GIẤC MƠ MAN NƯƠNG

Loading

PHẬT TỔ MAN NƯƠNG
Phật tổ Man Nương sinh ra ở vùng Dâu, lưu vực của con sông Dâu cổ, bà là một người con gái vùng Dâu, một người con dâu.
Người con dâu nghĩa là người con gái đi lấy chồng rồi nương theo nhà chồng, làm dâu ở nhà chồng, sống ở nhà chồng, sinh con mang họ chồng và chết theo gia tiên nhà chồng. Trạng thái nương của một người đàn bà kiểu “em sống làm người của anh, em chết làm ma của anh” tưởng đã là tuyệt đối, không thấm vào đâu so với trạng thái nương của một người làm dâu, nương vào cả họ nhà chồng. Làm dâu không phải là yêu một người đàn ông, lấy một người chồng, mà là yêu cả một dòng máu, lấy cả một dòng họ, nói cách khác là “em sống làm người của cả họ nhà anh, em chết làm ma của cả họ nhà anh”.
Cực điểm của trạng thái nương của một nàng dâu là làm dâu trăm họ. Bà Âu Cơ sinh ra Bách Việt, nghĩa là trăm họ gốc của người Việt. Khi 100 dòng máu của Âu Cơ làm dâu đủ ở 100 họ thì Bách Việt tái hợp và Âu Cơ tái sinh, nghĩa là một chu kỳ máu của Bách Việt được hoàn thiện để khôi phục lại được máu gốc Âu Cơ.
Khi dòng máu Bách Việt còn năng lực tái hợp và Âu Cơ còn có thể tái sinh, thì Bách Việt và tổ Bách Việt là bất tử. Liễu Hạnh chính là nhân vật đại diện cho sự hợp nhất của 100 dòng máu Âu Cơ này, Liễu Hạnh chính là Âu Cơ ở trạng thái tái sinh. Khi Liễu Hạnh xuất hiện ở thời Lê, trở thành một Tứ Bất Tử nghĩa là máu của Bách Việt kết thúc chu kỳ cũ, mở ra chu kỳ mới tại thời điểm đó.
Người con gái Chămpa và Tây Nguyên đi theo mẫu hệ không phải làm dâu. Âu Cơ có một chồng mà sinh trăm con, bà Po Nagar có 100 chồng, cùng mang họ mẹ. Chămpa vẫn có cùng trạng thái Bất Tử của Bách Việt khi cuối mỗi chu kỳ máu, dòng máu của Po Nagar được tái sinh giống như lúc ban đầu.
Man Nương có thể hiểu là người phụ nữ (nương) sắc tộc Man (man là vùng biên cương, biên ải, biên thuỳ, ngoại biên, xa trung tâm về cấu trúc và ly tâm về vận hành). Man Nương cũng là người con gái có tính nương tựa (nương) vào bất kỳ cái gì khác bên ngoài chính mình về mặt thân thể, nhưng vẫn ở bên trong chính mình về mặt tinh thần, về mặt xúc cảm, về quan hệ dòng máu và quan hệ tương tác.
Phật Tổ Man Nương không chỉ là của người Việt, giống như Phật Tổ Thích Ca không chỉ là của Ấn Độ và các dân tộc phía nam cao nguyên Thanh Tạng. Tứ Pháp của Phật Tổ Man Nương khởi phát vào đầu Công nguyên là Phật Pháp mang tính âm, đối xứng và cân bằng với Bát Chánh Đạo, là Phật Pháp của Phật Tổ Thích Ca mang tính dương. Pháo âm và Pháp âm phải kết hợp mới tạo nên được con đường trung đạo của Đạo Giáo đích thực. Tiếc rằng, Dương thịnh Âm suy là bản chất thời kỳ Công nguyên mà chúng ta đang sống, cho nên Phật Tổ Man Nương không được biết đến như một vị Phật tương đương với Phật Tổ Thích Ca. Hậu quả là Phật Pháp, thừa dương thiếu âm, không còn giữ được trung đạo, bị suy vong, chỉ có Mạt Pháp là tràn lan.
Trạng thái Man Nương mà Phật Tổ Man Nương đại diện cũng bị đóng khung thành Tam tòng Tứ đức trong đạo Khổng, mà hoàn toàn mang tính dương.
