![]()
NÚI THIÊNG MANG TÊN LĨNH
Cho dù ở Trung Hoa hay Việt Nam, núi mang tên Lĩnh đều là núi thiêng, núi thủ lĩnh trời đất, núi lĩnh hội tinh tuý của cả nền văn minh.
Có một nguyên tắc chung rất rõ ràng với các ngọn núi Lĩnh là nguyên tắc ngũ cung (ngũ nhạc) mà cũng là nguyên tắc ngũ hành.
Để hiểu sự liên hệ của ngũ hành và ngũ nhạc, chúng ta cần hiểu rằng ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ đang ẩn cấu trúc và vận hành của nguyên tố thứ 5 là Khí. Ngũ hành là cách nói tắt của ngũ hành khí và ngũ nhạc ở đây chính là nhạc khí.
Nếu hiểu đúng nguyên tắc này, chúng ta sẽ không phân loại Địa chi theo ngũ hành để rồi luôn có những 4 con giáp là Thổ và 2 con giáp cho mỗi nguyên tố Kim Mộc Hoả Thuỷ – một điều không thể chấp nhận được về mặt cân bằng. Có thể chúng ta nên tách đôi 4 con giáp Thổ thành 2 Khí và 2 Thổ. Cũng theo cách đó, chúng ta có thể đối ứng được hệ 10 của Thiên Can (mà hợp với Ngũ hành) với hệ 12 của Địa Chi mà không thể chia hết cho 5 mà chỉ chia hết cho 6.
Ngũ hành cũng có thể xếp thành Tứ trụ ví dụ Đông Tây Nam Bắc (với Trung ở giữa) hoặc thành Lục phương như Thượng Hạ Đông Tây Nam Bắc. Ngũ hành cũng có thể quy về Tam hợp như cách Ngũ cung vây xung quanh núi Tản, Ba Vì. Tam lại có thể quy về Nhị rồi Nhất hoặc từ Tam sinh ra Vạn, như câu của Lão tử “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Câu này cũng tương tự như Vạn pháp quy tâm và Tâm lại quán chiếu được về Vạn pháp.
Hiểu được nguyên tắc chuyển hoá giữa các bộ số này, chúng ta sẽ hiểu sự phức tạp của Ngũ Hành Sơn mà có 6 núi ứng với 5 nguyên tố (nguyên tố Hoả có 2 quả núi) và lại còn thêm 1 núi nữa tên là Ghềnh không biết thuộc hành gì hay Thất Sơn lại có hơn 30 ngọn núi.
Hãy cùng điểm tên các núi thiêng thuộc bộ Lĩnh ở Trung Quốc (gồm miền nam Trung Quốc từng thuộc về nước Việt), Việt Nam (gồm Bắc Việt và phía Nam từng thuộc về Chiêm Thành và Cao Miên).
– Núi Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) ở miền Nam Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Việt)
– Ngũ nhạc danh sơn ở miền bắc Trung Quốc
– Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng, Việt Nam
– Núi Ngũ Nhạc ở Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương, Việt Nam
– Tần Lĩnh ở Thiểm Tây, Trung Quốc
– Tản Lĩnh & Ngũ cung ở Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam
– Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ, Việt Nam
– Hồng Lĩnh, ở Nghệ An Hà Tĩnh, Việt Nam
– Ai Lao Sơn (nghĩa là Hậu Lĩnh), ở Vân Nam, Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Ai Lao, nước Lào)
NÚI NGŨ LĨNH (NAM LĨNH) Ở NAM TRUNG QUỐC
Ngô Sĩ Liên ghi chép về Ngũ Lĩnh trong “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau: “Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm, cửa ngõ của nước, cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam – Bắc vậy. Sau này các bậc Đế Vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong. Sĩ Vương tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết lại mất hết; mà các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như vậy.”
Núi Ngũ Lĩnh (hay còn gọi là Nam Lĩnh) nằm ở khu vực ranh giới giữa bốn tỉnh : Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông và Quảng Tây ở miền nam Trung Quốc.
