![]()
SƯ GIÁC DUYÊN & BÓI KIỀU
Lời khấn dân gian khi bói Kiều là
“Lậy Vua Từ Hải,
Lậy Phật Giác Duyên,
Lậy Tiên Thuý Kiều”
Bói Kiều thì đương nhiên là phải khấn Kiều rồi, xưng danh của Kiều trong lời khấn là Tiên Thuý Kiều. Trong Đoạn trường Tân Thanh, có hai nhân vật có ơn với Kiều nhất là Từ Hải và Giác Duyên. Từ Hải được xưng là vua, vua do dân tự lập vì ông chống lại triều đình, hùng cứ một phương ó quyền sinh quyền sát, nhờ quyền hành này mà ông có thể giúp kiều trả ân báo oán. Người còn lại được gọi tên trong bói Kiều là sư Giác Duyên.
Thày Thích Nhất Hạnh dạy khấn bói Kiều ở Làng Mai như sau
“Cầu thi thánh Nguyễn Du
Cầu đạo cô Tam Hợp
Cầu sư trưởng Giác Duyên
Cầu giáng tiên Thúy Kiều
Tôi tên là…
Xin tham vấn thi thánh, đạo cô, sư trưởng
và giáng tiên về vấn đề ……”
Nguyễn Du là người viết nên truyện Kiều, với những lời về tài và mệnh. Tam Hợp Đạo Cô là người đã tiên tri nhiều sự kiện trong đời Kiều trong đó có sự kiện Kiều trả ân báo oán, Kiều nhảy sông Tiền Đường và hậu vận của Kiều. Bói Kiều khấn hai người đấy cũng là chuẩn.
Còn nhà sư Giác Duyên được nhắc đến trong những lời khấn bói Kiều theo kiểu dân gian và theo kiểu bài bản của thày Thích Nhất Hạnh là ai ?
GIÁC DUYÊN CỨU KIỀU KHỎI NHÀ HOẠN THƯ NHƯNG LẠI ĐẨY KIỀU VÀO TAY BẠC BÀ
Sư Giác Duyên xuất hiện lần đầu trong đời Kiều ở đoạn Kiều trốn ra khỏi nhà Hoạn Thư, rồi tìm đến cửa chùa của sư Giác Duyên xin ở nhờ.
Ở nhà Hoạn Thư, Kiều thấy như ở chốn hang hùm, nọc rắn, không biết sẽ có chuyện gì xảy ra, không biết Hoạn Thư sẽ ra tay tiếp theo thế nào.
Thân ta, ta phải lo âu,
Miệng hùm, nọc rắn, ở đâu chốn này!
Hoan Thư vốn là kẻ cao tay, làm cho Kiều có vào được nhà Hoạn Thư cũng phải sống đi chết lại, đau đớn nhục nhã, muốn ở lại đương nhiên là không được, mà muốn đi cũng đi cũng phải trốn tránh thật xa không bao giờ dám quay lại nữa, chứ Hoạn Thư không thèm đuổi.
Ví chăng chắp cánh cao bay,
Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa.
Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Chỉn e quê khách một mình,
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!”
Thế là đêm đến sáng, Kiều lấy đồ ở nhà Hoạn Thư, giắt vào người rồi vượt tường bỏ trốn về phía tây
Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co,
Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân.
Bên mình giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đã một phần trống ba.
Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
Đêm khuya thân gái dặm trường, rạng sáng mới thấy một ngôi chùa, Kiều vội vàng gõ cửa
Mịt mù dặm cát đồi cây,
Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương.
Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường sá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà.
Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành “Chiêu Ẩn am” ba chữ bài.
Sư trưởng Giác Duyên thấy Kiều ăn mặc nâu sòng đúng chất người tu, liền lấy làm thương. Kiều mặc đồ tu vì Hoạn Thư ép kiều vào am tu ở khuôn viên nhà Hoạn Thư, với pháp danh Trạc Tuyền.
Xăm xăm gõ mé cửa ngoài,
Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Khi bi hỏi lai lịch và lý do đến chùa, Kiều tìm cách nói dối rằng mình là người tu hành đã lâu, Kiều còn dở chuông vàng, khánh bạc lấy trộm ở nhà Hoạn Thư ra để làm chứng, rồi nói bừa rằng sư phụ, sư huynh của mình sẽ đến sau.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
“Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu.
Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.”
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng, khánh bạc bên mình giở ra.
Sư Giác Duyên xem qua mấy cái chuông vàng, khánh bạc này, sư Giác Duyên đồng ý để cho Kiều ở lại chùa ít ngày đợi sư huynh.
Xem qua, sư mới dạy qua:
“Phải nơi Hằng Thuỷ là ta hậu tình.
Chỉn e đường sá một mình,
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.”
Vào được chùa, Kiều tỏ ra thông thuộc việc chùa và hiểu biết về kinh kệ, nên được sư Giác Duyên rất nể, lại càng tin tưởng vào câu chuyện mà Kiều bịa ra.
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya lá bối phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Một hôm, có người dân đến chơi chùa, xem chuông khánh của Kiều đem theo liền bảo giống của nhà Hoạn Nương.
Cửa thiền vừa cữ cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
Gió quang, mây tạnh, thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa già.
Giở đồ chuông khánh xem qua,
Khen rằng: “Khéo giống của nhà Hoạn nương!”
Nghe vậy, Giác Duyên đâm lo, đêm về mới hỏi lại Kiều.
Giác Duyên thực ý lo lường,
Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau.
Kiều biết không giấu nổi, bèn nói thật
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu,
Sự mình, nàng mới gót đầu bày ngay:
“Bây giờ sự đã dường này,
Phận hèn dầu rủi, dầu may tại người.”
Sư Giác Duyên nghe Kiều nói xong, muốn giúp Kiều nhưng không thể để Kiều lại chùa, nên gửi Kiều cho nhà họ Bạc, một người hay đến chùa.
Giác Duyên nghe nói, rụng rời,
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.
Rỉ tai mới kể sự lòng:
“Ở đây, cửa Phật là không hẹp gì.
E chăng những sự bất kỳ,
Để nàng cho đến thế thì cũng thương!
Lánh xa, trước liệu tìm đường,
Ngồi chờ nước đến nên dường còn quê!”
Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân.
Không ngờ Bạc Hà cũng là tay buôn người, kinh doanh lầu xanh như Tú Bà, lập tức thấy Kiều là món ngon.
Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần, tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
Thấy nàng mặn phấn, tươi son,
Mừng thầm được buổi bán buôn có lời.
Chỉ trong một đoạn thơ ngắn, có thể thấy sư Giác Duyên rất dễ tin người, sư mắc hàng loạt sai lầm trong đánh giá con người và sự vật hiện tượng, vì đánh giá theo vẻ bề ngoài, theo nơi chốn, theo biểu đạt công khai ra ngoài, nghĩ rằng ai cũng như mình
– Nhìn quần áo (nâu sòng), vật dụng (chuồng khánh), nghe lời giới thiệu của Kiều (tiểu thiền quy y sư, quy y phật), thấy Kiều thuộc lòng kinh kệ, thạo việc ở chùa là cho rằng Kiều cũng là người tu như mình
– Nhìn chuông khánh mà Kiều lấy cắp của nhà Hoạn Thư thì nghĩ đó là của chùa
– Thấy Phật Tử đến chùa thường xuyên làm công quả, dầu hương thì nghĩ họ cũng tu, cũng là người tốt
– Nghĩ rằng mình hỏi người ta thì người ta sẽ trả lời thật, mình bảo người ta, thì người ta làm theo
Trong những đánh gia này của Giác Duyên, không có chiều sâu về những thứ bị ẩn chứa, bị dấu diếm hay còn có uẩn khúc.
Rõ ràng việc gặp Kiều, đã kéo Giác Duyên vào những trải nghiệm phức tạp và đa dạng hơn hẳn môi trường tu tập một chiều của mình.
GIÁC DUYÊN ĐƯỢC KIỀU TRẢ ƠN
Giác Duyên gặp Kiều lần hai khi Kiều mời Giác Duyên đến gặp mình để trả ơn, trong đợt Từ Hải giúp tìm về những người có oán có ân với Kiều từ lúc bán mình chuộc cha.
Kiều báo oán những kẻ lừa mình theo lời thề, lời hứa giả dối mà những kẻ đó đã nói ra.
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao, thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi, thịt nát tan tành,
Ai ai trông thấy hồn kinh, phách rời.
