AI LÀ DÂN MIỆT, DÂN MIỀN, DÂN MIẾN, DÂN MIÊN ?

Loading

MIỆT
“Miệt” trong tiếng Việt, đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ, thường được hiểu là từ dùng để chỉ một vùng, miền hoặc khu vực cụ thể, thường có quy mô nhỏ, phạm vi không lớn lắm. Nó gợi cảm giác về không gian, vùng quê, hoặc nơi xa xôi.
Miệt theo đặc điểm địa lý
– miệt biển : Vùng biển
– miệt bưng : Vùng đồng lầy ngập nước, mọc nhiều cỏ lác. Từ này có gốc từ tiếng Khmer trapéang (vũng, ao), ban đầu đọc là trà bang, trà vang, sau rút lại còn bang rồi biến âm thành bưng. Bưng cũng thường được kết hợp với biền (biến âm của biên) thành bưng biền.
– miệt vườn : Vùng đất khô ráo, tương đối bằng phẳng để trồng cây thực phẩm cho rau củ quả (cây rau và cây ăn quả)
– miệt đồng : Vùng đất đồng có nước thủy triều trồng lúa, sen, hoa màu và các loài cây chịu được bán ngập nước
– miệt giồng (miệt cồn, miệt cù lao) : Giồng là dải đất nổi cao ở ven sông do phù sa bồi đắp. Giồng có thể là do phù sa bồi đắp lâu năm tạo thành, hoặc cũng có thể do người dân tạo thành trong lúc đào kênh mương dẫn nước để lập vườn tược. Đất giồng là đất phù sa pha cát, sạch phèn, màu mỡ, nên rất thuận tiện để trồng trọt. Ở Nam Bộ có nhiều địa danh với tiền tố Giồng như Giồng Trôm, Giồng Tượng, Giồng Ông Tố…
– miệt thứ : miệt rạch, rạch ròi thứ tự, rạch là những đường rạch có thứ tự đan vào đất để cung cấp nước cho đất như mạch máu cung cấp nước cho tạng và cơ
Đừng lo cưới vợ miệt đồng
Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm
Sương khuya ướt đẫm giàn bầu
Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai
Anh đi về miệt vườn xa
Chỉ đi đôi bữa, hay là đi luôn
Đi đâu đừng để em buồn
Chi bằng ở lại, sớm hôm sum vầy
Anh đi không chóng thì chầy
Đừng ngờ anh bỏ, nói vầy đau nhau
Miệt theo mực nước
– miệt trên : Vùng cao ở phía tây gồm các tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, phần phía tây các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ và phần phía đông An Giang. Đây là vùng thường bị ngập vào mùa mưa bởi nước sông Cửu Long dâng lên.
– miệt dưới : Vùng thấp ở duyên hải phía đông gồm các tỉnh Vĩnh Long, Cà Mau, phần phía đông Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ và phần ven biển An Giang. Đây là vùng thường bị mặn xâm nhập vào mùa khô.
Ghe anh nhỏ mũi trắng lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em
Miệt theo địa danh
– Cát Miệt : Một đất nước thuộc Phù Nam (68–550), sau đó phát triển thành Chân Lạp, mà là vùng đồng bằng Lục Tỉnh Sông Cửu Long
– Miệt Thứ : Vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long bao gồm huyện Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên, U Minh Thượng ở tỉnh Kiên Giang và huyện U Minh ở tỉnh Cà Mau. Dựa vào tư liệu trong Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Nhất Thống Chí, nhà nghiên cứu Sơn Nam giải thích “miệt” nghĩa là miền theo phương ngữ Nam Bộ, còn “Thứ” có nghĩa là số thứ tự của mười con rạch tiêu biểu chảy song song từ vùng đất trũng giữa đồng bằng ra biển: rạch Thứ Nhứt (Nhất), rạch Thứ Hai, … Tuy nhiên, một số ý kiến khác lại cho rằng tên gọi miệt thứ là để tưởng nhớ người vợ thứ tên Miệt của ông Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, người đã có công đào kênh Vĩnh Tế. So với các vùng đất khác ở đồng bằng sông Cửu Long như miệt vườn, miệt thứ là nơi được khai phá sau cùng, nước lợ, đất trồng không tốt và bị nhiễm mặn nên năng suất lúa không cao, khó trồng cây ăn trái. Bù lại, những sản vật từ rừng như mật ong, trăn, rắn, chim và thủy sản lại rất phong phú dồi dào.
