![]()
NGƯỜI MINH HƯƠNG
Ca dao có câu
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng,
Đố ai thanh lịch bằng làng Minh Hương.
Chầu rày xa phố Hội An
Xa chùa Ông Bổn, xa làng Minh Hương
Người Minh Hương là một bộ phận người Hoa ở vùng Nam Bộ, Việt Nam. Tên Minh Hương có nguồn gốc từ tên triều đại mà những người này đã sinh sống: nhà Minh. Đến khi nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Quốc, xáo trộn chính trị khiến họ phải lưu vong sang đàng Trong.
Ban đầu chữ “hương” dùng chữ 香 có nghĩa là “hương hỏa” (香火), đến năm 1827 đổi sang chữ 鄉 nghĩa là “làng”. Như vậy Minh Hương có thể hiểu là “làng của người Minh” và cũng có thể hiểu là “làng sáng sủa”, sau được dùng để gọi cộng đồng người Hoa.
Người Minh Hương chủ yếu đến từ vùng phía nam của Trung Quốc, vì sang đến đời hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh, là Khang Hy (1661–1722) thì toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm vùng phía Nam mới hoàn toàn nằm dưới quyền cai trị của nhà Thanh. Vùng phía Nam này thực ra cũng có gốc Bách Việt và nói thứ ngôn ngữ nhiều phần giống tiếng Việt.
Cùng với người Việt, người Minh Hương là một bộ phận người Hoa có công rất lớn trong công cuộc khai phá vùng đất phía nam của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn.
Trải qua nhiều đời người Minh Hương đã hòa huyết với người Việt, ngày nay con cháu của người Minh Hương là phần lớn đã là người Việt và chỉ nói tiếng Việt, tuy vẫn có một số ít vẫn còn giữ được phong tục của người Hoa, khác nhiều với bộ phận người Hoa qua Việt Nam từ cuối thời Thanh, đầu thời Dân quốc.
—o—
NHÀ MINH
Nhà Minh, quốc hiệu chính thức là Đại Minh, là triều đại cai trị Trung Quốc từ năm 1368 đến năm 1644 sau sự sụp đổ của nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo. Nhà Minh là hoàng triều Trung Quốc cuối cùng của người Hán. Mặc dù kinh đô chính Bắc Kinh đã thất thủ vào năm 1644, trước cuộc nổi dậy do Lý Tự Thành (người thành lập nhà Đại Thuận sớm bị thay thế bởi nhà Thanh của người Mãn Châu) cầm đầu, nhiều quốc gia tàn dư được cai trị bởi những thành viên còn lại của hoàng tộc nhà Minh – gọi chung là Nam Minh – vẫn tồn tại cho đến năm 1662.
—o—
NHÀ THANH
Nguồn gốc của người Mãn Châu là người Nữ Chân, hoàng tộc Ái Tân Giác La là một bộ tộc của Kiến Châu Nữ Chân, thuộc sự quản lý của Kiến Châu vệ của nhà Minh. Kiến Châu vệ là một vệ sở được nhà Minh thiết lập tại Đông Bắc Trung Quốc, thuộc đơn vị hành chính biên phòng triều Minh, từng thuộc sự quản lý của Nô Nhi Càn Đô ty, mà Ái Tân Giác La thị nhiều đời là Đô chỉ huy sứ của Kiến Châu tả vệ. Năm 1616, một người Nữ Chân là Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã dựng quốc xưng Hãn, thành lập nhà nước “Đại Kim” (chữ Hán: 大金; bính âm: Dà Jīn) ở vùng Đông Bắc Trung Quốc – sử sách gọi là Hậu Kim để phân biệt với nhà Kim cũng của người Nữ Chân từng tồn tại vào thế kỷ 12–13; đóng đô ở Hách Đồ A Lạp – còn gọi là “Hưng Kinh”. Đến năm 1636, người thừa kế Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Hoàng