Kiểu trả ân bằng vàng hai người đã giúp Kiều là mụ già ở nhà Hoạn Thư và sư trưởng Giác Duyên. Mụ già ở nhà Hoạn Thư tuy làm cho Hoạn Thư nhưng cũng giúp đỡ Kiều được yên ổn tạm trong công việc tu hành. Sư Giác Duyên thì ân nghĩa còn lớn hơn, tuy sư Giác Duyên gửi kiều cho Bạc Bà, nhưng bản thân sư Giác Duyên cũng bị lửa mà thôi. Cho nên việc báo ân này là theo cái tâm thiện của người gia ân.
Mụ già, sư trưởng, thứ hai,
Thoắt đưa đến trước, vội mời lên trên.
Dắt tay, mở mặt cho nhìn:
“Hoa Nô kia, với Trạc Tuyền, cũng tôi.
Nhớ khi lỡ bước, sẩy vời,
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!”
Hai người trông mặt tần ngần,
Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui.
Sau khi xem Kiều báo oán thì Giác Duyên xin tạ từ ngay.
Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác Duyên vội đã gửi lời từ quy.
Sau đó sư Giác Duyên nói rằng đã được sư Tam Hợp Đạo Cô tiên tri về lần gặp gỡ này. Sư Giác Duyên vẫn là người rất giàu niềm tin, đức tin. Lần này niềm tin của sư Giác Duyên dành cho Tam Hợp Đạo Cô, không phải dựa trên danh xưng hay vẻ bề ngoài, mà dựa trên chứng nghiệm của mình về tiên tri của Tam Hợp Đạo Cô.
Nàng rằng: “Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàng hoàng.
Rồi đây bèo hợp, mây tan,
Biết đâu hạc nội, mây ngàn là đâu!”
Sư rằng: “Cũng chẳng mấy lâu,
Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
Nhớ ngày hành cước phương xa,
Gặp sư Tam Hợp, vốn là tiên tri.
Bảo cho hội hợp chi kỳ:
Năm nay là một, nữa thì năm năm.
Mới hay tiền định chẳng lầm,
Đã tin điều trước, ắt nhằm điều sau.
Khi biết về tài tiên tri của Tam Hợp Đạo Cô, Kiều đã nhờ Giác Duyên hỏi Đạo Cô về kết cục của Đoạn trường tân thanh và Giác Duyên đồng ý
Còn nhiều ân ái với nhau,
Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì?”
Nàng rằng: “Tiền định tiên tri,
Lời sư đã dạy, ắt thì chẳng sai.
Hoạ bao giờ có gặp người,
Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân.”
Giác Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ từ, thoắt đã dời chân cõi ngoài.
GIÁC DUYÊN HỎI TAM HỢP ĐẠO CÔ VỀ SỐ PHẬN CỦA KIỀU
Giác Duyên từ tiết giã nàng,
Đeo bầu quảy níp, rộng đường vân du.
Gặp bà Tam Hợp đạo cô,
Thong dong, hỏi hết nhỏ to sự nàng:
“Người sao hiếu nghĩa đủ đường,
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?”
Sư rằng: “Phúc hoạ đạo trời,
Cội nguồn, cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cội phúc, tình là dây oan.
Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan,
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
Ma đưa lối, quỷ đưa đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Hết nạn ấy, đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.
Trong vòng giáo dựng, gươm trần,
Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi.
Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi,
Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh.
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết, một mình mình hay.
Làm cho sống đoạ, thác đày,
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!”
Tam Hợp Đạo cô nói rằng Kiều sẽ gieo mình xuống nước và đoạn trường cho đến hết kiếp. Đoạn trường dó số mệnh của Kiều mà cũng do tính cách của Kiều tạo nên.
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
“Một đời nàng nhé! Thương ôi còn gì?”
Sư rằng: “Song chẳng hề chi,
Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội nghiệp Thuý Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.
Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Hại một người, cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng,
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.
Khi nên, trời cũng chiều người,
Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!”
Tam Hợp Đạo Cô cũng cho Giác Duyên biết trước là bà có số cứu Kiều ở sông Tiền Đường.
