THẾ MẮT

Loading

CÁC DẠNG THẾ MẮT

Ánh nhìn của đôi mắt có các thế chính sau
– Mắt nhìn lên : trông lên, nhìn lên, ngửng lên nhìn, ngước mắt, chống mắt, giương mắt
– Mắt nhìn xuống : trông xuống, nhìn xuống, cúi nhìn, cụp mắt, hạ mắt
– Mắt nhìn chéo : nhìn chéo, nhìn xéo, liếc mắt, hé mắt, ghé mắt, nhìn bâng quơ, nhìn lơ đãng
– Mắt nhìn thẳng : nhìn thẳng, nhìn mặt, nhìn vào, ngắm nhìn, lặng nhìn
– Mắt nhìn trước : nhìn trước, nhìn tới
– Mắt nhìn sau : trông về, nhìn lại (phía sau), nhìn về (phía sau), nhìn lui, ngoảnh đầu nhìn lại, quay đầu nhìn lại
– Mắt nhìn nhau : nhìn sau, nhìn lại
– Mắt nhìn song hành, mắt nhìn cùng hướng : cùng trông về, cùng nhìn về, cùng thấy
– Mắt nhìn theo : nhìn theo, trông theo, dõi theo, hướng theo
– Mắt nhìn gần : nhìn sát, nhìn gần, dí mắt, nhìn cận cảnh
– Mắt nhìn xa và rộng : trông xa, trông ra (môi trường hoàn cảnh), quan sát tổng thể

Cơ bản nhìn bằng mắt là nhìn bằng đầu, nhìn bằng não, vì thông tin đi từ mắt sẽ được truyền đến não.

NHÌN BẰNG TÂM

Các tâm thế của việc nhìn
– Tận mắt chứng kiến : Mục sở thị Mục (目): mắt. Sở (所): điều, nơi. Thị (視): nhìn thấy
– Nhìn bằng cả tâm và mắt : nhận thấy, ngưỡng mộ, trông chừng, trông coi
– Nhìn bằng nửa con mắt (không phải mắt chỉ mở có một nửa) : Đây là tâm không thèm nhìn (khinh thường), tâm không dám nhìn (xấu hổ), tâm không đủ năng lực nhìn đối tượng cần quan sát (chữ thần 臣)
– Nhìn bằng tâm (không dùng mắt hoặc độc lập với mắt) : thấy rằng, thấy là, nhận ra, hiểu rằng, biết là, ngầm hiểu, xem xét
– Nhìn cái này mà hiểu được cái kia, nhìn một thứ để hiểu ra toàn bộ thế cục, nhìn một vài sự việc đơn lẻ để hiểu ra toàn bộ xu hướng : quán chiếu

Các thế mắt phản ánh tâm thế, quyết định bởi tâm thế và chỉ có thể quan sát thực sự bằng tâm thế, nhìn bằng tâm, mà tâm thì có thể vận hành với mọi trạng thái nhìn của mắt và cả khi nhắm mắt, cả khi mù mắt, nhưng năng lực tâm lại cực kỳ khác biệt với mỗi người.

DÂN GIAN NÓI VỀ THẾ MẮT QUA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO

Dân gian có rất nhiều thành ngữ về các thế mắt, đặc biệt là các thế mắt đối xứng âm dương, mỗi địa chi mạnh và yếu một dạng thế mắt nào đó
– Nhìn ngang nhìn ngửa : Tỵ
– Nhìn trước ngó sau : Mã, đỉnh cao là “Mã đáo thành công”
– Nhìn tới nhìn lui : Thân
– Nhìn trời nhìn đất (trông trời, trông đất) : Dần
– Trông lên trông xuống : Mão
– Trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng : Mã
– Nhìn vào khía cạnh này, nhìn vào khía cạnh khác (xem xét) : khỉ
– Nhìn suốt tiến trình : Long
– Liếc ngang liếc dọc : Ngọ.
– Mắt nhắm mắt mở : Mão
– Nhìn đời bằng nửa con mắt : Mão
– Nhìn toàn cục : Mã
– Có mắt mà không thấy thái dương : Mã
– Mục sở thị (tận mắt chứng kiến) : Mão, Dần, Tý
– Nhìn quán chiếu : Mã, Mão, Tỵ
– Từ bụng ta suy ra bụng người
– Chập cheng, mù quáng : Dậu, đặc biệt là “quáng gà”

Ca dao có một số câu về thế nhìn cùng tâm thế tương ứng

– TRÔNG

Trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng

Nhìn lên là người có thế cao hơn, cho nên mình không bằng người ta, nhìn xuống là nhìn người có thể thấp hơn nên người ta không bằng mình. Dù mình ở đâu, luôn có hai thế nhìn như vậy.

Trông người lại ngẫm đến ta (Truyện Kiều)

Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.

