CÁC DÒNG HỌ HÀO TRƯỞNG CỦA ĐẤT HỒNG CHÂU THĂNG LONG

Loading

HỒNG CHÂU
Hồng Châu có thể được coi là viên ngọc hay trái tim của xứ Đông Thăng Long mà hình thành trên châu thổ cửa biển sông Hồng.
Hồng Châu (châu Hồng) là một châu thuộc quận Giao Chỉ thời thuộc Đường nằm gọn vào huyện Chu Diên.
Hồng Châu vẫn được giữ nguyên tên dưới thời Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền
Tên Hồng Châu hay Hồng Lộ vẫn tồn tại vào thời Lý – Trần.
Đến cuối Trần đầu Hậu Lê thì Hồng Châu chia thành Thượng Hồng và Hạ Hồng. Thượng Hồng là Cẩm Giàng, Bình Giang, Yên Mỹ, Văn Lâm ngày nay. Hạ Hồng gồm: Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, Thanh Miện ngày nay.
Sang đời Quang Thuận nhà Hậu Lê (1460 – 1469) phủ Hạ Hồng quản 4 huyện: Trường Tân (Gia Lộc), Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (gồm Ninh Giang, Vĩnh Bảo).
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) phủ Hạ Hồng mang tên mới là phủ Ninh.
Như vậy, Hồng Châu xưa bao gồm một phần đất của tỉnh Hưng Yên, một phần đất của Hải Dương và một phần của Hải Phòng bây giờ.
Hồng Châu là một trung tâm lớn, tạo nên thế trận anh hùng kết thúc thời kỳ Bắc thuộc sang thời kỳ phong kiến độc lâp của nước ta.
—o—o—o—
CÁC DÒNG HỌ HÀO TRƯỞNG ĐẤT HỒNG CHÂU
Các vị hào trưởng sinh ra và lập công trên đất Hồng Châu phải kể đến
– Khúc Thừa Dụ, và các con (họ Khúc)
– Phạm Bạch Hổ, và dòng họ Phạm của ông
– Đoàn Thượng
Ngoài ra còn có họ Ngô và họ Dương, mà thông gia với nhau và thông gia với các hào trưởng Hồng Châu, thời gian nước ta bắt đầu giành được độc lập, kết thúc giai đoạn Bắc thuộc.
HỌ KHÚC
Họ Khúc (thế kỷ X) là dòng họ hào trưởng lớn ở Hồng Châu (Hải Dương/Hải Phòng), đóng vai trò quyết định trong việc mở đầu thời kỳ tự chủ Việt Nam, phá bỏ hơn 1000 năm Bắc thuộc. Ba đời nắm quyền Tiết độ sứ (905-923/930) bao gồm Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ, đã xây dựng bộ máy hành chính tự lập, đặt nền móng độc lập cho nước ta.
– Khúc Thừa Dụ (830 – 907) quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bàng Giang, Ninh Giang cũ ở Hải Dương), mấy đời là hào tộc mạnh, có nhiều người kính phụđược suy tôn là Khúc Tiên Chủ. Nhân lúc Trung Quốc rối ren, ông đánh chiếm Đại La, rồi trở thành tiết độ sứ người bản địa đầu tiên của Tĩnh Hải quân (tên nước ta thời Đường). Ông là người đặt cơ sở cho nền độc lập của dân tộc Việt sau hơn 1.000 năm Trung Quốc xâm lược.
– – Khúc Hạo (860 – 917) hoặc Khúc Thừa Hạo, được suy tôn là Khúc Trung Chủ (曲中主) là vị tiết độ sứ thứ hai của Tĩnh Hải quân. Ông là người làng Cúc Bồ đất Hồng Châu (sau là xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, nay là xã Khúc Thừa Dụ, thành phố Hải Phòng), con trai của Khúc Thừa Dự
– – – Khúc Thừa Mỹ (Sinh ? – 930) hay Khúc Toàn Mỹ là vị Tiết độ sứ thứ ba trong thời kỳ tự chủ của họ Khúc trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 10, được suy tôn là Khúc Hậu Chủ (曲後主). Ông là em trai hoặc con của Khúc Hạo.