Một trong những điều khó hiểu nhất trong các tiên tri của Tam Hợp Đạo Cô về Kiều là nói rằng Kiều “hại một người, cứu muôn người”. “Hại một người” có lẽ là hại chính mình, nhưng “cứu muôn người” là cứu ai ? Vì sao việc Kiều bán mình chuộc cha lại cứu được muôn người ? Có thể Giác Duyên cũng không hiểu được ý tứ xâu sa của Tam Hợp Đạo Cô, mà bà sẽ tập trung vào những gì mình sẽ làm được, là cứu Kiều ở sông Tiền Đường, khoảng 5 năm sau khi găp Kiều ở chỗ Từ Hải.
GIÁC DUYÊN CỨU KIỀU Ở SÔNG TIỀN ĐƯỜNG
Để chuẩn bị cuộc gặp Kiều ở sông Tiền Đường vào năm đã được Tam Hợp Đạo Cô tiên tri, Giác Duyên đã phải chuyển thảo đường của mình về bên sông và thuê người ngư phủ, cả năm “đóng thuyền chức bến, kết chài giăng sông” sẵn sàng cứu người bị nạn. Việc chờ sẵn cứu người, không đơn giản vì sông Tiền Đường đâu có nhỏ, làm sao có thể biết được Kiều sẽ nhảy sông ở đoạn nào và trôi đến đoạn nào.
Giác Duyên nghe nói mừng lòng,
Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường.
Đánh tranh, chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.
Thuê năm, ngư phủ hai người,
Đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quản mấy công,
Khéo trong gặp gỡ cũng trong chuyển vần.
Rồi cũng đến ngày Kiều nhảy sông Tiền Đường tự vẫn, ngư ông vội kéo lưới vớt được kiều y như lời Tam Hợp Đạo Cô.
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước, chưa loà bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
Nàng còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
Lúc được vợt lên, Kiều ở trạng thái cận tử, gặp được Đạm Tiên và biết mình đã được rút tên khỏi sổ Đoạn Trường và được tiên tri. Đạm Tiên đã đợi Kiều mười mấy năm ở sông Tiền Đường từ lúc được biết Kiều sẽ tự tử ở sông Tiền Đường. Đạm Tiên nói với Kiều về đoạn đời sau sẽ có cả duyên và phúc.
Mơ màng phách quế, hồn mai,
Đạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: “Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
Chị sao phận mỏng, đức dày?
Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai!
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm vì nước, vì dân,
Âm công cất một đồng cân đã già.
Đoạn trường sổ, rút tên ra,
Đoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về sau,
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.”
Điều kỳ lạ là Đạm Tiên nói Kiều “một niềm vì nước, vì dân”, nên cùng một số lý do khác, đã được rút tên khỏi sổ Đoạn Trường.
Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
“Trạc Tuyền!” – Nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng, nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền, nào thấy Đạm Tiên?
Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Giác Duyên gọi Kiều theo pháp danh của nàng khi còn ở nhà Hoạn Thư, là Trạc Tuyền và Kiều tỉnh dậy.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền, mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
Nạn xưa, trút sạch làu làu,
Duyên xưa, chưa dễ biết đâu chốn này.
Như vậy có 2 người đợi Kiều ở sông Tiền Đường là Đạm Tiên 15 năm và Giác Duyên 1 năm, và cả hai cùng tham gia vào việc cứu hồn và xác của Kiều ở đây.
GIÁC DUYÊN GIÚP KIỀU GẶP ĐƯỢC KIM TRỌNG VÀ GIA ĐÌNH
Khi dò la tin tức và biết Kiều đã tự tử trên sông Tiền Đường, Kim Trọng cùng gia đình Kiều làm lễ cúng cho nàng bên sông Tiền Đường.
Thương ôi! Không hợp mà tan,
Một nhà vinh hiển, riêng oan một nàng!
Chiêu hồn, thiết vị, lễ thường,
Giải oan, lập một đàn tràng bên sông.
Ngọn triều non bạc trùng trùng,
Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.
Tình thâm, bể thảm, lạ điều,
Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào?
Cơ duyên lạ lùng khiến Giác Duyên đi qua, thấy bài vị tên Kiều liền hỏi thăm, và cho biết Kiều vẫn còn sống, được Giác Duyên cứu và đưa về cùng tu ở thảo am của mình.
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao?
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: “Những người đâu ta?
Với nàng thân thích gần xa?
Người còn, sao bỗng làm ma khóc người?”
Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
Xúm quanh kể họ, rộn lời hỏi tra:
“Này chồng, này mẹ, này cha,
Này là em ruột, này là em dâu.