Thái Cực xưng Đế ở Thịnh Kinh, đổi quốc hiệu thành Đại Thanh (chữ Hán: 大清; bính âm: Dà Qīng), lúc ấy, lãnh thổ chỉ dừng lại ở vùng Đông Bắc Trung Quốc và khu vực Mạc Nam, nhưng cũng đã gây đe dọa lớn với nhà Minh, vốn đã rút lui về phía nam Vạn Lý Trường Thành. Năm 1644, Lý Tự Thành xuất quân đánh chiếm Bắc Kinh, nhà Minh diệt vong. Cùng năm đó, Ngô Tam Quế vốn là tướng tàn dư của nhà Minh, vì để đối kháng Lý Tự Thành mà đã đầu hàng nhà Thanh. Quân Thanh dễ dàng tiến qua Sơn Hải quan, đánh bại Lý Tự Thành, chính thức dời đô về Bắc Kinh, cũng mở động một cuộc nam hạ quy mô lớn. Trong vòng thời gian mấy chục năm sau, nhà Thanh lần lượt tiêu diệt thế lực đối địch còn sót lại như tàn dư nhà Minh ở Hoa Bắc, quân Đại Thuận của Lý Tự Thành, Đại Tây của Trương Hiến Trung, Nam Minh và nhà nước Minh Trịnh của Trịnh Thành Công; thống nhất toàn bộ Trung Quốc. Nhà Thanh chinh phục và trở thành triều đình cai trị lãnh thổ của: Trung Quốc bản thổ (1644–1662), đảo Đài Loan (1683), Ngoại Mông (1691), Tây Tạng (1751), Tân Cương (1759); hoàn thành cuộc chinh phục của người Mãn Châu. Vào giai đoạn cực thịnh cuối thế kỷ 18, nhà Thanh kiểm soát lãnh thổ rộng tới 13 triệu km2 (lãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng 9,6 triệu km2), là thời kỳ mà lãnh thổ Trung Quốc đạt mức rộng lớn nhất trong lịch sử.
—o—
NHỮNG NGƯỜI MINH HƯƠNG NỔI TIẾNG
– Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích
– Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình
– Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến
TRẦN THƯỢNG XUYÊN, TRẦN AN BÌNH & DƯƠNG NGẠN ĐỊCH, HOÀNG TIẾN
Năm Kỷ Mùi (1679), vì không muốn quy phục nhà Thanh, bốn vị tướng nhà Minh đã đem hơn 3.000 người cùng 50 chiếc thuyền từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào hai cửa biển của Việt Nam xin qui phụ. Nghe theo lời bàn của triều thần, chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho họ vào khai khẩn những vùng đất ở phía Nam. Từ đó, nhóm người Hoa này đã vỡ đất phá hoang, cày ruộng, dựng nhà và phố chợ, buôn bán với thương nhân đến từ nhiều nước khác… và dần dần hình thành nên một trong những khu phố Hoa kiều lớn nhất trên thế giới.
Đội quân tình nguyện đi lưu đày đã đổ bộ ở Đà Nẵng vào năm 1679. Thực ra, thì số 3.000 người của nhóm này thuộc về hai đoàn quân khác nhau của tỉnh Quảng Đông. Họ ra đi cùng một lúc, mang theo khí giới và hành lý trên hơn 50 chiếc tàu. Hình như không có sự hợp nhất của hai đoàn, mà mỗi đoàn đều có người lãnh đạo riêng.
Đoàn thứ nhất có Trần Thượng Xuyên, chỉ huy các quận Kao lei và In lien, phụ tá là bộ tướng Trần An Bình; đoàn thứ hai do Dương Ngạn Địch, quận trưởng quận Long Môn và bộ tướng của ông là Hoàng Tiến điều khiển. Những vị tướng lĩnh đã một đến vùng Thuận Hóa (Huế) xin tá túc với triều đình Đàng Trong. Nhưng chúa Nguyễn không muốn cho họ ở Đà Nẵng vì sợ bị nhà Thanh trả thù, và cũng để tránh những xáo trộn không khỏi gây ra bởi một binh đội ngoại quốc lớn như thế ở quá gần kinh đô.