Bài này mô tả một bộ thế mắt
– Trông trời : Nhìn lên
– Trông đất : Nhìn xuống
– Trông mây : Nhìn chéo lên
– Trông mưa : Nhìn chéo xuống
– Trông nắng : Nhìn ngang
– Trông ngày, trông đêm : Là nhìn chu kỳ ngày đêm và nhìn trạng thái ẩn hiện, nhìn
– Trông cho chân cứng đá mềm : Nhìn hình thế (chân cứng), nhìn tâm thế (đá mềm)
– Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng : Nhìn thiên hạ (trời yên), nhìn hoàn cảnh (biển lặng), rồi quay về nhìn chính bản thân mình (tấm lòng)
– Người ta đi cấy lấy công : Đây là tầm nhìn Công
– Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề : Đây là tầm nhìn đa phương, mà bổ sung cho tầm nhìn thống nhất chính phương của ông Công

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

“Trông về” là nhìn về quá khứ, nhìn xa về phía sau, hồi tưởng lúc con được mẹ mang nặng đẻ đau. Con là núm ruột của mẹ, cho nên “trông về quê mẹ ruột đau”. Nhìn về quá khứ là cách nhìn hồi tưởng, mà mang nặng tính chiêm nghiệm, tính suy tư, tính quán chiếu, ví dụ “nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ”.

Chàng ơi buông tay em ra
Rồi mai trông thấy đường xa em chào
Chàng đừng làm ráo máng cạn tàu
Rồi mai trông thấy mặt nhau bẽ bàng

Nhác trông con mắt đáng trăm
Miệng cười đáng chục, hàm răng đáng nghìn
Nhác trông con mắt ưa nhìn
Đáng trăm cũng chuộng, đáng nghìn cũng mua

– NHÌN

Người khôn con mắt dịu hiền
Người dại con mắt láo liên nhìn trời

Bài này nói về thế mắt thuận (người khôn con mắt dịu hiền) và nghịch (người dại con mắt láo liên nhìn trời).

Khôn nhìn mặt, dại nhìn gan

Chim sâu đậu trên nhành sầu đâu
Cá lia thia ở chậu thia thia
Mắt em nhìn như cung nọ nhìn bia
Bấy lâu con cá nọ ở đìa
Bây giờ con cá nọ đã lìa ao sâu

Mặt nhìn trăng, trăng lại còn khuya
Muốn quăng câu sợ cá mê đìa không ăn

Mắt nhìn lụy nhỏ hàng hai
Cúc tàn, kiểng héo tại hai đứa mình

Ra về tay nắm lấy tay
Mặt nhìn lấy mặt, lòng say lấy lòng

Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền

Bữa nay nhìn mặt cho tường
Đến mai dời gót nẻo đường xa xôi

Thèm trầu mà chẳng dám xin
Thương em mà chẳng dám nhìn mặt em

Chiều trông về núi Tô Châu
Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm
Trâm đồi mồi tóc em em giắt
Mắt anh nhìn thương thiệt là thương
Dãi dầu một nắng hai sương
Tóc em vẫn mượt mùi hương vẫn còn

Gặp nhau giữa quãng đường này
Xóm làng thì vắng, mẹ thầy thì xa
Lấy ai định liệu cho ta
Mặt lại nhìn mặt, tay đà cầm tay

THẾ MẮT NHÌN LÊN

Mắt nhìn lên : trông lên, nhìn lên, ngửng lên nhìn, ngước mắt, chống mắt, giương mắt

Mắt nhìn lên thể hiện sự sùng tín, sự quy phục, sự ngưỡng mộ, đặc biệt với
– Ông Trời
– Các đấng như Phật Chúa
– Cha, thày
– Vua, hoàng đế
– Người quỳ nhận lễ nhìn lên người làm lễ, ví dụ lễ ban tước
– Người quỳ cầu hôn nhìn lên người yêu

– GIƯƠNG

Giương mắt lên, ngược lại thể hiện sự, phản công, chống đối với các dạng quyền lực bề trên

Giương mắt ếch

Của trời trời lại lấy đi
Giương hai con mắt làm chi được trời

Trai chưa vợ hay đứng đường
Gái chưa chồng giương mắt xem ai

Ô kìa con cái nhà ai
Cái váy thì dài, áo ngắn ngang hông!
Thấy ai giương mắt ra trông
Nghề nghiệp chẳng có, chổng mông kêu trời!

Lớp thiền quán tâm thế

Ký ức bi ông ngoại mắng, lúc đó em ngửng lên nhìn, ông bảo người lớn mắng mà cứ trừng trừng mắt nhìn.

Lên khoá tu thiền ở chùa, thời thiền dài, em hơi ngửng đầu lên, nên bị thày chùa gõ thước vào đầu bảo cúi đầu xuống.

