VU LAN : LỄ QUAN TRỌNG NHẤT ĐỂ ĐỐT VÀNG MÃ

Loading

VU LAN & VÀNG MÃ
Vu Lan là Tết quan trọng nhất của năm để đốt vàng mã, trong các Tết có thể dùng vàng mã là
– Tết Vu Lan : đốt vàng mã để đỡ cho cô hồn xuất ngục có thể chuyển thế mới, nhập thế mới
– Tết Nguyên Đán : đốt vàng mã để hỗ trợ cho gia tiên về nhà đón Tết
Các lễ chính có thể dùng vàng mã
– Lễ động thổ, lễ nhập trạch, lễ chuyển nhà mà dịch chuyển cả phần dương và phần âm xuất ra khỏi nhà đất, nhập vào nhà đất hoặc di chuyển từ nhà đất này sang nhà đất khác
– Lễ tang dùng một loại vàng mã đặc biệt để đỡ cho phần âm của người mất hoặc phần âm đi theo đất và theo cây dòng họ của người mất theo xe tang đưa người mất ra mộ. Đây là sự kiện quan trọng nhất cần dùng đến vàng mã trong một lễ tang. Khi đốt đồ dùng như quần áo, sách vở, giường chiếu … của người mất thì cũng nên đốt thêm vàng mã để xuất phần âm của người mất ra khỏi đồ đạc và ra khỏi nhà đất của người đã khuất.
VÀNG MÃ & SỚ
Đốt vàng mã và đốt sớ thực chất là hai hành động song hành.
– Vàng mã là lệnh xuất kho tiền âm (ngân quỹ phúc phần) của người dương mang theo vào đầu thai để hỗ trợ các công việc liên quan đến phần âm. Xuất kho là hành động vô nghĩa nếu người làm lễ không biết mình xuất kho để làm việc gì, cứu trợ người âm nào, với lý do gì. Các mục đích này nằm trong nội dung lời nguyện của người làm lễ. Lời nguyện của người làm lễ có thể được ghi lại trong sớ bởi thày cúng, để chuyển đến thần linh.
– Vàng mã thường được bán ở cửa hàng, còn sớ thường được viết bởi thày cúng
– Vàng mã hay sớ đều cần hoá vàng. Hoá vàng là hành động chuyển phúc phần (chứ không phải vàng mã) ra khỏi kho của người dương, chuyển đến cho người âm sử dụng và chuyển lời nguyện (chứ không phải sớ) của người dương đến thần linh. Như vậy lời nguyện là quan trọng nhất chứ không phải vàng mã hay sớ, và mức độ lời nguyện sẽ tương ứng với mức độ xuất kho.
– Vàng mã thường dùng để hỗ trợ vong ma hoặc các dạng năng lượng âm tương tự, trong khi sớ thường được gửi cho thần linh.
– Không phải cứ nhờ thày cúng viết sớ cho mình, là ước nguyện của mình được chuyển đến thần linh. Không phải cứ mua vàng mã ở cửa hàng là ngân quỹ phúc đức của mình cũng được xuất kho ra tương ứng.
PHÚC PHẦN
Các lưu ý về phúc phần
– Phúc phần thể hiện trong cung phúc đức trên bản đồ Tử Vi.
– Những người làm việc tâm linh thường phải có một ngân quỹ phúc phần rất đặc biệt để hỗ trợ cho họ trên đường tâm linh, sao cho họ có thể gặp đúng người, làm đúng việc.
– Người càng làm việc lớn thì kho ngân quỹ của họ càng lớn, phúc đức của họ càng lớn, nghĩa là trách nhiệm và nghiệp quả gắn với việc họ sử dụng phúc phần này cũng cực kỳ lớn.
NGÂN QUỸ
Các lưu ý về ngân quỹ
– Bà Chúa kho là người quản lý các kho phúc phần, nhưng không phải cứ đến lễ bà Chúa kho thì có thể xin thêm ngân quỹ cho mình. Trong thế giới tâm linh, mục đích quyết định phương tiện (ngân quỹ), có sứ mệnh thì sẽ có tiền âm tương ứng để gánh vác sứ mệnh. Những người có thể xin bà Chúa kho xuất kho thì phải gánh vác các đại nghiệp cho dân tộc cho đất nước. Cho nên, việc đi xin tiền bà Chúa kho khi không biết mục đích sử dụng là gần như không khả thi.
– Lễ ở đền đình chùa nào cũng liên quan đến việc dùng đến ngân quỹ của cá nhân người làm lễ và việc xuất kho của các vị thần linh ở đình đền chùa để hỗ trợ cho người làm lễ, giống như là cho vay ngân quỹ, nên có hiện tượng trả lễ.