Chúa Nguyễn bèn giải quyết bằng cách cho họ vào khai phá miền đất mới là Thủy Chân Lạp, mới vừa chiếm được của Campuchia, với nhiệm vụ duy nhất là đóng các thứ thuế ruộng đất hiện hành. Những người lãnh đạo bèn đem quân lính của họ đi vào phương Nam, đi riêng từng đoàn một.
Trần Thượng Xuyên cùng với đoàn người đi theo ông đến lập nghiệp ở Trấn Biên (sau này là Biên Hòa) và bắt đầu khai khẩn vùng Đồng Nai khi ấy hoàn toàn là rừng rú. Vốn sẵn là nông dân, những người mới đến đã thành công mau chóng trong việc biến đất hoang thành đồng ruộng phì nhiêu.
Riêng phần Dương Ngạn Địch, chia người của đoàn ông thành hai toán, chính ông giữ một toán ở đất Phan Trấn (hay Phiên Trấn, sau này là Gia Định) và giao toán kia cho phụ tá của ông là Hoàng Tiến, ông này dẫn họ đến Mỹ Tho trên sông Mê Kông. Khôn ngoan, khéo léo, siêng năng, giỏi xử sự, những người mới đến này tỏ ra là những người buôn bán và thợ thủ công tài giỏi. Sự có mặt của họ góp phần rất nhiều vào sự thịnh vượng của nội thương và ngoại thương của xứ này. Những kỹ thuật mới họ nhập khẩu làm cho ngành thủ công địa phương bành trướng một cách cấp tốc.
Khi Dương Ngạn Địch thành công trong việc biến Phan Trấn thành một giang khẩu phồn thịnh, thì bộ tướng của ông là Hoàng Tiến lại nuôi nhiều dự định trên vùng Châu thổ sông Mê Kông nên ông không chăm lo việc trồng trọt gì cả, vì rằng tên tướng võ này đã nuôi dưỡng tham vọng thầm kín là tạo dựng một vương quốc thực sự cho riêng mình. Năm 1688, Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch, chiếm giữ đất Phan Trấn và khởi công chinh phạt Campuchia. Hành động táo bạo này gây nhiều hậu quả trầm trọng: Hoàng Tiến chết ở chiến trường trong khi quân đội Khmer tràn sang miền Đông Nam Bộ. Trần Thượng Xuyên bèn can thiệp và đánh đuổi người Campuchia về nước họ.
Khi nhà Minh bị diệt, gần như cùng lúc với Trần Thượng Xuyên ở cù lao Phố, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, Mạc Cửu – một thương gia trẻ – cũng bỏ nước ra đi. Mạc Cửu hay Mạc Kính Cửu (1655 – 1735); là một thương gia người Hoa có công khai phá, hình thành vùng đất Hà Tiên (Kiên Giang) vào khoảng đầu thế kỷ XVII ở Việt Nam.
Nói về Mạc Cửu, sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức chép: “Hà Tiên vốn là đất cũ của Chân Lạp, tục gọi là Mường Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành. Ban đầu có người tên là Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, vào thời Đại Thanh, niên hiệu Khang Hi thứ mười chín (1680), nhà Minh mất hẳn (nhưng mãi đến năm Khang Hi thứ mười chín, vùng Quảng Đông mới bình định xong). Mạc Cửu không khuất phục chính sách buổi đầu của nhà Đại Thanh, mới chừa tóc rồi chạy qua phương Nam, trú tại phủ Nam Vang nước Cao Miên. Ông thấy ở phủ Sài Mạt của nước ấy, người Việt, người Trung Hoa, Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và) các nước tụ tập mở trường đánh bạc để lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, bèn thầu mua thuế ấy, lại còn đào được một hầm bạc nên bỗng trở thành giàu có. Từ đó ông chiêu mộ dân Việt Nam lưu tán ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ (hay Trũng Kè, Lũng Cả – Réam), Cần Bột (Cần Vọt – Kampôt), Hương Úc (Vũng Thơm – Kompong Som), Giá Khê (Rạch Giá), Cà Mau lập thành bảy xã thôn. Tương truyền ở đây thường có tiên xuất hiện trên sông, do đó mới đặt tên là Hà Tiên (tiên trên sông)”.
