CA DAO, TỤC NGỮ VỀ TRÀ VINH

Loading

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Trà Vinh là một trong các tỉnh thuộc duyên hải đồng bằng sông Cửu Long
– Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng : Nằm ở bên hữu của sông Hậu
– Trà Vinh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, nghĩa là bên tả của sông Hậu, bên hữu của sông Tiền
– Bến Tre nằm trong lòng các nhánh sông Tiền ra biển
– Tiền Giang nằm ở bên tả của sông Tiền
Trà Vinh là một trong các tỉnh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, phía Tây là biển Đông và phía Đông là Vĩnh Long
Các biên của Trà Vinh
– Phía đông giáp Biển Đông với 65 km bờ biển
– Phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long
– Phía nam giáp tỉnh Sóc Trăng với ranh giới là sông Hậu
– Phía bắc giáp tỉnh Bến Tre với ranh giới là sông Cổ Chiên.
ĐỊA HÌNH
Trà Vinh nằm ở cuối cù lao, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu. Địa hình chủ yếu là đất bằng phẳng với độ cao dưới 1m so với mực nước biển. Vì nằm ở vùng đồng bằng ven biển, có nhiều giồng cát chạy dọc theo bờ biển, tạo thành các đường cong song song. Các giồng càng gần biển càng cao và rộng hơn. Có các vùng trũng xen kẹp giữa các giồng cao, và độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Đặc biệt, phần nam tỉnh có đất thấp, bị chia cắt bởi các giồng cát hình cánh cung thành nhiều vùng trũng nhỏ, với độ cao chỉ từ 0,5-0,8m. Do đó, hàng năm, vùng này thường bị ngập mặn trong khoảng thời gian từ 3-5 tháng.
TÊN GỌI
Những địa danh được hình thành theo kết cấu “Trà + X” có rất nhiều ở vùng ĐBSCL, như: “Trà Côn, Trà Cú, Trà Cuông, Trà Ếnh, Trà Kha, Trà Lồng, Trà Men, Trà Mẹt, Trà Ngoa, Trà Nóc, Trà Ôn, Trà Quýt, Trà Sơn, Trà Sốt, Trà Trọ, Trà Vinh, Trà Vơn…” Ở Nam Trung Bộ cũng có lớp địa danh này: “Trà My, Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Co, Trà Văn…”
Ở ĐBSCL, Trà Vinh và Quảng Nam, Quảng Ngãi là nơi địa danh Trà như Trà Vinh, Trà Vang, Trà Ôn, Trà Côn, Trà Cú, Trà/Chà Và (thuộc Trà Vinh), hay Trà Khúc, Trà Bông, Trà My (Quảng Nam, Quảng Ngãi)
Trước đây, vùng đất Trà Vinh còn được gọi là xứ Trà Vang. Tên Trà Vang được cho có nguồn gốc từ tiếng Khmer là Préah Trapeng hoặc Trah Păng, với Trapeng có nghĩa là vùng trũng, đầm lầy, hồ nước. Điều này phản ánh đặc điểm địa lý của Trà Vinh thời xa xưa – một vùng đất thấp, có nhiều ao hồ, đầm lầy do bồi đắp phù sa từ các nhánh sông.
TRÀ VINH : ĐỐI XỨNG CỦA BẾN TRE QUA CỔ CHIÊN
Nếu so sánh các bài ca dao về quan hệ âm dương, về người con trai và người con gái của Trà Vinh với Bến Tre có thể thấy rất rõ rằng
– Trà Vinh có tính đơn nhất, Bến Tre có tính phong phú
– Bến Tre có tính định, tính đóng, Bến Tre có tính linh hoạt, tính mở
– Trà Vinh là đất võ, Bến Tre là đất văn
Tính định của Trà Vinh thể hiện trong tính cách của con người và trong quan hệ nam nữ
Cá Trà Vinh xanh kì đỏ dạ
Gái xứ này không lang chạ đâu anh
hoặc
Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt
Lửa nhà máy hết cháy thành than
Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn
Kể từ khi em biết được chàng
Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên
hoặc
Sông Trà Ôn nhiều tôm cá
Làng Trà Côn đường sá khó đi
Bơi xuồng mưa gió ngại gì
Lâu lâu anh rảnh tìm về thăm em
Tính định của Trà Vinh thể hiện trong vị của đặc sản vùng miền
Ai về quê mẹ Trà Ôn
Nhớ qua Lục Sĩ thăm vườn chôm chôm
hoặc
Trà Ôn con cá cháy lạ kì
Kho rim, nấu mặn món gì cũng ngon
Tính định của Trà Vinh thể hiện trong các công trình kiến trúc tiêu biểu và những danh nhân tiêu biểu
– Ao bà Om : đây là di tích đặc biệt quan trọng vì nó liên quan đến tên của Trà Vinh, tính cách, năng lượng đặc trưng của Trà Vinh, đại diện cho mẹ xứ sở
– Chùa Ông thờ Quan Công : công trình đại diện của người Hoa
– Chùa Ông Mẹt : công trình đại diện của người Khmer
– Đền thần Hiếu Tử : công trình đại diện cho người Việt
Trà Vinh có bún nước lèo
Có chùa Ông Mẹt, ao đào Bà Om
Có đình thờ vía Quan Công
Ðền thần Hiếu Tử thờ Trần Trung Tiên.