Dãy núi này kéo dài khoảng 600 km từ tây sang đông. Ngũ bao gồm 5 ngọn/dãy núi nhỏ
– Việt Thành Lĩnh (ở tây nam Hồ Nam)
– Đô Bàng Lĩnh (giữa Hồ Nam và Quảng Tây)
– Manh Chử Lĩnh (ở nam Quảng Tây)
– Kỵ Điền Lĩnh (ở nam Hồ Nam)
– Đại Dữu Lĩnh (giữa đông nam Hồ Nam và tây nam Giang Tây)
Nơi đây đóng vai trò là đường phân thủy giữa lưu vực sông Dương Tử ở phía bắc và sông Châu Giang ở phía nam, đồng thời từng là ranh giới tự nhiên quan trọng trong lịch sử.
Trước Công Nguyên, Ngũ Lĩnh – Nam Lĩnh thuộc về nước Việt (Hồng Bàng Thị), đối xứng với Ngũ Nhạc Danh Sơn ở phía Bắc, thuộc về văn minh Hoa Hạ (Hoa Tự Thị). Nước Việt Nam ta hiện nay mất Ngũ Lĩnh hay Nam Lĩnh về phía Trung Quốc nhưng lại còn giữ được Lĩnh Nam, mà chính là khu vực đồng bằng sông Hồng.
NGŨ NHẠC DANH SƠN Ở BẮC TRUNG QUỐC
Ngũ nhạc xếp theo sơ đồ chữ Thập
– Đông Nhạc: Thái Sơn, tiếng Trung: 泰山; “Ngọn núi tĩnh lặng”, thuộc tỉnh Sơn Đông
– Tây Nhạc: Hoa Sơn, giản thể: 华山; phồn thể: 華山; “Ngọn núi lộng lẫy”, thuộc tỉnh Thiểm Tây
– Nam Nhạc: Hành Sơn, tiếng Trung: 衡山; “Ngọn núi cân bằng”, thuộc tỉnh Hồ Nam, 1,290 m
– Bắc Nhạc: Hằng Sơn, giản thể: 恒山; phồn thể: 恆山; “Ngọn núi vĩnh hằng”, thuộc tỉnh Sơn Tây
– Trung Nhạc: Tung Sơn, tiếng Trung: 嵩山; “Ngọn núi cao ngất”, thuộc tỉnh Hà Nam
Theo thần thoại Trung Quốc, Ngũ Nhạc có nguồn gốc từ thân thể và đầu của Bàn Cổ, vị thần đầu tiên sáng tạo ra thế giới. Do vị trí ở phía đông của mình nên Thái sơn được gắn liền với mặt trời mọc, là biểu tượng cho sự ra đời và sự hồi sinh. Cũng vì cách diễn giải này, nó thông thường được nhắc đến như là ngọn núi linh thiêng nhất trong số Ngũ đại danh sơn. Phù hợp với vị trí đặc biệt của nó, Thái sơn được cho là được tạo thành từ phần đầu của Bàn Cổ.
Với một ngũ hành chuẩn thì không núi nào nên thiêng hơn núi nào như trường hợp xảy ra với Ngũ nhạc danh sơn, khi linh thiêng nhất là Đông Nhạc Thái Sơn. Thái Sơn vì như tên gọi và sự tích về nó, nó nối về môt hệ thống núi lĩnh cổ xưa hơn, bao trùm hơn.
Như vậy ngũ lĩnh đi theo nguyên tắc ngũ cung, ngũ hành, nguyên tắc nam lĩnh và nguyên tắc đông lĩnh hay cổ lĩnh.
NÚI TẦN LĨNH Ở THIỂM TÂY TRUNG QUỐC
Tần Lĩnh là một dãy núi chính chạy theo hướng đông-tây ở nam bộ tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc (tỉnh Thiểm Tây cũng có tên là Tần và đây là nơi nhà Tần của Tần Thuỷ Hoàng định đô sau khi thống nhất đất nước Trung Quốc).
Ở phía bắc Tần Lĩnh là thung lũng Vị Hà có dân cư đông đúc, và là một trung tâm thời cổ của nền văn minh Trung Hoa tính từ nhà Hạ, Thương, Chu đến Tần, và sau này cả thời Hán, thời Đường.
