![]()
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
TRẢI QUA MỘT CUỘC BỂ DÂU
Cuộc bể dâu là cuộc chuyển đổi của nước thành đất, cuộc mất nước thêm đất, cuộc khô cạn dần của sông và biển, ví dụ
– một vùng biển cạn đi biến thành bãi bồi
– các con sông bị cạn đi biến các vùng sông nước mênh mông thành đất trồng trọt
Bể dâu cũng là quá trình chuyển hoá máu huyết thành thân thể. Trong một vòng đời, bể dâu là các chuyển đổi sau
– chuyển từ giai đoạn trứng nước sang giai đoạn phôi dâu
– chuyển từ giai đoạn phôi dâu sang phôi thai
– chuyển từ giai đoạn phôi dâu thai sang bào thai
– chuyển từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn ra đời
– chuyển qua các giai đoạn từ sơ sinh đến trưởng thành
Mỗi một giai đoạn kể trên đều là một cuộc bể dâu, mà nước chuyển đổi thành đất, thân thể (đất) ăn máu huyết của cha mẹ càng ngày càng lớn dần lên.
Cuộc bể dâu hay “bãi bể nương dâu” là thành ngữ chỉ sự thay đổi to lớn của trời đất, bắt nguồn từ điển tích “thương hải tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu), kể về tiên nữ Ma Cô từng nói với Vương Phương Bình rằng từ khi đắc đạo đến nay, bà đã chứng kiến biển Đông ba lần biến thành ruộng dâu. Ba lần biển Đông biến thành ruộng dâu là ba thời kỳ rất lớn của Trái đất.
Cuộc chiến đất nước của dân tộc Việt được mô tả bằng cuộc chiến Sơn tinh – Thuỷ tinh ở đời Hùng Vương 18. Sơn tinh (đại diện cho đất) thắng Thuỷ tinh (đại diện cho nước). Cuộc bể dâu lớn này mở đầu cho Công nguyên mà có hàng loạt cuộc bể dâu nhỏ hơn, mà mỗi lần như vậy đều gây ra các biến động địa chất, sinh học và xã hội cực kỳ lớn.
Truyện Kiều xảy ra sau một cuộc bể dâu, và cuộc đời của Nguyễn Du cũng xảy ra trong một cuộc bể dâu.
NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG
“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” chính là hiện trạng chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau, chữ Tài đánh chết chữ Mệnh trong mỗi con người và trong toàn xã hội.
Mệnh suy : Mệnh là cái ẩn, cái tinh thần, gắn với linh hồn. Hiện nay không ai hỏi mệnh là gì, định mệnh của mình là gì, làm thế nào để sống thuận mệnh.
Tài thịnh : Tài là cái hiện, cái gắn nhiều hơn với thân thể, vật chất. Hiện nay, ai cũng chăm lo có thêm và tích luỹ tài vật, tài chính, tiền tài, cũng mong phát triển và thể hiện tài năng, tài trí …
Tài là mục đích cuộc đời thay cho mệnh, trong khi tài suy cho đến cùng chỉ là công cụ và cách thức vận hành của cái tôi để đạt được mệnh mà thôi.
Quan hệ của tài và mệnh hiện đang đảo ngược và thực trạng đang hiện ra rành rành trước mắt, khiến cho đau đớn lòng.
LẠ GÌ BỈ SẮC TƯ PHONG
“Lạ gì” là một cách nói dân gian mang tính chê bai về một cái gì phổ biến như “lạ gì thói đời”… “Lạ gì bỉ sắc tư phong” là lạ gì thói đời, cụ thể là thói “bỉ sắc tư phong”.
“Bỉ sắc, tư phong” là gì theo tiếng Việt ?