Ký ức đi thiền viện gần đền Cửa Ông, xây cao trên đồi nhìn ra biển, có rất nhiều khu, em vào thiền viện có Phật Thích Ca rất to, em ngồi thiền ở đó, khi em ngửng mặt nhìn lên, em thấy thày Thích Ca nhìn xuống, lúc đó có năng lương phủ lên toàn người em. Tết rất đông, các thày ở đó ko cho ngồi lên cao gần chân tượng, em ngồi chính giữa phòng, dưới ánh mắt thày Thích Ca, Các bà bảo phải ngồi 2 bên, người chính giữa như thế là bất kính, nhưng em cứ có cảm giác nên ngồi ở đó. Khi ngồi đó, thiền 15, 20 phút ko đi đâu cả, có năng lượng gì đó đặt lên đầu mình, giống như cái nghi lễ gì đó. Hôm đó ko đi đâu thêm cả em thấy rất đủ, em nhớ em sau Tết đó, đến giữa năm em xin nghỉ việc, buổi hôm đó cho em năng lượng gì đó, cho 1 năng lượng thay đổi, hồi đó em ko nghĩ gì đâu, nhưng bây giờ hổi tưởng ký ức này thì em lại thấy.

THẾ MẮT NHÌN XUỐNG

Mắt nhìn xuống : trông xuống, nhìn xuống, cúi nhìn, cụp mắt, hạ mắt

Thế mắt nhìn xuống bao trùm toàn bộ, là thế mắt của
– Các đấng, của Phật, của Chúa
– Cha mẹ, thày, những người có thể bao dung và định hướng toàn bộ con người và cuộc đời của người ở bên trong ánh mắt ấy, ví dụ mẹ nhìn xuống con đang ngủ trong vòng tay mình

Thế mắt nhìn xuống khinh bỉ, coi thường, ánh mắt giống như đường kiếm đâm và ghim người bên dưới xuống thấp dưới đất

Thế mắt cụp nhìn xuống đất, an phận nhưng có phần dửng dưng với những thứ không thuộc phận sự của mình

Thế mắt nhìn chéo xuống, nhưng thực tế là không an phận

Trông lên hòn núi Nhạn
Đến bên hữu ngạn sông Đà
Chuông chiều đổi tiếng ngân nga
Chợt thấy ông Hạng Vũ vịn nhánh đa mà chuyền
Cô lái đò nhìn xuống nước cười duyên
Tưởng nàng Ngu Cơ đứng đợi ở miền Ô Giang

Ban mai ra đứng trông mây, thấy mây giăng mấy chỗ
Cúi xuống nhìn sông thấy sóng vỗ mấy từng
Nước dưới hồ không ai tát mà lưng
Lửa không ai đốt sao cây trên rừng cháy khô?
Mấy bữa rày bạn bỏ đi mô
Chữ sầu tình nỡ để ra vô một mình?

– CHỮ THẦN 臣 (là nửa con mắt cụp)
– ba thần 波臣
– bất thần 不臣
– bồi thần 陪臣
– bính thần 柄臣
– cận thần 近臣
– chu thần 周臣
– cô thần 孤臣
– công thần 功臣
– cựu thần 舊臣
– danh thần 名臣
– di thần 遺臣
– đại thần 大臣
– đình thần 廷臣
– gian thần 奸臣
– hạ thần 下臣 (từ quan lại xưng với vua)
– hàng thần 降臣
– hạnh thần 幸臣
– hiền thần 賢臣
– khổn thần 閫臣
– nhị thần 貳臣 những kẻ làm quan hai họ
– lão thần 老臣
– loạn thần 亂臣
– nịnh thần 佞臣
– nội thần 內臣
– phiên thần 藩臣
– quân thần 君臣
– quyền thần 權臣
– sắc thần 穡臣
– sủng thần 寵臣
– sứ thần 使臣
– sử thần 史臣
– tà thần 邪臣
– tẫn thần 藎臣
– thị thần 侍臣
– thế thần 世臣
– trọng thần 重臣
– trung thần 忠臣
– triều thần 朝臣
– vương thần 王臣
– xu thần 樞臣

– thần bộc 臣僕 tôi tớ,
– thần thiếp 臣妾 nàng hầu

– thần thứ 臣庶 thứ dân,
– thần dân 臣民
– thần tính 臣姓 nhân dân trăm họ.
– việt nam nhân thần giám 越南人臣鑑

– thần lỗ 臣虜
– thần hạ 臣下
– thần phục 臣服
– thần tử 臣子
– xưng thần 稱臣

Chữ Thần mô tả con mắt cụp, mà được cho là của một nguời thể hiện tư thế quỳ hoặc cúi đầu trước vua, hay một quyền lực tập trung tối cao.