Ở phía nam Tần Lĩnh là thung lũng Hán Thủy.
Ở phía tây là một dãy các ngọn núi dọc theo mép phía bắc của cao nguyên Thanh-Tạng.
Ở phía đông Tần Lĩnh là Phục Ngưu Sơn (伏牛山) và Đại Biệt Sơn.
Tần Lĩnh có 2 ngọn núi nổi tiếng
– Hoa Sơn chính là Tây Nhạc của Ngũ nhạc danh sơn
– Chung Nam đôi khi còn được gọi là núi Thái Ất hoặc núi Chu Nam là một nhánh của dãy núi Tần Lĩnh nằm ở tỉnh Thiểm Tây, phía nam của thành phố Tây An, từ Vũ Công ở phía đông kéo dài qua Lam Điền. Một số đỉnh núi đáng chú ý của dãy gồm Lâu Quan Đài (được cho là nơi đạo sĩ hiền triết Lão Tử cư ngụ và truyền đạt Đạo đức kinh), hay Nam Ngũ Đài , Khuê Phong. Các ngọn núi của Chung Nam nổi tiếng khi là nơi ở ẩn của các ẩn sĩ Đạo giáo từ thời nhà Tần. Sau đó, các tu sĩ Phật giáo bắt đầu sống ở vùng núi này khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ Ấn Độ trong những năm đầu của thiên niên kỷ đầu tiên. Toàn Chân đạo là một trong những giáo phái lớn nhất của Đạo giáo hiện đại được thành lập ở vùng núi Chung Nam bởi Vương Trùng Dương, một đạo sĩ thời nhà Tống.
Tần Lĩnh đi theo nguyên tắc vạn pháp quy tâm, hay lãnh đạo thống nhất. Đó là lý do nước Trung Hoa thống nhất được thành lập dưới thời Tần Thuỷ Hoàng ở Thiểm Tây, tỉnh còn có tên khác là Tần.
NGŨ HÀNH SƠN (Ở MIỀN TRUNG XỨ QUẢNG, ĐẤT CHIÊM THÀNH CŨ)
Ngũ Hành Sơn (chữ Hán: 五行山) còn có tên khác Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơ, gồm các ngọn núi:
– Mộc Sơn,
– Thủy Sơn (lớn, cao và đẹp nhất),
– Thổ Sơn
– Kim Sơn
– Hỏa Sơn (có hai ngọn là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn)
và
– Núi Ghềnh
Quê em có núi Ngũ Hành
Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng.
—o—
Quảng Nam có núi Ngũ Hành
Có sông Chợ Củi, có thành Đồng Dương
Cụm núi này trong dân gian gọi là Non Nước
Bao giờ cạn nước Thu Bồn
Ngập chùa Non Nước, lời đồn em mới tin.
—o—
Hòn trên khô sao gọi là hòn Non Nước
Hòn dưới nước sao gọi là hòn Khô?
—o—
Nước chảy lờ đờ, đôi bờ xuôi ngược
Đường đi Non Nước rộng bước thênh thang
Ta vui khắp xóm khắp làng
Mặc cho chớp bể mưa ngàn vẫn vui
Đường đi xa lắm em ơi
Nước non ngàn dặm bể trời mênh mông
Đi qua muôn chợ ngàn sông
Thuyền nan một chiếc vẫy vùng bể khơi
—o—
Chung quanh những chị em người,
Giữa chùa Non Nước một tôi với chàng.
Dù chàng mà có yêu đương,
Thì chàng đắp điếm trăm đường để cho.
Yêu chán, sợ chàng lại no,
Rồi khi ngúng nguẩy biết nhờ cậy ai.
Cụm Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng đối xứng với cụm Ngũ Lĩnh (hay Nam Lĩnh) ở miền nam Trung Quốc.