Đạo Khổng đưa ra ba đối tượng nam làm trung tâm để một người con gái nương vào, xoay tròn theo, gọi là Tam tòng : tại gia tòng phụ (ở nhà phải theo cha), xuất giá tòng phu (lấy chồng phải theo chồng), phu tử tòng tử (chồng mất phải theo con). Công, Dung, Ngôn, Hạnh là bốn trạng thái cơ bản mà một người con gái phải nương vào để giữ được hành vi và tinh thần của mình.Tam tòng là nương vào đối tượng cụ thể bên ngoài, Tứ Đức là nương vào trạng thái nội tại bên trong.
Nương trong đạo Khổng gọi là Tòng với nghĩa là tòng quân và Đức với nghĩa là đạo đức. Đạo đức gia đình với người phụ nữ đi theo Tam tòng Tứ Đức không khác gì kỷ luật quân đội, với chỉ huy là người đàn ông lớn tuổi nhất. Tuy nhiên, bản chất của gia đình không phải là quân đội, mà là đơn vị sinh ra và nuôi dưỡng sự sống, Khi phụ nữ chỉ còn là cái bóng, nương theo 3 người đàn ông trong gia đình mà sống thì tính âm sẽ suy, gia đình sẽ suy, sự sống sẽ suy.
Tam tòng Tức đức của Đạo Nho là đạo nương của nam giới xây dựng dành cho nữ giới, cho nên rất cứng, rất định, rất đóng khung. So sánh tính định, tính đóng khung, tính cứng của Tam Tòng Tức Đức với Tứ Pháp Man Nương, thì sẽ thấy Tứ Pháp là trạng thái nương vào mây, mưa, sấm, chớp, rất đa dạng, rất linh hoạt, đi từ bản chất tính nữ trong mỗi đối tượng và trong mỗi môi trường, nên biến hoá rất vi diệu. Tứ Pháp Man Nương là pháp nương của người nữ dành cho người nữ, dành cho gia đình và dành cho sự sống.
Đạo Khổng đưa ra nguyên tắc Tam Tòng, với điều kiện là người đàn ông để người phụ nữ nương theo phải là chính nhân quân tử. Khi tính nam suy, thì không những Tam Tòng sai, mà đạo Khổng cũng suy.
Phụ nữ dựa vào một người đàn ông là nương, phụ nữ bỏ chồng ngoại tình về nhà với bố mẹ đẻ, làm mẹ đơn thân cũng vẫn là nương. Phụ nữ dựa vào xúc cảm của mình để lựa chọn, để hành động cũng là nương, mà phụ nữ dựa vào ý chí và lý trí vững vàng, để dẫn dắt cảm xúc trầm ổn cũng là nương.
Trong muôn vàn cái để nương vào, phải chọn cái gì bản chất hơn, vững vàng hơn, lâu dài hơn để nương. Đây là nguyên tắc của Tam tòng, Tứ đức. Trong muôn vàn cái để nương vào, có khi phải nương vào từng cơ hội, từng khoảnh khắc mà chỉ xuất hiện một lần rồi mất đi. Man Nương vì như thế nên linh hoạt, thực tế hơn và bản chất hơn so với Tam tòng Tứ đức.
GIẤC MƠ MAN NƯƠNG
Từ ngày 7.4 hội Khám liên quan đến đức Lạc Long Quân, trời đã nắng to. Hội Dâu của Phật Tổ Man Nương ngày mồng 8.4 trời vẫn không mưa. Sang mồng 9.4 hội Gióng trời nắng nóng cực điểm và không có gió. Mùng 10.4 hội Bưởi trời vẫn tiếp tục nắng nóng gay gắt, nhưng có chút gió. Vào chiều tối ngày 11.4 dù trời vẫn nóng nhưng gió đã nổi mạnh. Đến đêm ngày 11.4 sang 12.4 âm lịch, trời mới có mưa, mưa không kéo dài, nhưng lượng mưa đủ lớn để bù đắp lại chuỗi ngày nắng khủng khiếp.
