BÓI KIỀU

Loading

CÁCH BÓI KIỀU
Cách thứ nhất là bói từng quẻ, ứng với từng sự kiện xảy ra trong đời mình
Lời khấn dân gian khi bói Kiều
Tự xưng tên tuổi, nơi chốn
“Lậy Vua Từ Hải,
Lậy Phật Giác Duyên,
Lậy Tiên Thuý Kiều”
Đưa ra vấn đề cần hỏi, rồi mở một đoạn Kiều (tương đương với một quẻ) và dịch quẻ đó.
Thày Thích Nhất Hạnh dạy khấn bói Kiều ở Làng Mai như sau
“Cầu thi thánh Nguyễn Du
Cầu đạo cô Tam Hợp
Cầu sư trưởng Giác Duyên
Cầu giáng tiên Thúy Kiều
Tôi tên là…
Xin tham vấn thi thánh, đạo cô, sư trưởng và giáng tiên về vấn đề ……”
Cách thứ hai là đặt toàn bộ con người & cuộc đời mình vào các nhân vật của truyện Kiều và mạch sự kiện của truyện Kiều.
CƠ SỞ CỦA BÓI KIỀU : KINH DỊCH
Truyện Kiều là một dạng kinh bằng văn thơ, triển khai và cụ thể hoá nguyên tắc của Kinh Dịch. Đó là lý do cho bói Kiều.
Trong Truyện Kiều
– Thuý Vân – Thuý Kiều là bộ đôi âm dương của nhau
– – – Thuý Vân là dương định trụ
– – – Thuý Kiều là âm chuyển hoá
– Đạm Tiên – Giác Duyên là bộ đôi âm dương thứ hai
– – – Đạm Tiên là âm
– – – Giác Duyên là dương
Bộ đôi Thuý Vân – Thuý Kiều lại lưỡng nghi âm dương với bộ đôi Đạm Tiên – Giác Duyên, kết hợp tạo thành một bộ tứ, gọi là Tứ Tượng.
– Thuý Vân : Thái dương – Âm dương vô cực
– Đạm Tiên : Thái âm – Âm dương chồng chập
– Thuý Kiều : Thiếu âm – Âm dương song hành
– Giác Duyên – Thiếu dương – Âm dương phân tách
Tứ Tượng này là Thân Rốn Ối Nhau của một bộ bào thai gốc
– Thuý Vân : Thân – Lửa – Tâm 1D – Không sinh không tử
– Thuý Kiều : Ối – Nước – Dịch 4D – Vừa sinh vừa tử
– Giác Duyên : Rốn – Khí – Trục 2D – Sinh tử phân tách
– Đạm Tiên : Nhau – Đất – Trường 3D- Sinh tử chồng chập
Tứ Tượng này sinh ra từ Lưỡng Nghi của
– Hội Chủ, đứng đầu hội Đoạn trường, trạng thái sóng
– – – Đạm Tiên
– – – Kiều
– Tam Hợp Đạo Cô, trạng thái hạt
– – – Giác Duyên
– – – Thuý Vân
Lưỡng Nghi sinh ra từ Vòng tròn Âm dương, với hai chiều vận hành chính
– Dương : Tam Hợp Đạo Cô
– Âm : Hội Chủ
cụ thể
– Vận hành Dương (sinh, chiều thuận thiên, luồng thoải thuỷ, phong) : Vòng tròn sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái
– Vận hành Âm (tử, chiều thượng thiên, luồng hương hoả, đất) : Về lại vòng tròn âm dương từ Bát quái, Tứ tượng và Lưỡng nghi
Truyện Kiều đại diện cho vận hành Tử và Tái sinh
– Truyện Kiều mở đầu bằng lễ Thanh Minh
– – – Lễ Tảo Mộ là sự tái hợp giữa Kiều & Đạm Tiên
– – – Hội Đạp Thanh là sự mở đầu cho tình yêu giữa Kiều và Kim Trọng, và cũng là sự tái hợp giữa hai người yêu nhau xuyên đời này
– Truyện Kiều kết thúc bằng các trạng thái tái sinh
– – – Sự tái sinh của Kiều trên sông Tiền Đường
– – – Sự tái hợp của Tứ tượng Thuý Kiều – Thuý Vân – Đạm Tiên – Giác Duyên, với sự hướng dẫn của Tam Hợp Đạo Cô và Hội Chủ tại sông Tiền Đường,
– – – Sự tái hợp của Kiều với gia đình
– – – Sự tái sinh của mối tình Kiều – Kim Trọng
Kiều đứng Dịch, vận hành của Kiều là sự dịch chuyển liên tục không gian – thời gian – quan hệ – xúc cảm, đại diện cho các quẻ dịch của Kinh Dịch.