– Xuất ngân quỹ là vô nghĩa nếu như người làm lễ không biết vàng mã lấy trực tiếp từ phúc phần của mình, chứ không từ cửa hàng bán vàng mã, cũng không lấy từ kho của bà Chúa kho.
– Trong thế giới dương, việc tiêu dùng quá số tiền có được gây nợ nần. Ngược lại, nợ nần trong thế giới âm chủ yếu là do không dùng tiền âm có sẵn mang theo trong đầu thai. Có tiền âm mà không sử dụng, chỉ toàn học hành và suy nghĩ, thì chắc chắn sẽ nợ bài học, nợ nghiệp
– Không có phúc phần để làm một việc mà cứ cố tình làm sẽ bị trả nghiệp, vì rất giống ăn cắp một cách u mê, ăn cướp vì tham sân si, mà trong tâm linh thì không thể ăn cắp ăn, cướp được, mọi thứ đều cần thực lực.
– Tiền âm và tiền dương thường không thể quy đổi trực tiếp sang nhau được. Một người có tiền âm vượt xa tiền dương được gọi là người có phúc. Một người có tiền âm kém xa tiền dương là những người nên làm thiện nguyện. Bố thí, cúng dường và làm thiện nguyện có bản chất là để tăng tiền âm, bằng cách sử dụng tiền dương. Nếu như đốt vàng mã và nguyện sao cho đúng mà một người còn chưa làm được thì bố thí, cúng dường và làm thiện nguyện đúng là việc quá trình độ, càng cố làm càng thể hiện sự vô minh và tham cầu.
– Mỗi người có cấu trúc ngân quỹ nhất định, để làm những việc tâm linh nhất định, tương ứng với nghiệp quả mang theo trong đời đầu thai. Những ngân quỹ đã xác định mục đích sử dụng, liên quan đến việc giải quyết một nghiệp quả nhất định, không thể dùng cho nghiệp quả khác, không thể dùng trước hoặc sau thời hạn trả nghiệp hay thời hạn hoàn thành bài học nghiệp.
– Phúc phần mang vào một đời đầu thai liên quan đến tính mạng của một người trong đời đầu thai đó, phúc phần còn thì mạng còn, bệnh nặng cũng sẽ cầm cự hay chữa được, phúc phần được sử dụng hết hoặc hết thời hạn sử dụng mà không được sử dụng thì mạng cũng hết, không bệnh tật cũng sẽ tự chết.
– Ngân quỹ âm có chu kỳ vận hành và tình trạng tồn kho, hoặc thấu chi, y hệt như vận hành ngân hàng trên dương gian. Bình thường, một người sẽ không biết đến thực trạng ngân quỹ hay phúc phần của mình, nhưng họ có thể hiểu được rằng vào một chuyển vận và chuyển thế, toàn bộ phúc phần trước chuyển vận và chuyển thế đó cần được sử dụng hết.
VIỆC DÙNG VÀNG MÃ CỦA TÔI
Tôi thực sự không biết các thày cúng dùng vàng mã thế nào, nên khi có đợt nghiên cứu về vàng mã, tôi đã mua nhiều loại vàng mã khác nhau để đốt cho các dịp lễ mà cần hỗ trợ về đường âm, và tôi chốt lại chỉ nên dùng hai loại truyền thống là đinh đỏ và xu vàng, nên nhà tôi lúc nào cũng có sẵn khá nhiều vàng mã thuộc hai loại này, mà rất ít khi dùng.
Tôi hoàn toàn có lựa chọn bỏ vàng mã đi chỉ làm lời nguyện xuất kho phúc phần, nhưng tôi lựa chọn giữ vàng mã, với các lễ có người âm vì người âm cần rất nhiều sự trợ giúp về hình tướng.
Tôi thường chỉ luôn đốt đúng một tập xu đỏ, một tập đinh vàng và ngọn lửa hoá vàng thường đưa tôi vào thẳng những quyết định rất quan trọng cho buổi lễ.
VIỆC DÙNG SỚ CỦA TÔI
Tôi không bao giờ tự viết sớ, cũng không bao giờ nhờ người khác viết sớ, vì quan điểm của tôi là việc này phá nhiều nguyên tắc tâm linh hơn là hỗ trợ cho lời nguyện, mà mới là cái gốc. Trong tâm linh, việc gì cũng phải tự làm, bằng thực lực, nói cách khác lời nguyện chỉ có ý nghĩa khi nó là lời tự nguyện, chứ không phải là lời viết sẵn thậm chí đọc sẵn bởi người khác.