—o—
HỌ DƯƠNG
– Dương Đình Nghệ (874 – 937) là người thay thế họ Khúc lên nắm quyền. Ông đã cùng 3.000 giả tử (con nuôi) hành quân từ Thanh Hóa tiến ra Đại La đánh bại quân Nam Hán đang chiếm đóng ở đó, sau khi bắt Khúc Thừa Mỹ đem về Trung Quốc. Ông rồi tự mình phong là Tiết độ sứ, trông coi các châu. Đến năm 937, ông bị viên tướng cấp dưới là Kiều Công Tiễn giết hại, với lý do là ông đã gián tiếp gây ra cái chết cho Khúc Thừa Mỹ, người lúc đó đang bị quân Nam Hán bắt giải về Trung Quốc. Ông không phải là người đất Hồng Châu, nhưng ông là người kế tục sự nghiệp nhà họ Khúc ở Hồng Châu.
– – Con gái Dương Thị lấy Ngô Quyền, sinh Ngô Xương Văn
– – Con trai Dương Tam Kha (sinh ?-980), lật đổ Ngô Xương Ngập, con trai cả của Ngô Quyền, lên làm vua 6 năm (944 – 950)
– – – Dương Vân Nga (952-1000), bà có thể là con Dương Tam Kha, mà cũng có thể không phải. Bà lấy 1 trong các hào trưởng thời 12 xứ quân, có khả năng là họ Ngô, có hai con một trai một gái. Khi người này bị Đinh Bộ Lĩnh giết ông xin Đinh Bộ Lĩnh bảo trợ cho vợ con mình, Đinh Bộ Lĩnh đưa bà về làm vợ, đồng thời bảo vệ hai con của ông. Sau đó bà có con với Đinh Bộ Lĩnh nhưng Đinh Bộ Lĩnh lại bị giết, và bà thành vợ của Lê Hoàn.
– – – – Con trai với chồng đầu họ Ngô
– – – – Con gái với chồng đầu họ Ngô
– – – – Con trai Đinh Toàn với Đinh Bộ Linh
– – – – Con gái Lê Thị Phất Ngân với Lê Hoàn, lấy Lý Công Uẩn
– – – – – Cháu Lý Phật Mã, lên ngôi vua là Lý Thái Tông
– – – – – – Con trai của Lý Thái Tông lên ngôi vua là Lý Thánh Tông. Thượng Dương Hoàng Hậu, vợ của Lý Thánh Tông, mang họ Dương, nhưng không rõ nhánh họ Dương nào ở Hồng Châu, chết trong thảm án với 72 cung nữ dưới thời Nguyên Phi Ỷ Lan. Câu chuyện nội cung bí hiểm này xảy ra trên đất Hưng Yên (Hồng Châu cũ).
—o—
HỌ NGÔ
– Ngô Quyền : Mặc dù sinh ra và an táng ở Đường Lâm (xứ Đoài), nhưng sự nghiệp của ông gắn với xứ Đông với trận đánh thắng quân xâm lược Nam Hán trên dòng sông Bạch Đằng, được thờ rộng rãi ở Hải Phòng cùng với chúa Năm Phương Hải Phòng. Ngô Quyền được coi là mở đầu thời kỳ quân chủ độc lập của nước ta.
– – Con trai cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập ba lần trốn sự truy sát của Dương Tam Kha ở đất Hồng Châu dưới sự che chở của Phạm Lệnh Công
– – – Ngô Chân Lưu (933-1011), vốn có tên là Ngô Xương Tỷ, người sau này được Đinh Tiên Hoàng phong làm Khuông Việt đại sư.
– – – Ngô Xương Xí, sau trở thành Sứ quân thứ nhất trong 12 sứ quân, giữ Bình Kiều, Bình Kiều nay thuộc Triệu Sơn, Thanh Hóa.