ĐỐI CHIẾU TRUYỆN KIỀU & TẤM CÁM
Tấm Cám cũng là một dạng kinh bằng truyện, triển khai và cụ thể hoá nguyên tắc của Kinh Dịch, tương tự như truyện Kiều. Đó là lý do có thể đối ứng khá chính xác bộ cấu trúc và vận hành của Kiều sang Tấm.
Tấm – Cảm là bộ đôi âm dương như Thuý Kiều – Thuý Vân, trong đó
– Tấm : Thuý Kiều
– Cám : Thuý Vân
Bộ đôi Tấm – Cám đối xứng với bộ đôi Bống – Bang, tạo nên Tứ tượng Tấm Cám Bống Bang
– Tấm : Thuý Kiều
– Cám : Thuý Vân
– Bang : Đạm Tiên
– Bống : Giác Duyên
Sự khác biệt giữa truyện Kiều và cổ tích Tấm Cám
– Truyện Kiều tập trung vào giai đoạn Kiều lưu lạc xa nhà. Đoạn Kiều còn nhỏ ở nhà (trước đó) và sau đó đoàn tụ cùng gia đình về nhà (sau đó) không được kể trực tiếp, nhưng được mô tả gián tiếp.
– Tấm Cám tập trung vào giai đoạn Tấm Cám ở nhà, đoạn xuất gia vào cung, mà Tấm phải liên tục chết và tái sinh.
Chính vì vậy, hình tượng con người trong ngôi nhà truyền thống hiện lên cực kỳ rõ nét trong Tấm Cám trong khi quan hệ gia đình truyền thống hiện lên rõ nét trong truyện Kiều
Tư tượng Tấm Cám Bống Bang là bộ thể của một con người, trong không gian ngôi nhà
– Tấm : Vía, yếu tố Nước trụ Nhà tắm
– Cám : Xác, yếu tố Khí, trụ Nhà ở
– Bống : Phách, yếu tố Lửa, trụ Nhà bếp
– Bang : Hồn, yếu tố Đất, trụ Nhà xí
Con người Tấm Cám Bống Bang trước đó là bộ bào thai
– Tấm : Ối
– Cám : Thân
– Bống : Rốn
– Bang : Nhau
Bào thi gốc khi sinh ra được chôn nhau cắt rốn, thì quay về sống cùng nhau trong không gian của một ngôi nhà truyền thống như sau
– Tấm : Ối, ở Ao cây (cau)
– Cám : Thân, ở Chuồng con (gà)
– Bống : Rốn, ở Sân giếng
– Bang : Nhau, ở Vườn đồng, đi với Con trâu
Lưỡng nghi của Tấm Cám ứng với bộ Tam Hợp Đạo Cô – Hội Chủ của truyện Kiều như sau
– Bà hàng nước : ứng với Tam Hợp Đạo Cô, chủ về sinh
– Bà mẹ kế : ứng với Hội Chủ, chủ về tử
So với truyện Kiều, cổ tích Tấm Cám đại diện cho vận hành Tử, về nguồn hơn là vận hành Sinh như truyện Kiều.