Tôi chỉ dùng tâm thức để tự mình đưa ra lời nguyện, mà không bao giờ viết nó ra. Nguyện sai thì nguyện lại. Không biết nguyện gì thì nguyện những thứ đơn giản nhất mà luôn luôn đúng, ví dụ xin kết nối với thần linh để được hiểu về chính vị thần linh đó và hiểu về một khía cạnh nào đó của con người mình và cuộc đời mình mà liên quan đến vị thần linh đó.
Tôi không cầu khấn kiểu xin xỏ cái gì bao giờ, nên có lần được thần linh đưa ra thử thách xin cái gì cụ thể, có ý nghĩa mà phù hợp với năng lượng vị đó và với con đường tâm linh của tôi, tôi cũng cảm thấy vô cùng khó khăn. Tôi biết viết sớ là điểm yếu của tôi trong khi nguyện lại là điểm rất mạnh của tôi, nên tôi đi theo điểm mạnh.
Tuy không viết sớ nhưng tôi đã từng nhiều lần đưa ra những lời nguyện khoá hình âm, chính là gốc của sớ. Tôi đã từng khoá một chữ viết nào đó cho nhà đất hay cho tâm thế của học sinh trên bàn thiết cuộc đời. Đôi khi tôi phải gỡ những hình âm cũ, những chữ viết cũ đã đến kỳ hạn chuyển đổi trên một trường xứ sở. Bản thân tôi, vào một chu kỳ thì tôi cũng phải thay hình âm mới. Biểu tượng của Omi School là một khoá hình âm dạng như vậy, mà thực tế phức tạp hơn nhiều so với hình được vẽ ra.
Có thể tương lai, tôi sẽ viết một tờ sớ để trấn một hình âm cụ thể nào đó, chứ không thuần tuý đi hình âm bằng tâm thức như hiện nay, khi điều này là cần thiết.
Đôi khi tôi cảm thấy hài hước là cái ngày đó nếu đến tôi sẽ viết một chữ Chăm, chữ Phạn hay chữ Hán Nôm chứ không phải viết chữ Hán, bởi vì đơn giản là âm gốc của các tiếng này là như nhau, vậy chỉ cần cất cái âm gốc này lên và đổi trường tiếp nhận là chữ tương ứng sẽ hiện ra mà thôi. Đó cũng là lý do tôi từ chối viết sớ bằng tiếng Hán khi mà chính tôi còn chẳng viết nổi tên Hương của tôi viết bằng tiếng Hán thế nào cho đủ với nghĩa của âm gốc, thế thì viết một cái sớ ra thành lời xuống giấy thì e rằng lời nguyện sẽ mất hết năng lực chạm đến thành thần. Dùng lời tậm và tâm thế hướng thẳng đến thánh thần mới là con đường đúng đắn nhất với cá nhân tôi.
HOÁ VÀNG
Tóm lại trong bộ đôi vàng mã và sớ, tôi dùng vàng mã hình, vàng mã vật lý và sớ âm, sớ tâm thức. Tôi muốn ở lại đủ sâu khoảnh khắc hoá vàng trong một buổi lễ. Với tôi, hoá vàng là thời khắc chuyển hoá quan trọng nhất của một buổi lễ, mà khi có vàng mã để đốt, xúc chạm và cảm nhận về nhịp điệu buổi lễ sẽ chính xác hơn. Lễ nào của tôi cũng có nước và đương nhiên ngọn lửa hoá vàng sẽ là sự cân bằng cực kỳ quan trọng với nước.
Khi tôi cần điều chỉnh điều gì đó, cần thay đổi lời nguyện, cần xuất kho thêm … vàng mã sẽ thường đốt không cháy hoặc cháy rất chậm. Khi tôi đắm chìm vào ngọn lửa, tôi sẽ tự hiểu ra tôi phải làm gì.
Vu Lan năm nay (Bính Ngọ 2026), tôi có một cảm giác phải đốt rất nhiều vàng mã, nhưng không biết nhiều là thế nào, nên tôi vẫn chỉ mang gấp đôi lượng vẫn dùng ra đốt. Kết quả vì đốt nhiều nên đốt rất lâu, nhưng thực ra vì tôi cần có một lời nguyện xuất kho quan trọng cho lễ Vu Lan năm nay nên tiền đốt vô cùng khó cháy.