– Miệt vườn : Tên gọi chung cho khu vực nằm trên những dải đất giồng phù sa dọc theo hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang tại đồng bằng sông Cửu Long. “Miệt” là phương ngữ Nam Bộ chỉ vùng, miền. Theo nhà nghiên cứu Sơn Nam, miệt vườn bao gồm các tỉnh Tiền Giang, Gò Công, Trà Vinh, Sa Đéc, Vĩnh Long, một phần của tỉnh Cần Thơ và một phần của tỉnh Đồng Tháp. Ngành nông nghiệp chính trên những vùng đất này là lập vườn trồng cây ăn trái. Đất đai miệt vườn là phù sa pha cát màu mỡ, sạch phèn, lại không bị ảnh hưởng của lũ lụt và nước mặn. Do vậy, miệt vuờn được coi là khu vực đất lành chim đậu, có nhiều tỉnh lị phồn thịnh, sầm uất. Nhiều loại trái cây ngon của miệt vuờn đã trở nên nổi tiếng, gắn liền với địa danh như xoài cát Hòa Lộc (Tiền Giang), quýt Lai Vung (Đồng Tháp), vú sữa Lò Rèn (Tiền Giang), …
– Miệt Hai Huyện : Còn có tên là miệt Chợ Thủ hay miệt Ông Chưởng (“miệt” là phương ngữ Nam Bộ chỉ vùng, miền). Đây là địa danh chỉ vùng cù lao Ông Chưởng, nay thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, không phải là địa danh Chợ Thủ ở Thủ Dầu Một, Bình Dương. Theo nhà nghiên cứu Sơn Nam, cái tên Hai Huyện bắt nguồn từ tên huyện Tân Bình và huyện Phước Long, hai đơn vị hành chính đầu tiên được chúa Nguyễn thiết lập ở miền Nam, tương ứng với Sài Gòn và Biên Hòa ngày nay. Khi quan Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh tiến quân vào đánh Campuchia, người dân và binh sĩ từ hai huyện này đã theo chân ông đến An Giang lập nghiệp.
– Miệt Chợ Thủ : xưa nay là khu vực trù phú, văn minh ở miền Tây. Tại đây có nghề vẽ tranh kiếng thủ công và nghề mộc khá nổi tiếng.
– Miệt Tháp Mười
Anh đi khắp cả miệt giồng
Trở về Nước Xoáy mà lòng nhớ ai
Em yêu anh nên đành xa xứ,
Xuôi ghe chèo miệt thứ Cà Mau
Trai Hai Huyện, gái Miệt vườn
Ai ơi về miệt Tháp Mười
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.
Miệt : Đất có đặc trưng nào đó. Trong ca dao và dân gian, miệt cũng thể bỏ qua, nói về đồng, vườn nghĩa… là miệt vườn, miệt đồng … chứ không phải nói về một khu vườn, một cánh đồng cụ thể.
– miệt vườn : đất vườn
– miệt giồng : đất giồng
– miệt đồng : đất đồng
Anh đừng lên xuống uổng công
Con gái đất giồng không thích đồng bưng
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh
Miệt : Dân sống ở Miệt. Dân “miệt”, dân “miệt thị” là dân quê, dân nhà quê, đối xứng với dân phố, dân thành thị, có các trung tâm là Gia Định, và cũng khác với dân Chăm, dân chiêm thành, là dân sống theo các bao mà bao chiêm là bao chồng chập chứa đựng nhiều thứ chồng chập.
Miệt (động từ)
– Miệt thị : chê bai
– Khinh miệt
Miệt (tính từ)
– Miệt mài
—o—
MIẾT
Miết (động từ)
– miết tay
– miết vào da, vào sứ …
Tôi đang nằm ở sau hè
Xăm xăm anh tới anh đè tôi ra
Rồi anh miết liệt, miết la
Anh làm ướt cả người ta thế này
Là cái gì?