NÚI NGŨ NHẠC (Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
Núi Ngũ Nhạc (Ngũ Nhạc Linh từ) tại Việt Nam là một dãy núi linh thiêng nằm trong khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn, thuộc xã Lê Lợi, TP. Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dãy núi này có 5 đỉnh, trên các đỉnh núi này, người xưa cho xây các miếu thờ 5 vị sơn thần (Ngũ Phương Ngũ Lão quân) và được gọi là Ngũ Nhạc linh từ.
– Đông Nhạc miếu tượng trưng cho hành mộc (màu xanh) thờ Thanh Đế;
– Tây Nhạc miếu tượng trưng cho hành kim (màu trắng) thờ Bạch Đế;
– Nam Nhạc miếu tượng trưng cho hành hỏa (màu đỏ) thờ Xích Đế;
– Bắc Nhạc miếu tượng trưng cho hành thủy (màu đen) thờ Hắc Đế;
– Trung Nhạc miếu tượng trưng cho hành thổ (màu vàng) thờ Hoàng Đế.
Ngũ nhạc Côn Sơn có nguyên tắc sắp xếp y như Ngũ nhạc danh sơn ở Trung Quốc.
TẢN LĨNH & NGŨ CUNG (Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
Theo truyền thuyết, Tản Viên Sơn Thánh đã đi khắp nơi, dựng nhiều hành cung trên đất Việt. Hiện tại hệ thống các hành cung của Tản Viên còn lại gồm:
– Thượng cung thần điện là đền Thượng, nằm trên đỉnh Tản của núi Ba Vì.
– Tây Cung gồm đền Trung trên núi Chàng Rể và đền Hạ ở bờ hữu sông Đà, đối diện với Động Lăng Xương huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ, nơi thờ đấng sinh thành Ngài là cha Nguyễn Cao Hạnh và mẹ bà Đinh Thị Đen.
Nam Cung là đền Ao Vua
– Đông Cung là Đền Và ở cạnh thị xã Sơn Tây, cạnh sông Hồng. Hội Đền Và khi tổ chức còn có sự tham gia của làng Duy Bình, nơi có Đền Dội ở đối diện bên kia bờ sông Hồng, tương truyền là nơi Thánh Tản đã lấy nước tắm bên sông.
– Bắc Cung là đền Thính ở Tam Hồng – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. Thính là đọc tranh âm của Thánh. Thính cũng có thể hiểu là thính giác, đền và ứng với vị giác. Bắc Cung Thượng là đền Tranh ở Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. Yên Lạc cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Đồng Đậu, với tầng văn hóa từ thời Phùng Nguyên.
Theo thần tích Đền Và thì cung Trung và cung Hạ (Tây Cung) là nơi cầu đảo, tế lễ. Đông Cung là nơi “nghe tâu bày các việc”. Bắc Cung là nơi nghỉ ngơi.
Tuy gọi là Đông – Tây – Nam – Bắc cung nhưng nếu nhìn trên bản đồ thì các cung này nằm gần như trên cùng một đường thẳng chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, cắt vuông góc với sông Hồng ở gần Sơn Tây. Đây là cũng là hướng “tọa Cấn hướng Khôn”, hướng của Đền Thượng như ghi trong thần tích Đền Và.
Các cung này liên quan ngũ cung (trong âm nhạc) vì Đức Thánh Tản Viên là vua cha nhạc phủ, và liên quan đến ngũ uẩn.
Núi Tản đối với người Việt giống như núi Thái Sơn với người Trung Quốc.
Nhất cao là núi Tản Viên
Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường
—o—
Nhất cao là núi Tản Viên
Nhất thanh, nhất lịch là tiên trên đời
—o—
Nhất cao là núi Tản Viên
Bình yên vạn sự là tiên trên đời
—o—
Ai qua núi Tản sông Đà
Ghé qua Tu Vũ mặn mà tình thương
—o—
Đồng xanh sông Nhị chạy dài
Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long
—o—
Bao giờ đổ núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch thiếp mới quên nghĩa chàng
Tản Lĩnh đối xứng với Tần Lĩnh, ít nhất về nghĩa là rõ ràng. Khi Tần Lĩnh mạnh, văn minh Hoa Hạ ra đời và xảy ra với sự kiện thống nhất đất nước Trung Quốc thì Tản Lĩnh hay văn minh Việt chìm xuống, đúng hơn là tản ra.