Khi tôi đang đốt vàng mã, thì bỗng nhiên trong tôi bật lên suy nghĩ là chết rồi thì bao nhiêu tiền cũng mang theo được, điều này đúng với cả cái chết của thân thể vật lý và cái chết tâm thế.
Tôi suy nghĩ rằng Vu Lan này là tận thế của cả nhân loại về tâm thế, nói cách khác nhân loại phải chuyển được sang tâm thế mới khi tâm thế cũ đã tận, họ thành một con người mới trong thân thể cũ, họ thay rượu mới vào bĩnh cũ cho cuộc đời mình. Điều này đúng cho cả người sống và người chết. Đương nhiên chuyển đổi tâm thế là khó nhất cho người ở trong địa ngục, vì địa ngục là nơi chốn con người giam mình trong một tâm thế sai lầm. Vong ma nào không ra được khỏi ngục trong Vu Lan này họ sẽ đi ở luôn trong địa ngục một đại chu kỳ nữa. Việc này có nghĩa là người dương liên quan đến người âm này đã thất bại trong bài học của cả hai trong chu kỳ kết thúc ở Vu Lan.
Tôi đang đi qua tận thế, tôi đang đi qua cái chết về tâm thế, tôi đang chuyển thế, tiền âm của tôi không được dùng hết quan đợt này sẽ thành rác âm. Tôi quyết định đưa ra lời nguyện xuất hết kho ngân quỹ ra dùng cho đợt Vu Lan này.
Tuy nhiên một phần khác trong tôi không đồng ý, nó cho rằng chỉ một phần tâm thế của tôi phải chết đi trong Vu Lan, các phần khác và phần gốc của tôi vẫn sẽ tiếp tục sống, tiếp tục đi trên đường tâm linh, tôi cần sử dụng rất nhiều phúc phần, rất nhiều tiền âm trong tương lai.
Lúc này tôi thấy lượng ngân quỹ khổng lồ tôi đã mang theo và đã sử dụng trong mười mấy năm dạy thiền. Trong những đám ma tôi đỡ cho gia đình các học sinh, tôi đều phải xuất ngân quỹ của mình ra dùng, cùng với ngân quỹ của các bạn học sinh. Đây là ngân quỹ cá nhân. Phần ngân quỹ tăng đoàn tôi đã dùng để siêu thoát vong ma của chiến tranh kể từ khi còn làm cho một doanh nghiệp quân đội chứ không đợi đến lúc chính thức đi dạy thiền. Phần ngân quỹ khổng lồ nhất mà tôi mang theo liên quan đến tăng đoàn, mà chỉ xuất kho tốt nhất trong Vu Lan và Nguyên Tiêu, là hai đợt có năng lượng tăng đoàn mạnh nhất.
Suy đi tính lại, tôi quyết định điều chỉnh lại lời nguyện xuất kho là tôi sẽ xuất toàn bộ ngân quỹ có thể dùng để chốt các nghiệp quả của tôi cần chốt cho đại vận Vu Lan này. Lúc này tôi mới nhận ra nhóm vong ma đang ở sân nhà tôi chi là vong ma qua đường, vong ma trên đất, vong ma xứ sở, các mảnh vong ma mảnh của tôi, vong ma của cây dòng họ, vong ma của OS lúc này mới xuất hiện, vì phải được tăng đoàn và ngân quỹ tăng đoàn hỗ trợ.
Trường tăng đoàn đã chuyển hết kho ngân quỹ của các học sinh mà đã đến hạn sử dụng trong Vu Lan nhưng không được các bạn sử dụng để chuyển sang ngân quỹ của tôi. Bằng cách này, tôi rút hết các vong ma liên quan đến các bạn, và dòng họ các bạn lên trường tăng đoàn. Ngân quỹ cũng được chuyển giữa các thành viên của tăng đoàn hỗ trợ tôi trong sự kiện này.
Tôi hiểu rằng ngân quỹ phúc phần là một phần của thiết kế nghiệp quả đầu thai, mà có nhiều cấp độ. Cấp thủ kho, cấp bảo lãnh cao hơn sẽ có thể chuyển kho, rút kho từ các cấp thấp hơn, vào các đợt chốt chuyển vận. Chuyển ngân quỹ nghiệp quả từ cấp độ cá nhân lên cấp độ tăng đoàn chính là lý do mà thày Thích Ca khuyên Mục Kiền Liên phải đợi đến Vu Lan mới có thể cứu mẹ ra khỏi địa ngục, vì trong Vu Lan, Mục Kiền Liên sẽ được hỗ trợ bởi lời nguyện của chư tăng.
Chia sẻ:
Scroll to Top