HẠNH NGUYỆN ĐOẠN TRƯỜNG CỦA KIỀU QUA MƯỜI BÀI THƠ HOẠ ĐOẠN TRƯỜNG

Loading

Hội Chủ và 10 bài thơ Đoạn Trường Hội Chủ đưa cho Kiều hoạ qua Đạm Tiên là những nhân vật và chi tiết thần bí nhất truyện Kiều.
Kiều gặp Đạm Tiên trong mơ
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng, như gần như xa.
Rước mừng, đón hỏi dò la:
“Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây?“
Đạm Tiên báo cho Kiều biết là có tên trong sổ Đoạn trường và trao cho Kiều mười bài thơ để Kiều hoạ
Thưa rằng: “Thanh khí, xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu, gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa.
Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”
Kiều vâng lời chuyển của Đạm Tiên, hoạ đủ mười khúc ngâm
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm.
Đạm Tiên xem thơ khen nức nở là trong tập Đoạn trường thì hoạ của Kiều phải đứng nhất
Xem thơ nấc nở khen thầm:
“Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường!
Ví đem vào tập đoạn trường,
Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai!”
Tỉnh mộng, Kiều mới biết cuộc gặp gỡ với Đạm Tiên xảy ra trong chiêm bao
Thềm hoa, khách đã trở hài,
Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu sịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
Trông theo nào thấy đâu nào,
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa, nghĩ nỗi sau này mà kinh!
Hoa trôi, bèo dạt, đã đành,
Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!
Nghĩ đến số phận Đoạn trường của mình, Kiều khóc
Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi,
Nghĩ đòi cơn, lại sụt sùi đòi cơn.
Nghe giọng Kiều, mẹ hỏi nguyên nhân, Kiều trả lời rằng mười bài thơ Kiều vịnh trong chiêm bao chính là số đoạn trường của Kiều
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà huyên chợt tỉnh, hỏi: “Cơn cớ gì?
Cớ sao trằn trọc canh khuya,
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?”
Thưa rằng: “Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ, tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên,
Nhắp đi, thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
Đoạn trường là số thế nào?
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thôi có ra gì mai sau!”
NỘI THẾ ĐOẠN TRƯỜNG
Khi một người hiểu về nội thế của thiền quán thân và quán tâm, thì sẽ thấy rằng mười bài thơ hoạ Đoạn trường chính là một hạnh nguyện của Kiều để chấp nhận bước vào nội thế Đoạn trường, mà trong đó Kiều sẽ chịu đựng đủ mọi dằn vặt của thân thế và tinh thần, mà không thể thoát ra, chỉ có thể chấp nhận và quan sát. Đó là trạng thái thiền đỉnh cao, mà phải giữ bằng một hạnh nguyện đỉnh cao.
Hạnh nguyện này được Tam Hợp Đạo Cô diễn giải là “Hại một người cứu muôn người”
Sư rằng: “Song chẳng hề chi,
Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội nghiệp Thuý Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.
Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Hại một người, cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng,
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.
Khi nên, trời cũng chiều người,
Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!”
Hạnh nguyện nội thế Đoạn trường này của Kiều giống như hạnh nguyện Cứu khổ cứu nạn của Mẹ Quán Âm hoặc mười đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.
Nội thế thiền là gì ?
– Với thiền quán thân, người hành thiền phải trụ thân, ở trong thân để quán sát cấu trúc và vận hành thân như tư thế và hơi thở. Có những cấu trúc và vận hành của thân người thiền biết mình có mà không quan sát được như tim, gan, phổi, hơi thở, nhịp tim, nhịp máu chảy. Có những cấu trúc và vận hành của thân mà người thiền hoàn toàn không nhận thức được. Năng lực quan sát của người thiền sẽ tăng lên cùng với năng lực giữ được nội thế thân. Ngoại thế thân là khi một người hướng thân quan sát ra ngoài thân hoặc tìm kiếm nguyên nhân bên ngoài cho các trạng thái của thân. Khi một người ở trạng thái nội thế thân người này lập tức đánh mất năng lực quan sát thân.
– Với thiền quán tâm, người thiền cũng phải quan sát được các trạng thái nội tâm của mình. Có những trạng thái nội tâm mà người thiền không hề nhận thức được mà mình có. Ngoại thế tâm là để tâm lãng du hoặc quan sát đối tượng bên ngoài. Ngoại thế tâm trầm trọng là coi các đối tượng bên ngoài là nguyên nhân của tâm thế bên trong, ví dụ vì trời mưa mà bực mình, vì chồng con mà đau khổ. Ngoại thế tâm làm một người đánh mất trạng thái nội tâm, và do đó không còn năng lực thiền quán tâm.
Nội thế đoạn trường có thể hiểu là việc Kiều không thể thoát ra, không thể chạy trốn, không thể tự tử, cũng không thể chống lại bất kỳ tên gian ác nào, trả ân báo oán một lượt rồi thì cuối cùng chúng vẫn xuất hiện còn mạnh hơn xưa, và Kiều cũng không thể đổ lỗi cho Hội Chủ đã đưa mình vào Đoạn trường này, mà chỉ có chịu đựng đủ mọi dày vò về thể xác và tinh thần.
