SINH TỬ HỮU MỆNH, PHÚ QUÝ TẠI THIÊN

Loading

Thành ngữ “Sống chết có số, phú quý do trời” là cách nói dân gian, trùng nghĩa với một câu trong Luận ngữ “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên”.
Không có bằng chứng nào để khẳng định rằng thành ngữ này dịch từ Luận ngữ hay Luận ngữ có sau thành ngữ dân gian, nên chúng ta không nên nói càn việc này, chỉ nên hiểu cả hai câu này, mà có chung nghĩa gốc.
生死有命, 富貴在天
Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên
Sống chết có số, phú quý do trời
– sinh 生
– tử 死
– hữu 有
– mệnh 命
– phú 富
– quý 貴
– tại 在
– thiên 天
Sinh Tử là hai sự kiện lớn của Thân và cũng là hai đoạn chuyển hoá quan trọng của Mệnh.
– Sinh gắn với mệnh, tạo nên sinh mệnh, với nghĩa là cái mệnh tính từ sự kiện sinh. Mệnh có thể tính từ trước sự kiện sinh, nghĩa là tính từ thai hoặc tuyệt (2 hai giai đoạn mở đầu và kết thúc một vòng đầu thai, theo sơ đồ Tử vi)
– Chết cũng gắn với mệnh, gọi là đoạn mệnh, với nghĩa chết là sự kiện đứt đoạn mệnh, nhưng chưa đến Tuyệt.
Theo câu “Sinh tử hữu mệnh” hoặc “Sinh tử có số”, thì sinh tử bản chất được quyết định bởi Mệnh số chứ không phải bởi Thân. Ví dụ chết tai nạn mất máu, chết vì ngộ độc, nhìn bề ngoài là một hậu quả của thân, nhưng thực ra lại do Mệnh số của người này phải chết vào lúc đó theo cách đó. Ví dụ vô sinh hay sinh con trai con gái, sinh non, sinh rốn quấn cổ … đều là do Mệnh số của đứa trẻ và mệnh số của bà mẹ, chứ không chỉ là do thân. Thân chỉ biểu hiện về vật lý sự chuyển hoá của Mệnh số tại sinh tử.
Câu này cho thấy rõ tư tưởng của người xưa và của Nho giáo về “Thân quy Mệnh”.
Phú quý là một trạng thái biểu hiện của Mệnh, như dân gian hay nói là số giàu, số nghèo, chứ không phải bởi vận hành tài tình, bởi tài năng của Thân mà đem lại nhiều tiền tài.
Câu này cho thấy rõ tư tưởng của người xưa và của Nho giáo về “Tài do Mệnh”.
Ý của hai câu trên trùng với bốn câu ở đoạn cuối của truyện Kiều
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.
Chia sẻ:
Scroll to Top