– phong : 1. gió, 2. hơi thở : phong sát (chặn đường thở, làm cho tắc thở). 3. phong cách, phong thái mang tính tinh thần, 4. đề cao : phong chức, phong tước, sắc phong …, 5. phong phú, 6. phong thuỷ,
– sắc : 1. màu sắc : sắc đỏ, sắc tím, sắc đậm, sắc nhạt … 2. sắc (dao, kiếm), 3. sắc sảo, sắc lẹm (lý trí, lời lẽ), 4. sắc đẹp, sắc diện, sắc thái (mang tính hình thức), 5. dấu sắc (trong bộ dấu sắc huyền hỏi ngã nặng bằng)
– bỉ : 1. bỉ trong bộ âm “bí – bì – bi – bĩ – bị – bỉ”, là một cái bao xấu, nhỏ, hẹp, bí, rỗng không, 2. rỗng không (cái bao rỗng không), 3. bên kia, ở kia, chỗ kia (không ở bên trong, không thuộc về mình, không liên quan), 4. bỉ trong “bỉ ổi”, “khinh bỉ”,
– tư : 1. thuộc về cá thể, thuộc về nhân, có tính bên trong, có tính riêng tư : tư nhân, tư hữu, tư bản, tư cách, tư lự, 2. bốn (bốn cái nhân, bốn bên trong như thứ tư là ngày giữa tuần)
“Bỉ sắc, tư phong” nghĩa là
– “khinh sắc, trọng phong”
– “sắc thái ở bên ngoài, phong thái ở bên trong”
Nhiều người đọc Kiều cho rằng “Bỉ sắc, tư phong” xuất phát từ một thành ngữ gốc Hán “Phong ư bỉ, sắc ư thử” (chữ Hán: 豐 於 彼, 嗇 於 此) thường được hiểu là “phong phú ở chỗ này, thì lại thiếu thốn ở chỗ kia”.
“Lạ gì bỉ sắc tư phong” chính là sự diễn giải chữ nghĩa hơn của câu nói dân gian “Chữ tài chữa mệnh khéo là ghét nhau” và có nghĩa là “được cái sắc tài hiện ra bên ngoài cái vỏ, thì mất cái phong mệnh ở trong tâm mỗi cá nhân”.
TRỜI XANH QUEN THÓI, MÁ HỒNG ĐÁNH GHEN
“Trời xanh quen thói” đối xứng với “má hồng đánh ghen”
– “Trời xanh” : trời thường mang tính tinh thần, tính mệnh, gắn với tính nam,
– “Má hồng” là thân thể, là hình thức, một biểu tượng của người con gái
– “Quen thói” là một trạng thái tinh thần có tính lặp lại từ các vận hành đã thành lập nên từ trước
– “Đánh ghen” là hành động thân thể, có tính sự vụ bất thường.
“Trời xanh quen thói” là một trạng thái suy về tinh thần, suy về mệnh của nam.
“Má hồng đánh ghen” là trạng thái suy về thân và quan hệ gia đình của nữ
Câu này vẫn cùng mạch với “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” hoặc “lạ gì bỉ sắc tư phong”; và làm rõ hơn về “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Có một số giải nghĩa câu này là ông trời xanh quen thói (xấu tính) đánh ghen má hồng là nàng Kiều, vì nàng có tài, nên cho nàng cuộc đời khổ sở. Những người giải giải câu này theo ý trên muốn rằng tài giỏi như Kiều, số mệnh phải sướng. Nếu chúng ta chấp nhận câu “Đã mang lấy nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa” ở phần cuối truyện Kiều như một chân lý, thì không thể dịch câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” như thế. Dịch như thế là ngược hẳn với ý của Nguyễn Du, là tài phải thuận theo mệnh.
Tóm lại, cả sáu câu đầu của truyện Kiều nói về thực trạng của xã hội mà có sự mâu thuẫn âm dương giữa tài và mệnh, giữa sắc (hình thức, cấu trúc) và phong (tinh thần, vận hành), dẫn đến sự suy thoái cả về thân và mệnh, của cả đàn ông và phụ nữ, nói cách khác là một sự suy thoái đối với cả âm và dương.
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
