![]()
TIẾNG ĐÀN TRƯỚC ĐOẠN TRƯỜNG : BẠC MỆNH NÃO NHÂN
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm.
Cung, thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.
HOẠ THƠ BƯỚC VÀO ĐOẠN TRƯỜNG
Rước mừng, đón hỏi dò la:
“Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây?“
Thưa rằng: “Thanh khí, xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu, gieo vàng.
“Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây?“
Thưa rằng: “Thanh khí, xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu, gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa.
Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nấc nở khen thầm:
“Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường!
Ví đem vào tập đoạn trường,
Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai!”
KIỀU ĐÁNH ĐÀN KHI SANG NHÀ KIM TRỌNG
Rằng: “Nghe nổi tiếng Cầm Đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.”
Thưa rằng: “Tiện kỹ sá chi!
Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng.”
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: “Nghề mọn riêng tay,
Làm chi cho bận lòng này lắm thân?”
So dần dây vũ, dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng Lưu thuỷ, hai rằng Hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: “Hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào!
So chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người.”
Rằng: “Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao!
KIỀU ĐÁNH ĐÀN CHO MÃ GIÁM SINH
Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,
Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy, sau tớ xôn xao,
Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy, sau tớ xôn xao,
Nhà băng đưa mối, rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng.
Ngại ngùng dín gió e sương,
Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc, bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc, cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng, khách mới tuỳ cơ dặt dìu.
Rằng: “Mua ngọc, đến Lam Kiều,
Sính nghi, xin dạy bao nhiêu cho tường.”
Mối rằng: “Đáng giá nghìn vàng,
Dớp nhà, nhờ lượng người thương dám nài!”
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lân ngã giá vâng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm giầm,
Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu quy,
Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong!
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng.
Ngại ngùng dín gió e sương,
Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc, bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc, cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng, khách mới tuỳ cơ dặt dìu.
Rằng: “Mua ngọc, đến Lam Kiều,
Sính nghi, xin dạy bao nhiêu cho tường.”
Mối rằng: “Đáng giá nghìn vàng,
Dớp nhà, nhờ lượng người thương dám nài!”
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lân ngã giá vâng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm giầm,
Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu quy,
Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong!
KIỀU ĐÁNH ĐÀN CHO TÚ BÀ NGHE Ở LẦU XANH
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu?
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!
Đòi phen nét vẽ, câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Thờ ơ gió trúc, mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.
Nỗi lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
Dặm ngàn, nước thẳm, non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này?
Sân hoè đôi chút thơ ngây,
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
Xa xôi ai có biết tình chăng ai?
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!
Đòi phen nét vẽ, câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Thờ ơ gió trúc, mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.
Nỗi lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
Dặm ngàn, nước thẳm, non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này?
Sân hoè đôi chút thơ ngây,
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
Xa xôi ai có biết tình chăng ai?
KIỀU ĐÁNH ĐÀN CHO THÚC SINH
Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
Khi gió gác, khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.
Khi hương sớm, khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước, đường tơ hoạ đàn.
Miệt mài trong cuộc truy hoan,
Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình.
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơi.
Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không!
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
Khi gió gác, khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.
Khi hương sớm, khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước, đường tơ hoạ đàn.
Miệt mài trong cuộc truy hoan,
Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình.
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơi.
Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không!
KIỀU ĐÁNH ĐÀN CHO HOẠN THƯ
Phải đêm êm ả chiều trời
Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày
Lĩnh lời nàng mới lựa dây
Nỉ non thánh thót dễ say lòng người
Tiểu thư xem cũng thương tài
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân
KIỀU ĐÁNH ĐÀN Ở TIỆC RƯỢU CỦA HOẠN THƯ & THÚC SINH
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi.
Rằng: “Hoa Nô đủ mọi tài,
Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe!”
Nàng đà tán hoán, tê mê,
Vâng lời, ra trước bình the, vặn đàn.
Bốn dây như khóc, như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
Cũng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu, chàng những gạt thầm giọt sương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
“Cuộc vui, gảy khúc đoạn tràng ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã, tội thì tại ngươi!”
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói, gượng cười cho qua.
ĐÁNH ĐÀN Ở TIỆC CỦA HỒ TÔN HIẾN
Trong quân mở tiệc hạ công,
Xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan.
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Giở say, lại ép vặn đàn nhặt tâu.
Một cung gió tủi, mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay.
Ve ngâm, vượn hót nào tày,
Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu.
Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu?
Nghe ra muôn oán, nghìn sầu lắm thay!”
Thưa rằng: “Bạc mệnh khúc này.
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ,
Cung cầm, lựa những ngày xưa.
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!”
Nghe càng đắm, đắm càng say,
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!
Dạy rằng: “Hương hoả ba sinh,
Dây loan xin nối cầm lành cho ai.”
Thưa rằng: “Chút phận lạc loài,
Trong mình, nghĩ đã có người thác oan.
Còn chi nữa cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân.
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần là may!”
KIỀU ĐÁNH ĐÀN KHI TÁI HỢP KIM TRỌNG
Tình xưa lai láng khôn hàn,
Thong dong, lại hỏi ngón đàn ngày xưa.
Nàng rằng: “Vì mấy đường tơ,
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!
Ăn năn thì sự đã rồi!
Nể lòng người cũ, vâng lời một phen.”
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hoà!
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình!
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao.
Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”
Nàng rằng: “Vì chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
Một phen tri kỷ cùng nhau,
Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa.”