HỒNG LĨNH (THỨU LĨNH) : KINH ĐÔ CỦA ĐẤT NƯỚC XÍCH QUỶ CỦA VUA KINH DƯƠNG VƯƠNG
Hồng Lĩnh là một dãy núi nằm tại tỉnh Hà Tĩnh, đúng hơn nằm ở xứ Nghệ bao gồm cả tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An.
Theo Ngọc phả Hùng Vương : “Vua Kinh Dương Vương thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh muốn truyền ngôi báu để làm chính thống cho muôn nước. Nhưng Kinh Dương vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, phong cho Kinh Dương vương quay mặt về phương nam mà cái trị thiên hạ [tức là làm vua phương Nam], gọi tên là nước Xích Quỷ.
Kinh Dương vương kính tuân chỉ dụ của vua cha, đem quân lính theo núi Nam Miên mà đi về phía nam. Trên đường ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa để đóng đô ấp [tức quốc đô]. Qua đất Hoan Châu (nay đổi là xứ Nghệ An. Nơi đó là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Tỉnh Thạch thuộc huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang) vua chọn được một vùng phong cảnh tươi đẹp, [núi non] muôn nhẫn lâu đài, gọi là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 ngọn. (Xưa gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống).
Vùng này giáp biển ở cửa Hội Thốn, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành để định nơi cho bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua Kinh Dương bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du hải ngoại. Vua trải xem địa đồ, bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng xem cảnh trời nước. Vua chợt thấy một thiếu nữ lưng eo dung nhan tuyệt sắc từ dưới nước đi lên. Vua cho là cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay, bèn sai quân chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, là con gái vua Động Đình. Thiếp ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay gặp thiên sứ, nguyện được hầu trầu khăn.
Kinh Dương vương vui mừng đẹp ý, bèn dắt tay thiếu nữ bước vào trong long thuyền. Vua cho quay thuyền trở về thành đô, lập Thần Long làm Cung vi chính khổn (Hậu cung Chính khổn)
Ngày sau vua lại đi tuần thú, rong ruỗi xa giá xem khắp các nơi sơn xuyên. Đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình đồi non chập chùng, sông đẹp núi lạ. Vua bèn tìm mạch đất, nhận được khí mạch từ trên núi Côn Lôn đi xuống, qua cửa Ải, lòng sông thoát mạch, rồng đi gần xa đến núi Tụ Long tiếp với châu Thu Vật xứ Tuyên Quang, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn. Mạch đất chảy đến các làng Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Ninh phủ Lâm Thao, rồi đến chùa Long Hoa thôn Việt Trì ở Ngã ba sông Bạch Hạc là dừng. Mạch này bên trái từ sông Lôi Hà núi đi đến đâu sông theo đến đó, qua các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương đột khởi núi Tam Đảo, Tả cung Tiên làm thanh long. Trùng sơn vạn thuỷ, nổi lên các dãy núi ở Lập Thạch, Bách Ngoã, Chu Diên, Thanh Tước, Ngọc Bội, Khai Quang. Phụ bên trái có các núi Châu Sơn, Sóc Sơn, Chung Sơn, Trà Sơn, Từ Sơn, Trạm Sơn, Tích Sơn, An Lão sơn thuộc xứ Kinh Bắc chầu về, dẫn đến Hải Dương, Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử thoát ra đến biển, Đồ Sơn tám xã làm Long đầu chầu án. Mạch bên phải từ Ba Thục, Hán Giang, Nhị Hà, Lô Giang, Thao Giang, núi chạy đến đâu sông theo đến đấy. Đến Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thập Châu, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà đến huyện Bất Bạt đột khởi núi Tản Viên. Hữu cung tiên làm Bạch hổ, muôn nhánh quần sơn nổi lên ở Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Thạch Thất,Yên Sơn, Tây Phương, Sài Sơn, Tử Trầm, hũu