Sự khác nhau giữa chữ Thần hiện nay và chữa Thần giáp cốt là đuôi mắt. Chữ Thần hiện nay có đuôi mắt cụp xuôi một hướng xuống đất, có nghĩa là phục tùng mệnh lên trên cao tuyệt đối. Chữ Thần giáp cốt có hai hướng đuôi mắt, một lên một xuống. Chữ Thần giáp cốt cân bằng hơn rất nhiều so chữ thần kiểu thần phục với đuôi mắt cụp hiện nay.

– Lớp thiền quán tâm thế

“Từ lúc đi mặt đến lúc đi làm, ai cũng bảo em hiền, trong khi em ko hiền, có phải do thế mắt luôn cụp xuống nên mọi người mới bảo em hiền”

“Với chồng, đa phần em ở cái thế mắt cụp xuống rất gần chồng, kiểu chỉ nhìn ngực của anh ấy, khi chồng chạm vào giới hạn của em ví dụ to tiếng lúc này em sẽ nhìn thẳng, như cái nhìn ngang hàng, em sẽ tuyên bố cái ranh giới của mình.

Với mẹ chồng và mẹ đẻ em, em có trò mắt nhìn chéo xuống nhưng thỉnh thoảng liếc lên nhìn trộm, cái tâm của em quả thật phòng thủ, để có vẻ ngoan ngoan và người ta không biết thái độ mình.”

THẾ MẮT NHÌN CHÉO

Thế mắt chéo có chéo lên, chéo xuống, chéo ngang trái, chéo ngang phải

Nhìn chéo là cách nhìn không thật sự tập trung toàn tâm toàn ý, nhìn kiểu quán chiếu.

Nhìn chéo là cách nhìn cực kỳ phổ biển của nữ, để quan sát một đối tượng vận hành tự nhiên theo cách thức của nó, trong môi trường sống của nó, để hiểu, với một khoảng cách không quá gần không quá xa, không đối mặt, không đối đầu cũng không can thiệp

Liếc xéo, ngược lại cách một đối tượng tuyên bố với đối tương khác là đừng đụng đến nó, đừng can thiệp vào việc của nó, đừng bước vào môi trường sống của nó.

Thế nhìn chéo được mô tả băng các bài ca dao về thế mắt liếc, dạng như “Liếc cây ớt chết cây hành”

Liếc nhìn thế sự thăng trầm
Chú đui khỏe mắt, anh câm khỏe mồm

Liếc mắt thấy bóng văn nhân
Đi đâu mà lại quá chân chốn này

Liếc dọc thằng trọc rụng rời
Liếc ngang ông hoàng bủn rủn
Liếc ngay thằng nài chết héo
Liếc xéo thằng vẹo chết khô

Con mắt em liếc cũng ngoan
Cái chân em bước tựa đàn năm cung
Đàn năm cung say cung say điệu
Ta với mình dan díu từ đây

Tay cầm cây viết liếc xem
Thấy ai đi đó tưởng tình nương vội mừng

Yêu nhau con mắt liếc qua
Kẻo chúng bạn biết, kẻo cha mẹ ngờ
Gần thời chẳng bán duyên cho
Xa xôi cách mấy lần đò cũng sang

Dao vàng mà liếc đá vàng
Mắt anh anh ngó, mắt nàng nàng ngơ
Ngó chi cho thế gian ngờ
Đó thương đó biết, đây chờ đây hay

Lớp thiền quán tâm thế

“Bên em cũng lên thế mắt và thế tai với các quan hệ của mình, chỉ có thế với con là cả mắt và tai, còn thế với người khác chỉ có mắt không có tai, thế với con, em đang hỏi chuyện và nghe con nói chuyện em nhìn vào mắt con, nhưng em nhìn chéo xuống, ko nhìn cao, và tai dỏng lên nghe ngóng, em nhìn cả mắt và khuôn măt của con để nó có thái độ gì mình bắt được luôn, tai mình dỏng lên nghe lời nó, tâm mình muốn tìm hiểu, mình muốn hiểu rõ cái đứa con này, lời nó nói 1 đằng, ánh mắt nó 1 kiểu, tâm muốn hiểu tiếng lòng của con, hiểu cái chân thật”

“Khi con đã lớn, dù hai mẹ sống cùng nhà nhưng con bắt đầu tách ra, có phòng riêng, và nhiều khi cũng không ăn cùng giờ, hầu hết ánh mắt của mẹ quan sát con là nhìn chéo, quan sát con trong môi trường học tập và sinh hoạt tương đối tự do và độc lập của con với mẹ

Quan sát nhân viên làm việc từ chỗ ngồi mình, để biết nhân viên làm gì, nhưng không can thiệp, kể cả trong trường hợp nhân viên làm sai, chủ yếu ánh mắt là nhìn chéo”

Chia sẻ:
Scroll to Top