Hồ Tôn Hiến mà Từ Hải phải chết. Vừa giết chồng, giờ lại bị bắt lấy chồng, Kiều không còn mặt mũi nào sống trên cõi đời, muốn chết, tấm lòng này phó mặc cho trời nước chứng giám.
Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau.
Cửa bồng vội mở rèm châu,
Trời cao, sông rộng, một màu bao la.
Rằng: “Từ công hậu đãi ta,
Xót vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông!”
Viết thư tuyệt mệnh xong, Kiều quan sát con nước lớn, rồi gieo mình xuống sông.
Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang.
Thổ quan vội lao theo vớt nàng, nhưng Kiều đã chìm sâu dưới nước.
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thì đà đắm ngọc, chìm hương cho rồi!
Thế là Kiều, một người tài sắc đã mất mười lăm năm trong kiếp Đoạn trường.
Thương thay, cũng một thân người,
Hại thay, mang lấy sắc tài làm chi?
Những là oan khổ lưu ly,
Chờ cho hết kiếp, còn gì là thân?
Mười lăm năm, bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi.
Một đời của Kiều đến lúc này, âm đến cùng cực, dương phục hồi, là vận số đến lúc xoay chuyển
Đời người đến thế thì thôi!
Trong cơ âm cực, dương hồi khôn hay.
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay,
Trời làm chi đến lâu ngày càng thương.
Kiều trôi xuôi theo dòng nước, dần đến nơi có chỗ lưới của ngư ông mà Đạm Tiên thuê sẵn, đúng như tiên tri của Tam Hợp Đạo Cô.
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Giác Duyên vớt người lên, nhận ra được đó là Kiều, lúc này Kiều còn đang hôn mê
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước, chưa loà bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
Nàng còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
Trong trạng thái cận tử, Đạm Tiên đã thấy Kiều bèn than thở rằng đã bõ công mười mấy năm đợi chờ Kiều ở sông Tiền Đường, sao Kiều phận mỏng đức dày, tấm lòng không dễ có mấy ai bằng, kiếp này cũng giống như kiếp xưa. (Điều này chứng tỏ Đạm Tiên biết được kiếp trước của Kiều)
Mơ màng phách quế, hồn mai,
Đạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: “Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
Chị sao phận mỏng, đức dày?
Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai!
Đạm Tiên lại trao thông điệp của Hội Chủ đến cho Kiều, trong đó nói đến việc Kiều “cứu người” và “một niềm vì nước vì dân”. Nhưng điều này nếu chỉ đọc truyện Kiều, nhìn vào các sự việc xảy ra trong đời Kiều và các việc Kiều làm, thì không thể nào hiểu nổi. Câu hỏi là Kiều cứu người nào, Kiều vì nước vì dân như thế nào. Người nói và hiểu được những điều lớn lao này chắc chắn chỉ có Hội Chủ. Nhưng những lời khó hiểu này cũng giải thích về thân phận đặc biệt của Kiều, khiến cho cả Hội Chủ và Tam Hợp Đạo Cô đều tiên tri và hỗ trợ cho Kiều để vượt qua đủ các thăng trầm của Đoạn trường.
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm vì nước, vì dân,
Âm công cất một đồng cân đã già.
Đam Tiên báo cho Kiều rằng tên Kiều đã được rút ra khỏi sổ Đoạn trường. Đoạn trường thơ là 10 bài thơ đưa cho Kiều để Kiều hoạ lại cũng cần đưa trả lại cho Hội Chủ.
Đoạn trường sổ, rút tên ra,
Đoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau.
Đạm Tiên còn báo thêm cho Kiều rằng sau này Kiều có được lai duyên xưa trọn vẹn (chính là mối tình với Kim Trọng) và phúc sau này (thường liên quan đến con cái) sẽ được dồi dào.
Còn nhiều hưởng thụ về sau,
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.”
Chia sẻ:
Scroll to Top