Bốn lần chết đi sống lại của Tấm ứng với Đoạn trường tân thanh của Kiều. Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Kiều muốn tự tử và thực sự tự tử nhưng không chết, mà chỉ chuyển vào trạng thái cận tử gặp Đạm Tiên trong mộng rồi tỉnh lại, còn Tấm thì chuyển hoá sinh tử rõ ràng hơn cả về thân thể và tinh thần
– Lần đầu Tấm chết ở ao, hoá thành chim vàng anh – chết trong nước
– Lần hai Tấm chết trong chuồng, thành cây xoan đào – chết trong khí
– Lần thứ ba, Tấm chết trong vườn thành khung cửi – chết trong đất
– Lần thứ tư, Tấm chết trong sân, khung cửi bị đốt – chết trong lửa
Truyện Tấm Cám kết thúc bằng một loạt sự kiện Tử (trong khi truyện Kiều kết thúc bằng một loạt sự kiện Tái sinh)
– Cám chết : Cám đại diện cho trạng thái không sinh không tử. Moi thứ Cám có Cám không tự sinh ra được, không tự làm được, mà Cảm chỉ lấy đi cái đó từ Tấm, nói cách khác là Cám sẽ tạo ra trạng thái tử ở Tấm, nhưng thực ra Tấm luôn chủ động tử. Kết quả là Cám ở trạng thái sinh không ra sinh tử không ra tử. Đến cuối chuyện Cám tự có ý tưởng học theo Tấm, chứ không lấy đi từ Tấm và Cám tự chết được, thì lúc này Cám chuyển được trạng thái của mình thành có sinh, có tử, sinh ra sinh, tử ra tử, và nhờ đó kết thúc được truyện Tấm Cám.
– Mẹ Cám chết
Về nguyên tắc, bói Kiều được thì bói Tấm Cám cũng được, nhưng vì Kiều đại diện cho kinh dịch trong chu trình vận hành máu ngoại biên, nên dễ hình dung hơn là cổ tích Tấm Cám là kinh dịch trong chu trình vận hành máu trong. Cách bói Tấm Cám là đặt toàn bộ con người & cuộc đời mình vào bộ nhân vật và mạch sự kiện của cổ tích Tấm Cám.
Bộ nam truyện Kiều, đối ứng với bộ Tứ tượng nữ
– Đạm Tiên : Người khách viễn phương (người làm đám tang chôn Đạm Tiên)
– Thuý Kiều : Kim Trọng – Mã Giám Sinh – Thúc Sinh – Từ Hải
– Giác Duyên : Trực tiếp gặp Từ Hải và Kim Trọng, và ở chỗ Từ Hải trong vụ báo oán của Kiều thì gặp Mã Giám Sinh và Thúc Sinh
– Thuý Vân : Vợ Kim Trọng
Hoàng Tử trong cổ tích Tấm Cám là người đối ứng với cả bộ Kim Trọng – Mã Giám Sinh – Thúc Sinh – Từ Hải. Quan hệ trọng tâm của truyện Kim Vân Kiều là Hai Kiều & Kim Trọng, trong khi quan hệ trọng tâm của cổ tích Tấm Cám là quan hệ của Tấm và Cám, Hoàng Tử chỉ là chất xúc tác. Hoàng Tử (trong quan hệ với Tấm Cám) đối ứng chính với Kim Trọng (trong quan hệ với Thuý Vân Thuý Kiều).
Ông Bụt là người đối ứng ngang hàng với cả Tam Hợp Đạo Cô và Hội Chủ
– Ông Bụt khi đối ứng với cả Tam Hợp Đạo Cô là Tam Thanh trong đạo Lão
– Ông Bụt khi đối ứng với Hội Chủ là Đức Phật
Ông Bụt trong cổ tích Tấm Cám chính là Cha xứ sở, đối ứng với Mẹ xứ sở, vòng tròn âm dương. Trong Tấm Cám, ông Bụt hiện, còn trong truyện Kiều, Mẹ xứ sở ẩn trong trường âm mà Đoạn trường Tân thanh là một phần của nó.