– Con trai thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn, mẹ Dương Thị, con của Dương Đình Nghệ
– Ngô Nhật Khánh ( – 979), tước hiệu Ngô An vương (吳安王), là một thủ lĩnh thời 12 sứ quân. Xuất thân từ dòng dõi nhà Ngô, rồi trấn giữ quê hương Đường Lâm và trở thành một trong những thế lực quân sự mạnh tạo ra loạn 12 sứ quân. Sau đó ông hàng phục Đinh Bộ Lĩnh, lấy công chúa Phất Kim và trở thành phò mã nhà Đinh hơn 10 năm trong kinh đô Hoa Lư. Cuối triều Đinh, Ngô Nhật Khánh bỏ trốn sang Chiêm Thành và bị bão dìm chết tại cửa biển Đại An trong lần đem quân Chiêm Thành theo đường thủy tiến đánh kinh đô Hoa Lư. Ngô Nhật Khánh được cho là cháu của Ngô Quyền, hoặc là con riêng của Dương Vân Nga với chồng đầu, nhưng tất cả đều chưa rõ thông tin.
—o—
HỌ PHẠM
Họ Phạm là hào trưởng nhiều đời của xứ Hồng Châu và trong suốt thời đầu kỳ đầu độc lập của Đại Việt đã liên tục lãnh đạo xứ Hồng Châu
– Phạm Chí Dũng thời Dương Đình Nghệ
– Phạm Lệnh Công thời Ngô Quyền
– Phạm Hổ thời 12 xứ quân
Các vị tướng họ Phạm tham gia vào cả 3 cuộc chiến chống quân xâm lược trên sông Bạch Đằng với vai trò cực kỳ quan trọng, có thể nói chỉ sau chủ tướng
– Phạm Lệnh Công, Phạm Bạch Hổ tham gia đánh quân Nam Hán dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền
– Phạm Cự Lạng tham gia đánh quân Tống dưới sự chỉ huy của Lê Hoàn
– Phạm Ngũ Lão tham gia đánh quân Nguyên Mông dưới sự chỉ huy Trần Hưng Đạo
Trong chính sử họ Phạm chưa bao giờ làm vua nhưng Phạm Bạch Hổ được dân vùng Hồng Châu gọi là vua Mây. Phạm Bạch Hổ cùng với Khúc Thừa Dụ (đời trước ông), Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng (đời sau ông) là những hào trưởng sinh ra, lớn lên, và là các nhà quân sự lãnh đạo nổi tiếng của Hồng Châu. Ông được thờ rộng khắp ở nam Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng (là đất xứ Đông cũ) và có ảnh hưởng rộng lớn hơn đến cả Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, trước khi đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh.
Ông là một trong các xứ quân thành công nhất và là một trong các nhân vật cực kỳ hiếm hoi liên tục giữ vững được tầm ảnh hường liên tục từ thời Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Ngô Xương Văn-Ngô Xương Ngập, 12 xứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đến Lê Hoàn, thể hiện một tài năng cương nhu hiếm có.
– 1. Phạm Chí Dũng (Phạm Trì), Hồng châu tướng quân (tức là ông tướng cai quản vùng xứ Đông) dưới thời Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (Dương Đình Nghệ là bố của Dương Tam Kha, bố vợ của Ngô Quyền, ông ngoại của Ngô Xương Văn và có khả năng là họ hàng của Dương Vân Nga)
– – 2. Phạm Lệnh Công (Phạm Chiêm) làm Đông Giáp tướng quân cai quản vùng xứ Đông dưới thời Ngô Quyền, đánh trận Bạch Đằng với Ngô Quyền, bảo vệ Ngô Xương Ngập khi bị truy sát bởi Dương Tam Kha, gả con gái cho Ngô Xương Ngập
– – – 3.1. Phạm Bạch Hổ (sinh 910 -) : Theo Dương Đình Nghệ, sau đó tham gia đánh giặc trên sông Bạch Đằng với Ngô Quyền, được phong chức Phòng Át tướng công, trấn giữ toàn cõi Hải Đông (khu vực nam Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay). Ông trở thành 1 trong 12 xứ quân, mở rộng vùng chiếm đóng qua sông Bạch Đằng sang Quảng Ninh, và qua sông Hồng đánh nhau với các xứ quân vùng Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định, bao gồm xứ quân của Trần Lãm (bố nuôi của Đinh Bộ Lĩnh). Cuối cùng, ông ra hàng Đinh Bộ Lĩnh. Ông được cho là vẫn còn sống để tham gia được trận đánh giặc trên sông Bạch Đằng của Lê Hoàn.