bật đến Chương Đức, Đại Yên, Hương Tích sơn thuộc xứ Sơn Nam. Bên phải là Na Sơn, Nam Công, Vũ Phượng sơn, Đội sơn, Điệp sơn, Nghi Dương sơn, chầu phục vào trong, chảy thoát đến núi cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Trà Lý làm đầu hổ chầu, lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đưòng, lấy Ngã Ba Lãnh ở sông Cả thuộc huyện Nam Xương làm Trung minh đường, núi Tượng Sơn ở Nam Hải làm Ngoại minh đường. Nghìn non nâng chủ, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về ngọn tổ sơn Nghĩa Lĩnh. Thu tận hình thế, vua nhận ra thế cục của đất này quý đẹp hơn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập Chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh để thỉnh thoảng ngự giá đến nghỉ. Bên ngoài lại dựng đô thành Phong Châu (nay là Cựu đô thành ở thôn Việt Trì xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (Đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình hồ, nam tiếp nước Hồ Tôn (nay là nước Chiêm Thành). Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại dựng ở núi Nghĩa Lĩnh, nay lấy núi Nghĩa Lĩnh làm nơi đóng đô ấp của nước Việt Thường. Bấy giờ vua đi tùân thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh vừa lúc cung phi con gái vua Thần Long có mang, rồng hiện điềm lành, khắp nhà rực ánh sáng đỏ, trong trướng hương thơm ngào ngạt toả ra. Cung phi nghỉ trong trướng ngọc khoảng một tuần (10 ngày) thì sinh ra Lạc Long quân.”
Hồng Lĩnh đi theo nguyên tắc hư vô, hỗn mang, chồng chập, tất cả đều có ở mọi nơi, mọi lúc, đồng thời ở tại đây và ngay lúc này. Đó là nghĩa của hồng, thứu có nghĩa cổ phức tạp hơn, nhưng cơ bản cũng là như vậy.
NGHĨA LĨNH – ĐỀN HÙNG (Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
Nghĩa Lĩnh (hay núi Cả, núi Hùng) là ngọn núi thiêng cao 175 mét, tọa lạc tại xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là trung tâm của quần thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng, nơi lưu giữ các di tích thờ phụng các Vua Hùng.
Vẫn theo Ngọc phả Hùng Vương “Lạc Long Quân huý Sùng Lãm, ở ngôi 400 năm, thọ 420 tuổi, sinh một bọc trăm trứng, an lành nở ra 100 con trai. Vương định 100 họ (tính), đặt 100 tên, xưng 100 hiệu, làm 100 vị thần, mỗi vị chiếm cứ một khu, đều xưng là Thuỷ tổ của Bách Việt, rất mực linh thiêng. Vua cha là Long Quân hoá sinh bất diệt, trở về biển thành Tiên, là Động Đình đế quân.
Long quân bẩm sinh tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương, bèn được lập làm Hoàng thái tử. Bấy giờ có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ về sống ở quê mẹ tại động Lăng Sương huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc (nay đổi làm sách Lăng Sương huyện Bất Bạt). Một hôm Âu Cơ đi chới ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm Hoàng phi. Thề ròi Kinh Dương vương sai Lạc Long quân ra ở tại đô thành núi Nghĩa Lĩnh tại Phong Châu thay vua cha làm việc nước. Kinh Dương vương ở ngôi 215 năm, thọ 260 tuổi. Lạc Long nhiếp chính.”
Nghĩa lĩnh là lĩnh cá thể đặt trong quan hệ với tổng thể, như chúng ta vẫn nói có nghĩa trong hoàn cảnh này, hoàn cảnh kia
AI LAO SƠN
Nếu như nước Việt mất Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) vào Trung Quốc ở phía Bắc, thì nước Lào (nước Ai Lao) mất Ai Lao Sơn về tay Trung Quốc theo cách tương tự. Nghĩa của Lào (hay Lao), giống nghĩa của Nam, đều liên quan đến trạng thái đuôi hay thủ hậu.
Ai Lao Sơn chính là Hậu Lĩnh của nước Lào, vì tên nước Ai Lao, nước Lào cũng chính là tên ngọn núi này. Ai Lao Sơn nằm phía Tây mạch sông Hồng so với Ngũ Linh nằm ở phía Đông mạch hướng ra biển.