Miết (trạng từ)
– làm miết, nói miết, đi miết
Cái gì tròn vo tròn vỏ
Không nhuộm mà đỏ
Đi miết cả ngày
Mà đứng một chỗ
Là gì?
Trời ơi, nắng miết không mưa
Lan khô, huệ héo thảm chưa quớ trời?
Miết (trạng từ)
– mải miết
Con ong nó lượn vườn cà
Hỏi thăm em Lý có nhà hay không?
Em Lý mải miết theo ông
Tới ao rau muống, nên không có nhà
Ao thu nước gợn trong vời
Gió thu khêu dục gợi người tình chung
Buồn tênh cái tiếng thu chung
Đêm thu ta biết vui cùng với ai
Thờ ơ trúc muốn ghẹo mai
Vô tình nên phải miệt mài đêm thu
Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa
Thấy nàng mải miết xe tơ
Thấy cháu “i – tờ” ngồi học bi bô
Thì ra vâng lệnh Cụ Hồ
Cả nhà yêu nước thi đua phen này
—o—o—o—
MIỀN
Miền thông thường là vùng đất rộng với biên rõ ràng, hơn so với miệt, và trong miền có đồng, biển, đầm …
– Niềm Nam
– – Miền Tây : 3 tỉnh miền Tây của Lục Tỉnh Nam Kỳ toàn bộ các miệt của Đồng bằng sông Cửu Long gọi chung là Miền Tây
– – Miền Đông : 3 tỉnh miền Đông của Lục Tỉnh Nam Kỳ
– Miền Trung
– – Bắc Trung Bộ
– – Nam Trung Bộ
– Miền Bắc
– – Tây Bắc
– – Đông Bắc
– – Đồng bằng sông Hồng : Miền Đông, Tây, Nam, Bắc (ứng với Thăng Long tứ xứ)
Một nhà có bốn nàng dâu
Dâu cả buôn bán ra màu phong lưu
Dâu hai có vẻ mĩ miều,
Bạc tiền thóc lúa, bao nhiêu đem về
Dâu ba lùn tũn, xòa xuề
Nhờ ơn cha mẹ cho về miền Nam
Dâu tư có tánh hay làm,
Chăn trâu cắt cỏ miên man ngoài đồng
Quan Thừa Thiên thì mang áo địa,
Lính Đông Hải đội nón dầu sơn
Trai nam nhi đối đặng, thiếp kết nghĩa Tấn Tần ngàn năm.
– Gái nước Nam buôn hàng thuốc Bắc
Trai Đông sàng cảm động miền Tây
Anh đã đối đặng, em rày tính sao.
Cô Xuân đi chợ Hạ, mua cá thu về chợ hãy còn đông
Trai nam nhi đối được, gái má hồng xin theo.
– Anh ở bên Nam sang bán hàng thuốc Bắc
Chữa cho cô gái Đông phòng cảm bệnh miền Tây
Ông tơ hồng bà Nguyệt lão nhủ anh sang đây kết nguyền
Hát cho lở đất long trời
Cho đời biết mặt, cho người biết tên
Hát từ chợ Phủ hát lên
Hát suốt tỉnh Bắc qua miền tỉnh Đông
Hát sao cho cạn dòng sông
Cho non phải lở, cho lòng phải say
Hát cho biết mặt đó đây
Cho lòng xao xuyến cho ngây ngất tình.
Miền chia theo tính chất như miệt
– Miền Chải – Miền Cuối – Miền Cầu
– Miền đồng chua nước mặn
Miền Đông thì được hoa màu
Miền Chải tôm cá, miền Cầu cửi canh
Mở chợ may vá thông hành
Miền Cuối buôn bán tập tành xưa nay.