– CHÙA ÔNG MẸT : Một ngôi chùa cổ nhất, đẹp nhất và nổi tiếng nhất ở Trà Vinh. Theo lời truyền kể thì chùa được tạo dựng đầu tiên vào khoảng năm 642 tại khu vực gần sân vận động tỉnh bây giờ. Đến khoảng năm 711, chùa mới được dời về vị trí hiện nay (đường Lê Lợi, phường 1, thành phố Trà Vinh). Chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer, và hiện là nơi đặt Trường trung cấp Phật học Nam tông Khmer.
– AO BÀ OM : Ao Bà Om Một thắng cảnh nổi tiếng ở tỉnh Trà Vinh. Theo truyền thuyết, ao được đào bởi bên nữ trong một cuộc thi, dưới sự lãnh đạo của một người tên là Om. Ao có hình chữ nhật, rộng 300m, dài 500m (vì gần với hình vuông nên còn được gọi là Ao Vuông).
– CHÙA ÔNG (ĐÌNH PHƯỚC MINH CÔNG) là ngôi chùa hay đình thờ Quan Công.
– ĐỀN THẦN HIẾU TỬ : Hiếu Tử là tên một xã thuộc huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, trước thuộc vùng Trà Tử. Tại đây có đình Vĩnh Yên, nơi thờ Bố chính Trần Tuyên, hay Trần Trung Tiên. Trần Tuyên (1801 – 1841) là người Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, vào năm đầu Thiệu Trị (1841), ông được cử làm Bố chính sứ Vĩnh Long. Theo sử liệu thì đầu tháng 3 nhuận (âm lịch) năm ấy, Lâm Sâm (phiên âm từ tiếng Khmer) đã đứng lên vận động người Khmer ở phủ Lạc Hóa (Trà Vinh khi ấy là một huyện của phủ này) nổi dậy chống lại sự cai trị của nhà Nguyễn. Đầu tiên, Lâm Sâm cầm quân tiến đánh phủ lỵ Lạc Hóa, binh lính chống đỡ không nổi, viên Tri phủ bỏ chạy, cấp báo về tỉnh Vĩnh Long. Từ tỉnh ấy, Bố chính Trần Tuyên liền trực tiếp cầm quân kéo đến đồn Nguyệt Lãng vừa tiến vừa thăm dò, ngót 20 ngày mới tới sóc Lò Ngò, liền bị hơn ngàn quân nổi dậy kéo ra ngăn lại. Bố Chính Trần Tuyên bí mật thu quân về sóc Ô Đùng, thì bị nổi dậy phục kích ở vùng Trà Tử (nay gọi là Hiếu Tử), giết chết ông cùng viên Tri huyện Trà Vinh là Huỳnh Hữu Quang.
TRÀ ÔN : ĐỐI XỨNG CỦA CHÂU ĐỐC THEO CON SÔNG HẬU
Châu Đốc là con sông chảy song song với con sông Hậu ở nơi con chảy vào đất Việt còn Trà Ôn là con sông chảy song song với sông Hậu trước khi hợp với nó để ra biển. Cặp danh nhân gắn với hai vùng đất này, là Thoại Ngọc Hầu và Dung Ngọc Hầu.
Trà Ôn là một huyện của tỉnh Vĩnh Long, là vùng chuyên canh lúa và cây ăn trái của tỉnh. Huyện có cù lao Mây trên sông Hậu, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch vườn. Ngoài ra Trà Ôn còn có chợ nổi ngay ngã ba sông Hậu và sông Mang Thít, quy tụ nhiều ghe thuyền đông vui tấp nập. Đến Trà Ôn, du khách còn có thể viếng lăng Thống chế Điều Bát, chùa Gò Xoài, đình Thiện Mỹ, đình Hậu Thạnh…
Nguyễn Văn Tồn (1763–1820) Một danh tướng nhà Nguyễn, có công lớn trong việc giúp Thoại Ngọc Hầu chỉ huy quân dân đào kênh Vĩnh Tế (Châu Đốc, An Giang) và giúp dân nhiều vùng trong hai tỉnh Vĩnh Long-Trà Vinh khai khẩn đất hoang, thành lập nhiều xóm làng. Ông nguyên gốc người Khmer, có tên là Thạch Duồng hay Thạch Duông, nhờ lập nhiều công lớn mà được chúa Nguyễn Ánh ban cho tứ danh là Nguyễn Văn Tồn, về sau lại được phong hàm Thống chế, lãnh chức Điều bát nhung vụ (nên được gọi là Thống chế Điều bát). Mùng 4 tháng Giêng năm Canh Thìn (tức 27 tháng 2 năm 1820), ông bị bệnh mất tại Trà Ôn (Vĩnh Long). Tại đây vẫn còn đền thờ ông.
Lịch thay địa cuộc Trà Ôn
Miếu ông Điều bát lưu tồn đến nay
hoặc
Ai về thăm lại Trà Ôn
Tháng giêng mùng bốn giỗ ông Ngọc Hầu
hoặc
Năm nay lúa chín đầy đồng
Trà Ôn mở hội Lăng Ông tưng bừng
Nếu như Châu Đốc có Thoại Ngọc Hầu & vợ, thì Trà Ôn có Dung Ngọc Hầu và phu nhân
Đất Giồng Thanh Bạch xưa kia
Có đền ông lớn với bia lưu truyền
Thanh Bạch Một cái giồng nay thuộc địa phận Giồng Thanh Bạch và ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, cách chợ Trà Ôn khoảng 1,5km trên quốc lộ 54. Trong tư liệu về lịch sử lăng Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn có ghi: Vợ ông là người phụ nữ đức hạnh, khi mất được triều đình Huế ban tặng mỹ tự “Hiền thục phu nhân.” Tương truyền phần đất nơi an táng Bà được đặt tên là Thanh Bạch.
Chia sẻ:
Scroll to Top