Khi Kiều đã đủ thấu hiểu thân, tâm, pháp ở mức độ không cần lời nguyện Đoạn trường này mà vẫn giữ được thân, tâm, pháp, cũng không trả ơn báo oán nữa vì khi kẻ thù của chính ở ngay trong bản thân mình, thì lúc đó Đoạn trường kết thúc.
Có một sự kiện quan trọng trong Đoạn trường là việc Kiều trả ân, báo oán, với sự giúp đỡ của Từ Hải.
Sau sự kiện này dường như không còn có lầu xanh nào hay những kẻ buôn người hại Kiều nữa. Nhưng đó chính là lúc chính Kiều lại để mình mắc mưu của Hồ Tôn Hiến. Hồ Tôn Hiến lừa Kiều nhưng không hề ép buộc Kiều mà chính Kiều đã tự giao nộp mạng mình và Tử Hải cho Hồ Tôn Hiến. Vậy ân oán thực sự, nguyên nhân thực sự cho những đau khổ của Kiều cuối cùng vẫn chính là Kiều. Kiều đã không quan sát được nội tâm buồn khổ, sợ hãi, mong cầu núp bóng, dựa dẫm vào người khác để được yên bình của mình, cái mà Hồ Tôn Hiến quan sát được và lợi dụng được.
Cho nên sau này, Kiều nhận thực được mọi việc tại mình, không còn nhắc đến ân oán với Hồ Tôn Hiến sau khi được vớt lên khỏi sông Tiền Đường nữa.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa.
NỘI TÂM & TIẾNG ĐÀN
Kiều đã tự chịu trách nhiệm về nội tâm của mình, Kiều sẽ không tạo ra một cuộc trả ân báo oán nào nữa. Kiều đã chuyển được nội tâm thế cơ bản của mình, và đây chính là lúc tiếng đàn của Kiều thay đổi.
Trong tiếng đàn của Kiều luôn có hai âm.
Âm nổi của từng khúc đàn
Khúc đâu đầm ấm dương hoà!
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình!
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
hoặc
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?
Âm nền chính của tiếng lòng của Kiều. Tiếng lòng này Kim Trọng luôn là người nghe được.
Âm nền này lúc Kiều còn làm lễ xe tơ kết tóc với Kim Trọng rất buồn
So dần dây vũ, dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng Lưu thuỷ, hai rằng Hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: “Hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào!
So chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người.”
Rằng: “Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao!
Âm nền của tiếng đàn Kiều đã chuyển vui sau khi đi qua Đoạn trường
Tình xưa lai láng khôn hàn,
Thong dong, lại hỏi ngón đàn ngày xưa.
Nàng rằng: “Vì mấy đường tơ,
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!
Ăn năn thì sự đã rồi!
Nể lòng người cũ, vâng lời một phen.”
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hoà!
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình!
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao.
Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”
Nàng rằng: “Vì chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
Một phen tri kỷ cùng nhau,
Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa.”
Kiều là con người của cảm xúc, Kiều có thể đưa cảm xúc của mình vào mọi thứ và ngược lại đưa cảm xúc mọi thứ vận vào mình, cho nên cuộc đời tự nhiên sẽ bị đưa đẩy theo người khác, theo môi trường.
Kiều sẽ dễ gặp rất nguy hiểm, dễ bị lừa, dễ bị dẫn dụ, do xu hướng cảm xúc tự nhiên và tinh cách nương theo người khác này. Kiều phải tự nhận thức trạng này của mình, dù có thể không thay đổi được nó, để chịu trách nhiệm hơn với xúc cảm nội tâm của mình, vững vàng hơn trong trạng thái nội tâm của mình. Nghĩa là Đoạn trường là điều mà chắc chắn Kiều sẽ phải trải qua với bản chất tính cách này, chỉ là khi Kiều tự nguyện bước vào Đoạn Trường, Kiều sẽ có khả năng quan sát chính mình hơn và hiểu chính mình hơn.
Tam Hợp Đạo Cô đã nói rõ về tính cách này của Kiều, điều quan trọng là chính Kiều phải hiểu mình là ai và cảm xúc mình là gì, để sống đúng với cảm xúc của mình mà vẫn giữ được chính mình, là chính mình về cảm xúc, chứ không phải gặp cái gì thì hoá thân mình thành cái đó.
Sư rằng: “Phúc hoạ đạo trời,
Cội nguồn, cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cội phúc, tình là dây oan.
Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan,
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
Ma đưa lối, quỷ đưa đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Hết nạn ấy, đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.
Trong vòng giáo dựng, gươm trần,
Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi.
Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi,
Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh.
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết, một mình mình hay.
Làm cho sống đoạ, thác đày,
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!”
Chia sẻ:
Scroll to Top