Trong đêm mưa, tôi có một giấc mơ dài. Trong giấc mơ đó có một sự kiện là nhóm chúng tôi từng người lần lượt phải đi lên đối diện với 1 tên cầm súng ở cự ly ngắn. Tên này có thể dùng súng ngắm bắn trực diện vào chúng tôi, trong khi mỗi chúng tôi chỉ có thể dùng tay, chân, thân thể để tấn công hoặc chạy trốn khỏi hẳn. Cuộc đối đầu này rõ ràng không cân sức.
Đến lượt tôi phải lên đối diện với họng súng, tôi suy nghĩ là mình có thể cúi xuống tránh tầm súng bắn, rồi lao vào chân kẻ thù van xin hoặc cắn xé. Tôi tự thấy phương án này thật thảm hại : Ôm chân kẻ thù để cắn xé hay van xin thì đều đưa là đưa thân thể và tính mạng cho kẻ thù, kiểu gì tôi cũng ăn trọn viên đạn. Phương án thứ hai là chạy trốn, nhưng chân chạy làm sao nhanh bằng đạn bay.
Nhận ra chỉ có đường chết, tôi muốn tỉnh dạy để thoát khỏi giấc mơ, hy vọng có thể trì hoãn hoặc phù nhận cái chết này, ít nhất cho đến giấc ngủ tiếp theo. Tuy nhiên, tôi bị đẩy ngược vào giấc mơ. Ừ đời có thể chỉ là giấc mơ, nhưng điều đó không có nghĩa là có thể thoát khỏi mơ hay thoát khỏi đời. Không ai có thể sống trên đời mà không ngủ, không mơ. Dù một thời khắc trong đời có thể thoát khỏi một giấc mơ thì cả cuộc đời thì không bao giờ có thể thoát được khỏi trạng thái mơ.
Tôi quay lại tìm phương án sinh tồn. Tôi nhận rằng các phương án của tôi chỉ là có mục đích để bảo toàn mạng sống, nhưng tôi luôn nương theo kẻ thù mà xây dựng nên phương án sinh tồn của mình. Dù phương án là chiến đấu chống lại kẻ thù, hay phương án là chạy trốn khỏi kẻ thù hay phương án là thoát khỏi giấc mơ để tạm thời quên lãng kẻ thù, thì chính kẻ thù mới nằm ở trung tâm của phương án để tôi nương theo chứ không phải là chính tôi.
Bởi vì thân thể tôi đã ở quá gần kẻ thù, nên tôi phải tìm ra một phương án nào đó mà vô hiệu hoá được khoảng cách thân thể giữa tôi và kẻ thù và bằng cách đó, kẻ thù trở nên vô nghĩa. Nói cách khác, phương án sinh tồn của tôi không thể phụ thuộc vào kẻ thù. Nếu kẻ thù muốn bắt hay giết tôi thì tôi phải làm cho cái thân thể này biến mất. Nếu cần phải chết để tái sinh thì tôi sẽ tự chủ động chết, chứ nhất định không để kẻ thù giết tôi, không thể để cho kẻ thù chạm được vào thân thể tôi.
Tôi chỉ là một người dân chân yếu tay mềm, so với vua có quyền lực và kẻ thù có vũ khí. Tuy nhiên, tôi sống trong đất nước của tôi, tôi sống với dòng máu của tôi, thì tôi là bất tử, vì ai chả biết câu “vua nhất thời, dân vạn đại”. Thời thế nào có loại kẻ thù đó, thời thế nào có loại vua đó, bao gồm loại vua là kẻ thù của dân, loại vua ác với dân hơn cả kẻ thù, hoặc loại vua ngầm bắt tay với kẻ thù hại dân. Người dân không thể quyết định chuyện của vua, mà chỉ có thể quyết định chuyện của mình và dù vua là loại gì thì vẫn là nhất thời so với dân, là vạn đại, là bất tử.
Tôi phải bỏ qua mọi dạng hình kẻ thù hay vua mà chỉ là nhất thời, để quay về với sự bất tử của một người dân thường, quay về với cái gốc Việt thường của mình để tìm một đường sinh tồn cho mình. Hiểu đến đây, thân thể tôi tức thì sụp xuống, rồi tan rã không dấu vết ngay trước họng súng của kẻ thù, còn linh hồn tôi thăng lên về với mẹ xứ sở.
Tôi đã chớp lấy khoảnh khắc viên đạn chưa chạm đến mình, để tự hoá trước khi kẻ thù giết tôi.