Vào thời Tam Quốc thì Tần Lĩnh/Ngũ Nhạc Danh Sơn, Ngũ Lĩnh và Ai Lao Sơn thuộc về ba nước khác nhau của Tam Quốc.
Nước Lào thì liên quan gì đến nước Việt ? Xin quay lại Ngọc phả Hùng Vương, đời Hùng Vương 17, Thục Phán (từ phía Bắc, phía nước Thục) đánh Ai Lao, Hùng Vương không can thiệp, Thục Phán thắng, đời Hùng Vương 18, Thục Phán đánh vua Hùng, Vua Hùng mất Nghĩa Lĩnh, sau phải nhường ngôi cho An Dương Vương, lập cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh. Ngay sau đó An Dương Vương mất nước vào tay Triệu Đà, rồi Triệu Đà lại mất nước vào tay nhà Hán. Lúc này, lại xin quay trở lại với phần của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên viết về Ngũ Lĩnh ở trên.
LĨNH NÀO LÀ THỦ LĨNH TỐI CAO ?
Tóm lại, nguyên tắc lĩnh của bộ núi Lĩnh
– Núi Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) ở miền Nam Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Việt) : ngũ lĩnh với ngũ là ngũ hành và ngũ nhạc, thái lĩnh, đông lĩnh, nam lĩnh và cổ lĩnh
– Ngũ nhạc danh sơn ở miền bắc Trung Quốc : ngũ lĩnh, bắc lĩnh, tây lĩnh
– Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng, Việt Nam : ngũ lĩnh, lục lĩnh, thất lĩnh, sơn thuỷ lĩnh
– Núi Ngũ Nhạc ở Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương, Việt Nam : ngũ lĩnh
– Tần Lĩnh ở Thiểm Tây, Trung Quốc : tần lĩnh, hoa lĩnh, lĩnh tập trung, thống nhất từ một trung tâm duy nhất
– Núi Tản Lĩnh & Ngũ cung ở Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam : lĩnh hội, lĩnh của số đông, của mỗi cá thể và cả tổng thể
– Núi Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ, Việt Nam : lưỡng lĩnh, với ít nhất 2 thái cực, đặc biệt là cá thể trung tâm và tổng thể
– Núi Hồng Lĩnh, ở Nghệ An Hà Tĩnh, Việt Nam : lĩnh này trong lĩnh khác, cùng một lúc tồn tại, chồng chập lên nhau, trạng thái của hư vô và hỗn mang khởi thuỷ
– Ai Lao Sơn ở Vân Nam, Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Ai Lao, nước Lào) : hậu lĩnh, chân lĩnh
Câu hỏi là núi lĩnh nào là thủ lĩnh tối cao nhất ? Câu trả lời là tuỳ thời, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ đối tượng, tuỳ mục đích mà nguyên tắc lĩnh nào, bộ số nào được vận hành, nhưng xét theo dòng chảy lịch sử xuyên suốt từ 4000 năm qua, nguyên tắc có thể bao trùm tất cả chính là Hồng Lĩnh, bởi vì Hồng Lĩnh đi theo nguyên tắc là mỗi núi lĩnh cứ lĩnh hội và làm thủ lĩnh theo cách của mình, những lĩnh nào cũng hiện hữu, mọi nơi, mọi lúc và từng nơi, từng lúc, trong cái hư vô và hỗn mang khởi điểm của một cái nôi văn mình siêu cổ mà bao trùm Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á và Việt Nam. Những gì chúng ta đang chứng kiến là hiện thực của Công Nguyên, mà Tần Lĩnh mà trong nó có Hoa Lĩnh đang cực kỳ mạnh nhưng Công Nguyên chỉ là một giai đoạn của văn minh khởi nguồn từ Hồng Lĩnh mà thôi. Công Nguyên bắt đầu thì Công Nguyên cũng kết thúc, còn Hồng Lĩnh vẫn luôn ở đó ngay từ giây phút ban đầu và xuyên suốt Công Nguyên.