– – – 3.2. Phạm Mạn là Tham chính đô đốc đời Nam Tấn vương Ngô Xương Văn, bố vợ của Ngô Xương Ngập
– – – – 4.1. Phạm Hạp (933 – 979), sinh ở Nam Trung, Nam Sách một trong Giao Chỉ Thất Hùng, giết tướng quân Nguyễn Khoan giữ vùng Tam Đái, Phú Thọ, bị Lê Hoàn giết
– – – – – – – – 12. Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) cháu 8 đời của Phạm Hạp đánh trận Bạch Đằng với Trần Hưng Đạo. Phạm Ngũ Lão được xếp vào hàng Thánh được thờ cùng với Trần Hưng Đạo.
– – – – 4.2. Phạm Cự Lạng (944 – 984) : cùng Lê Hoàn đánh Tống ở cửa biển Bạch Đằng, phụ trách việc đào sông Nhà Lê từ Hoa Lư, Ninh Bình đến đèo Ngang Hà Tĩnh
– – – – 4.3. Phạm Thị Ngọc Dung là vợ của Ngô Xương Ngập (con cả của Ngô Quyền, tại vị 951 – 954 cùng với Ngô Xương Văn, là con trai cùng cha khác mẹ với Ngô Xương Ngập, cùng làm vua thời Hậu Ngô Vương)
– – – – – 5.1. Ngô Chân Lưu (933-1011), vốn có tên là Ngô Xương Tỷ, người sau này được Đinh Tiên Hoàng phong làm Khuông Việt đại sư.
– – – – – 5.2. Ngô Xương Xí, sau trở thành Sứ quân thứ nhất trong 12 sứ quân, giữ Bình Kiều, Bình Kiều nay thuộc Triệu Sơn, Thanh Hóa.
Họ Phạm đất Hồng Châu còn một nhân vật nổi tiếng nữa là Phạm Công Trứ (1600 – 1675), tể tướng nhà Lê trung hưng. Phạm Công Trứ người làng Liêu Xuyên, tổng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay thuộc thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Trải 50 năm làm quan, Phạm Công Trứ phò tá 5 đời vua Lê, 2 đời chúa Trịnh, từng giữ nhiều chức vụ và cương vị khác nhau, Phạm Công Trứ đã đạt đến đỉnh cao của công danh và quyền lực; là người mưu lược, luôn chăm lo việc nước, tài năng xuất chúng trên mọi lĩnh vực: nội trị, văn hóa, sử học, ngoại giao. Đền thờ và mộ của ông ở quê nhà. Ông đã góp phần làm nên truyền thống tự hào của làng quê Thanh Xá với câu “Đầu làng Tể tướng. Cuối làng Trạng nguyên”.
—o—
HỌ ĐOÀN
Nhân vật nổi tiếng nhất của họ Đoàn trên đất Hồng Châu là Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng.
Đoàn Thượng (1181-1228) là vị tướng cuối thời nhà Lý đời vua Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Ông là hào trưởng vùng Hồng và là chủ soái của sứ quân họ Đoàn ở lộ Hồng Châu, là một trung thần của nhà Lý, và không thần phục sự chuyển giao từ Nhà Lý sang nhà Trần do Trần Thủ Độ sắp đặt, nên ông trở thành một sứ quân. Trần Thủ Độ mượn tay một sứ quân khác, là Nguyễn Nộn giết chết ông.
Trong dân gian gọi Đoàn Thượng là Đức Thánh Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng, được các triều đai phong kiến phong Thượng Đẳng Thần. Ông có đền thờ ở rất nhiều nơi, chứ không chỉ ở Hồng Châu. Đền thờ chính ở thôn Thung Độ, xã Trường Tân, thành phố Hải Phòng (là quê của ông), ở làng Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên (nơi ông hóa) và thôn Bần – Yên Nhân nay là phường Bần Yên Nhân, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, theo tích ông hoá.
Chia sẻ:
Scroll to Top