BÓI KIỀU CHO BỘ NỮ HUYỀN SỬ
Có thể Bói Kiều để xem cả tương lai và quá khứ, cho nên các nhân vật lịch sử và huyền sử đều có thể xem qua Bói Kiều.
Bộ Phật Mẫu
– Mẹ Quán Âm
– – – Mẹ Quán Âm Nam Hải : chính là gốc của Hội Chủ
– – – Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát : 33 Tư thế của mẹ Quán Âm với 3 tư thế gốc là Dương Liễu Quán Âm, Long Đẩu Quán Âm, Trì Kinh Quán Âm, chính là gốc của Tam Hợp Đạo Cô
– Phật Tổ Man Nương, đại diện cho Phật Pháp, Mẹ sinh của Tứ Pháp, đại diện cho Tứ Tượng
– – – Pháp Vân là Pháp thân của Thuý Vân
– – – Pháp Vũ của Thuý Kiều
– – – Pháp Lôi của Giác Duyên
– – – Pháp Điện của Đạm Tiên
– Quan Âm Thị Kính – Thị Màu là bộ lưỡng nghi của Thuý Kiều – Thuý Vân
Tổ Hồng Bàng Thị
– Vòng tròn âm dương : Bà Vụ Tiên (Hương Vân Cái Bồ Tát, Đỗ Thị Quý, mẹ Kinh Dương Vương)
– Lưỡng nghi : Long Nữ (vợ Kinh Dương Vương) – Âu Cơ (vợ Lạc Long Quân)
Bộ Tứ Bất Tử
– Liễu Hạnh : Tam Hợp Đạo Cô
– Mẹ Thánh Gióng : Hội Chủ
– Tiên Dung – Hồng Vân (vợ của Chử Đồng Tử) : Lưỡng nghi nước
– Ngọc Hoa (vợ của Tản Viên) : Lưỡng nghi đất
Bộ Hai Bà Trưng
– Vòng tròn âm dương :
– – – Man Thiện : Hội Chủ
– – – Chu Tước (mẫu Thượng Thiên) – Hồ Đề (mẫu Thượng Ngàn) – Ả Lã Nàng Đê (mẫu Thoải) : Tam Hợp Đạo Cô
– Tứ tượng :
– – – Trưng Trắc – Trưng Nhị : Thuý Vân – Thuý Kiều
– – – Bát Nàn – Lê Chân : Đạm Tiên – Giác Duyên
Bộ Đạo Mẫu
– Vòng tròn âm dương : Mẫu Liễu Hạnh
– – – Lần đầu thai thứ 1 : Phủ Quảng Cung
– – – Lần đầu thai thứ 2 : Phủ Vân Cát – Phủ Tiên Hương
– – – Lần đầu thai thứ 3 : Phủ Sòng Sơn
– Lưỡng nghi : Tam Toà – Tứ Phủ
– – – Tam Toà Thánh Mẫu/Tam Vị Chúa Mường : Tam Hợp Đạo Cô
– – – Mẫu Địa Quảng Cung : Hội Chủ
– Tứ tượng : Đại Càn Tứ Nương
Bộ bà Chúa Xứ
– Bà Ponagar
– Bà chúa xứ núi Sam
– Bà Đen ở núi Bà Đen (đi cùng Bà Trắng ở hồ Dầu Tiếng) là bà chúa Đất
– Bà Rá (bà chúa xứ Nương Nương ở núi Bà Rá và hồ Thác Mơ) là bà chúa nước
– Bà Đà – Bà Đùng
Vòng tròn âm dương – Nhất thể nữ
– Nữ Oa
– Bà Thị (trong bộ Đầu nhau với ông Công ông Táo)
– Bà Trầu (trong sự tích Trầu cau)
– Sao Vược (trong sự tích sao Hôm sao Mai sao Vươc)
Chia sẻ:
Scroll to Top