Vai mang cái nóp, tay xách cái lọp, cái lờ
Về miền đồng chua nước mặn đặng nhờ miếng ăn
Miền
– Biển sát miền
– Miền Ai Lao
Quảng Nam là xứ tỉnh ta
Trong là Quảng Ngãi, ngoài là Thừa Thiên
Phía đông là biển sát miền
Phía tây có núi, gần miền Ai Lao
Đà Nẵng tàu lớn ra vào
Hội An là phố đông người bán buôn
Sông xanh một dải Thu Bồn
Sông từ chợ Củi đến nguồn Ô Gia
Tỉnh thành đóng tại La Qua
Hội An toà sứ vốn là việc quan
Bốn phủ, bốn huyện mọi đàng
Quan viên cai trị luận bàn việc dân
Đá than thì ở Nông Sơn
Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè
Thanh Châu buôn bán nghề ghe
Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hoà
Phú Bông dệt lụa, dệt sa
Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng
Ngà voi, tê giác, gỗ rừng
Trân châu hải vị chẳng từng thiếu chi
Tỉnh ta giàu nhất Trung kỳ
Nên ta phải học lấy nghề tự sinh…
—o—
MIÊN
Miên (tính từ)
– Miên man : có tính chủ quan, ví dụ suy nghĩ miên man
– Liên miên : có tính khách quan, ví dụ mưa liên miên
Quảng Nam là xứ tỉnh ta
Trong là Quảng Ngãi, ngoài là Thừa Thiên
Phía đông là biển sát miền
Phía tây có núi, gần miền Ai Lao
Đà Nẵng tàu lớn ra vào
Hội An là phố đông người bán buôn
Sông xanh một dải Thu Bồn
Sông từ chợ Củi đến nguồn Ô Gia
Tỉnh thành đóng tại La Qua
Hội An toà sứ vốn là việc quan
Bốn phủ, bốn huyện mọi đàng
Quan viên cai trị luận bàn việc dân
Đá than thì ở Nông Sơn
Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè
Thanh Châu buôn bán nghề ghe
Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hoà
Phú Bông dệt lụa, dệt sa
Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng
Ngà voi, tê giác, gỗ rừng
Trân châu hải vị chẳng từng thiếu chi
Tỉnh ta giàu nhất Trung kỳ
Nên ta phải học lấy nghề tự sinh…
Miên : địa danh
– Cao Miên : Campuchia
Dục Mỹ đi dễ khó về
Đi thì người Việt, lúc về người Miên
Giặc Miên kéo đến Lò Gò
An Nam còn ngáy khò kho trong mùng
Giặc Xiêm xuống tới Chưng Đùng
An Nam mới chịu dỡ mùng chun ra
Bớ này trai tráng làng ta
Đuổi Miên, Man như đuổi con gà bươi rau.
—o—
MIẾN
Miến (danh từ)
– Miên sợi, miến dong, miền xào, miến lươn …
Miến (địa danh)
– Miến điện : Myanmar
—o—
MIỄN
Miễn (trạng từ)
– Miễn bàn
– Miễn thuế
– Miễn nhiễm
– Miễn giảm
– Miễn trừ
—o—
MIỆN
Miện
– Vương miện : là một loại mũ đặc biệt đội trên đầu dành cho người mang tước vương, để đại diện cho quyền lực cai quản một miền đất nước và nhân dân sống trên miền đất nước đó.
—o—
MIỂN
—o—o—o—
Như vậy dân Miệt, Miên, Miến là dân sống dọc theo sông Mêkông tính từ thượng nguồn
– Miến Điện : Myanmar
– Miền Ai Lao : Lào
– Cao Miên : Campuchia
– Cát Miệt : Chân lạp, xưa thuộc Khơ me, nay là miền Nam Việt Nam (Thuỷ Chân Lạp) và Nam Trung Bộ Tây Nguyên (Thổ Chân Lạp)
– Miệt : các vùng địa lý đặc trưng ở đồng bằng sông Cửu Long, nói cách khác đồng bằng sông Cửu Long chia địa giới đặc trưng theo miệt.
Dân “miền” ở đâu cũng có, tuy nhiên miền có một bộ ghép vào thành một xứ sở, một vùng miền hay một đất nước, ví dụ nước ta có miền Bắc, Trung, Nam
—O—O—O—
Kỳ sau : Ai là dân Man, dân Mán, dân Mãn, dân Mạn
Khoá học : Sử Nam và Sử Man (Sử của bộ tộc Việt và các vị Thánh Chúa)
Chia sẻ:
Scroll to Top