NƯƠNG LÚA
Tôi biết chắc chắn tôi sẽ tái sinh, vì tôi bất tử. Tôi nhìn lại khoảng trống, nơi trước đây là thân xác tôi, thân xác mà trước đó đã tôi cố gắng dùng nó để chạy trốn, né tránh hay chống lại kẻ thù. Thân xác tôi đã tan rã, nhưng cái nơi trống trải đó xuất hiện một hạt thóc vàng. Hạt thóc này là Tấm, mà cũng là Cám, và cũng là Hoàng Tử (vỏ trấu). Tôi biết linh hồn tôi đã về với mẹ xứ sở, còn thân xác tôi đã tái sinh thành lúa.
Chuyển hoá người – lúa mà tôi nhìn thấy là quá khứ của tôi, mà cũng là tương lai của tôi, bởi vì đó là định mệnh của tôi. Tôi là người đã nương vào lúa để sống, tôi là lúa đã nương vào người để hoá thân, hoặc tôi là cả hai.
Lúa cũng là hiện thân của Phật Tổ Man Nương, Phật Tổ Man Nương là lúa mà lúa cũng là Phật Tổ Man Nương. Vì chúng ta là con của Phật Tổ Man Nương, nên chúng ta cũng có dòng máu gốc là lúa, thân thể gốc là lúa, chúng ta có thể thể nương tựa vào lúa và hoá thân thành lúa.
NƯƠNG SINH & NƯƠNG TỬ
Thời khắc này, tôi biết là tôi đã vượt qua được thử thách sinh tử của giấc mơ, mà cũng là một thử thách sinh tử của cả cuộc đời này.
Tôi nhớ lại trong hơn mười năm, tôi đã mơ bao nhiêu giấc mơ sinh tử. Hầu hết trong các giấc mơ này tôi đều bị lửa bủa vây và tôi trong xúc cảm hoảng loạn, ôm con chạy trốn. Tức nhiên, tôi đều không trốn được, dù có chạy nhanh như bay, dù có cố gắng vượt qua bao nhiêu chướng ngại. Cứ mỗi lần tỉnh dạy sau giấc mơ, tôi đều biết là mình lại thất bại trong bài học cuộc đời.
Những giấc mơ cứ lặp lại, những bài thi cuộc đời cứ liên tục thất bại. Đơn giản bởi vì quán tính của tôi là nương là xúc cảm ngắn hạn và nhất thời và tôi như người mất trí ôm lấy con lao vào bất kỳ con đường bào mở ra trước mắt tôi, tôi muốn con tôi bằng mọi giá phải được sống dù tôi có chết.
Nhưng tôi bây giờ đã khác trước.
Trong giấc mơ này, tôi không còn muốn sống bằng mọi giá, tôi không còn sợ chết. Tôi đón nhận cái chết như một chu kỳ của sự sống. Tôi sẵn sàng tự chết, tôi nương vào cái chết để tái sinh.
Trong giấc mơ này, thay vì nương vào con tôi để tìm ra ý nghĩa cuộc đời, tôi nương vào chính bản thân tôi, một cái tôi lớn hơn rất nhiều, đầy đủ hơn rất nhiều so với cái tôi của nhiều năm về trước. Tôi đã không ôm chặt lấy con, vì tôi đã dứt căn được khỏi con tôi. Thay vì nương vào con như mục đích cuộc đời, tôi nương vào chính tôi và chồng, tôi biết tôi và chồng có thể sinh lại ra con tôi, chỉ cần chúng tôi luôn có nhau. Cả gia đình chúng tôi sẽ chủ động việc sinh tử của mình, con tôi cũng như hai vợ chồng tôi không chỉ cần sống mà cần sống cho ra sống.
Trong giấc mơ này, tôi không điên đảo trong xúc cảm, mà tôi nương theo một xúc cảm nền tảng là tình yêu với sự sống, sự sống linh thiêng bất tử tồn tại xuyên qua mọi hình tướng và tình yêu với chính bản thân tôi, với người tôi yêu và yêu tôi, và với đứa con của chúng tôi.
Trong giấc mơ này, thay vì nương vào mọi lối thoát mở ra để chạy trốn, tôi nương vào một khoảnh khắc chính xác để chết, và để tái sinh.
Chia sẻ:
Scroll to Top