Vốn có óc tổ chức, Mạc Cửu chiêu tập dân xiêu tán người Hoa, Việt mở phố xá, xây thành lũy, đẩy mạnh khai hoang lập ra bảy thôn trải dài ven biển từ Kompongsom (Chân Lạp) về tận Cà Mau. Với chủ trương để cho dân khai hoang tự do, không thu tô thuế, chỉ đứng ra tổ chức mua sản phẩm để bán lại cho khách buôn. Chính điều này đã quy tụ dân cư đến Mang Khảm ngày càng đông. Ghe thuyền các nơi, kể cả nước ngoài đến mua bán tấp nập. Sự thịnh vượng khiến cho đất này gặp tai họa.
Trong khoảng thời gian 1687 – 1688, quân Xiêm vào cướp phá Mương Khảm, bắt Mạc Cửu đưa về Xiêm ở Vạn Tuế Sơn (tác giả sách Nghiên cứu Hà Tiên có ý kiến khác, xem bên dưới). Sau đó, ông trốn về Lũng Kỳ (Lũng Cả), dân xiêu tán tụ về với ông ngày một đông, nhưng do địa thế chật hẹp, khoảng năm 1700, ông trở về Phương Thành (Hà Tiên). Năm 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau, Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác. Ông lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm, Long Kỳ, Cần Bột, Hương Úc, Sài Mạt, Lình Quỳnh và Phú Quốc (đảo Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Cảng Khẩu (còn gọi là Mán Khảm, Kan Kao, Căn Khẩu, Căn Kháo, Căn Cáo)[9].Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có).
LÀNG THANH HÀ & LÀNG MINH HƯƠNG
Nước Chân Lạp đã có một dân số gồm 40.000 gia đình, trong số đó có một tỷ lệ quan trọng là người nhập cư Trung Hoa ở rải rác trên một diện tích đất đã khai phá rộng 1.000 dặm. Triều đình Huế cử quan khâm sai Nguyễn Hữu Chỉnh (Nguyễn Cư Trinh) vào để vạch rõ ranh giới của những quận huyện mới và quy tụ dân chúng lại. Đất Đồng Nai do đó trở thành huyện Phước Long với huyện lị là thị trấn Trấn Biên ở vùng Sài Côn (tên xưa của Sài Gòn) thuộc quận Tân Bình (quận lị: Phan Trấn). Vì có đông người nhập cư Trung Hoa ở rải rác trong hai vùng đất mới đó, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định tập trung họ vào những vùng cư trú riêng biệt.
Do đó mà Trấn Biên đã sáng lập ra làng Thanh Hà, hay “Làng của những người Thanh”, cho những người mới ra nhập cư và những người vừa mới đến được xem như thần dân của đế quốc Mãn Thanh và ở làng Phan Trấn là làng Minh Hương, hay “làng của những người Minh”, dành cho những người nhập cư từ trước và con cháu của họ được xem là trung thành với triều đại đã tiêu vong của nhà Minh. Năm 1698, ở vùng Phiên Trấn – Bến Nghé – Sài Gòn đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, Chợ Lớn cũ.
Tấm biển khắc 4 chữ thiện tục khả phong do vua Tự Đức ban tặng năm 1863 nay vẫn còn treo trước chính điện đình Minh Hương Gia Thạnh. Có thể nói đây là làng duy nhất hoặc hiếm hoi có hương ước ở Nam Bộ thời nhà Nguyễn: Minh Hương xã hương ước khoán văn.