Thật tin nghe đã bấy lâu,
Pháp sư dạy thế, sự đâu lạ dường!”
Sư rằng: “Nhân quả với nàng,
Lâm Chuy buổi trước, Tiền Đường buổi sau.
Khi nàng gieo ngọc, trầm châu,
Đón nhau, tôi đã gặp nhau rước về.
Cùng nhau nương cửa bồ đề,
Thảo am đó, cũng gần kề chẳng xa.
Phật tiền ngày bạc lân la,
Đăm đăm, nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.”
Giác Duyên liền đưa cả gia đình Kiều về thảo am của mình gặp Kiều
Nghe tin, nở mặt, mở mày,
Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng?
Từ phen chiếc lá lìa rừng,
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.
Rõ ràng hoa rụng, hương bay,
Kiếp sau hoạ thấy, kiếp này hẳn thôi.
Minh dương, đôi ngả chắc rồi,
Cõi trần mà lại thấy người Cửu Nguyên.
Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ hành một lũ, theo liền một khi.
Bẻ lau, vạch cỏ tìm đi,
Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.
Quanh co theo dãy giang tân,
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.
Giác Duyên lên tiếng gọi nàng,
Buồng trong, vội dạo sen vàng bước ra.
Trông xem đủ mặt một nhà:
Xuân già còn khoẻ, huyên già còn tươi.
Hai em phương trưởng hoà hai,
Nọ chàng Kim đó, là người ngày xưa!
Tưởng bây giờ là bao giờ,
Rõ ràng mở mắt, còn ngờ chiêm bao!
Giọt châu thánh thót quyến bào,
Mừng mừng, tủi tủi, xiết bao sự tình!
GIÁC DUYÊN BỎ ĐI ĐỂ KIỀU RỘNG ĐƯỜNG QUAY LẠI VỚI KIM TRỌNG
Kiều ban đầu muốn tiếp tục con đường tu hành với sư Giác Duyên, nhưng vì theo ý muốn gia đình lại làm lễ bái đường và động phòng với Kim Trọng. Trong lễ động phòng, Kiều ngỏ ý muốn đổi từ tình yêu sang tình bạn, coi nhau như tri kỷ mà thôi. Sau đó Kiều lập một am tu, và đi tìm thấy Giác Duyên rước về, nhưng Giác Duyên tự biết rằng việc của mình với Kiều đã xong, muốn Kiều rộng đường đi theo tình duyên và gia đình của mình, nên đã tự bỏ đi, không để lại tin tức hay lời nhắn gửi gì.
Nhớ lời, lập một am mây,
Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.
Đến nơi đóng cửa, gài then,
Rêu trùm kẽ ngạch, cỏ lên mái nhà.
Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay, hạc lánh, biết là tìm đâu?
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.
Một nhà phúc lộc gồm hai,
Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc, một sân quế hoè.
Phong lưu phú quý ai bì,
Vườn xuân một cửa để bia muôn đời.
Trong Đoạn trường đời Kiều, người nghĩ cho Kiều, người lo cho Kiều, người vất vả vì Kiều thật không ai sánh bằng Giác Duyên. Giác Duyên vì cái tình của mình với Kiều, vì đức tin với Tam Hợp Đạo Cô và đạo trời, đã hết lòng hết dạ ở bên Kiều trong những lúc nguy nan nhất và chủ động rời xa Kiều khi nàng đã về lại với gia đình. Có thể nói Đoạn Trường Tân Thanh là con đường Kiều đi, nhưng trên con đường đó chính Giác Duyên lại là người trưởng thành vượt bậc, cả Kiều và Giác Duyên đều tu thành không phải trong đời mà trong bể khổ trầm luân.
Trong bói Kiều, Giác Duyên được dân gian xưng tụng là Phật, là nói về cái tâm Phật của bà, như Kiều được xưng là tiên, là nói về cái năng lượng, cái gốc gác của Kiều. Thày Thích Nhất Hạnh chỉ gọi sư Giác Duyên là sư trưởng, còn Kiều là giáng tiên, nghĩa là cái gốc là tiên mà đầu thai làm người thường. Cách gọi của thày Thích Nhất là nói theo con người hai người ấy trong đời, còn dân gian gọi là theo cái gốc tinh thần.
