![]()
CAO NGUYÊN XẾP TẦNG
Danh sách cao nguyên ở Tây Nguyên
– Cao nguyên Kon Tum : Bề mặt bao trùm phần lớn diện tích tỉnh Quảng Ngãi và lan sang một phần ở Campuchia và Lào. Phía nam là cao nguyên Plâyku được làm ranh giới bởi con sông Pô Kô, phía đông bắc là thành phố Đà Nẵng được dãy Trường Sơn Nam làm ranh giới. Phía tây lan sang các Campuchia và Lào, gần giáp với cao nguyên Bolaven của Lào. Có độ cao trung bình khoảng 500 m, điểm cao nhất ở núi Ngọc Linh có độ cao 2.605 m.
– Cao nguyên Măng Đen (Kon Plông) : Kon Plong nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh với độ cao trung bình 1.100 – 1.300 m. Cao nguyên cao thứ nhì so với Lâm Viên.
– Cao nguyên Kon Hà Nừng : Có bề mặt phân cắt mạnh, cao 700 – 1.000 m, thấp dần về phía nam còn 500 – 600 m. Có khu bào tồn thiên nhiên Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng. Đỉnh núi cao nhất là Kon Ka Kinh (1748m). Vùng trũng là thung lũng sông Ba. Người dân tộc Bahnar và Jrai.
– Cao nguyên Plâyku : có dạng vòm, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 750 – 800 m, nghiêng dần về phía nam. Điểm cao nhất ở núi Kon Ka King, đèo An Khê nằm ở phía đông là cửa ngõ đi lên cao nguyên từ xã Bình Khê, ở trung tâm của cao nguyên có hồ lớn gọi là Biển Hồ (hồ T’Nưng). Phía bắc là cao nguyên Kon Tum với giới hạn là sông Đắk Pơ ne, phía đông giáp xã Bình Khê, phía nam cách cao nguyên Đắk Lắk khoảng 50 km, địa hình phía tây thấp dần về phía biên giới với Campuchia.
– Cao nguyên M’Drăk : Có bề mặt lượn sóng cao trung bình 400-500 m, thỉnh thoảng còn sót những đỉnh cao 1.000 m. Cao nguyên M’Drắk, hay cao nguyên Khánh Dương. Cao nguyên này nằm ở phía Đông tỉnh tiếp giáp với tỉnh Khánh Hoà. Có rừng phòn hộ núi Vọng Phu (Chư Mư)
– Cao nguyên Đắk Lắk (Buôn Mê Thuột) có bề mặt địa hình khá bằng phẳng, độ cao ở phía bắc 800 m, giảm mạnh về phía nam con 400 m và về phía tây còn 300 m (thấp nhất trong các cao nguyên). Cao nguyên này là một lòng chảo, Bắc Nam dài 90km, Đông Tây dài 70km. Có thành phố Buôn Ma Thuột, nghĩa là Buôn của Ma Thuột, vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng. Có Bản Đôn, nổi tiếng với nghề săn và thuần dưỡng voi.
– Cao nguyên Mơ Nông : Bao trùm diện tích tỉnh Đắk Nông, Việt Nam và một phần lấn sang Campuchia. Cao nguyên có độ cao trung bình là 800 m, điểm cao nhất là đỉnh núi Nam Decbri ở độ cao 1.580 m. Giới hạn phía Nam là đoạn sông Đồng Nai và sông Đăk N’Đrung.
– Cao nguyên Lâm Viên (Đà Lạt) : Là bề mặt san bằng cổ, ở phía bắc cao 1.600 m, giảm dần ở phía nam còn 1.400 m, có các đỉnh núi sót cao trên 2.000 m. Độ cao trung bình 1500m (cao nhất trong các cao nguyên). Cao nguyên Lâm Viên (còn gọi cao nguyên Lang Biang, cao nguyên Lang Bian, cao nguyên Lạng Bương, cao nguyên Đà Lạt, bình sơn Đà Lạt). Phía nam cao nguyên có thành phố Đà Lạt cũ. Phía đông và đông nam dốc xuống thung lũng sông Đa Nhim, tây nam hạ đột ngột xuống cao nguyên Di Linh. Tại đây có các đỉnh núi cao như Bi Doup (2.287 m), Lang Biang (hay Chư Cang Ca, 2.167 m), Hòn Giao (2.010 m). Nước sông trên cao nguyên chảy chậm; những chỗ bị chặn lại toả rộng thành hồ như hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Đan Kia (Suối Vàng), thác Cam Ly. Rìa cao nguyên có các thác lớn như Pren (Prenn), Gù Gà, Ankrôet, thác Voi. Diện tích khoảng 1.080 km², cao nguyên này chỉ chiếm khoảng 30% diện tích của toàn tỉnh Lâm Đồng, nằm trên các huyện Lạc Dương, Đam Rông và thành phố Đà Lạt.
– Cao nguyên Di Linh : có dạng một thung lũng kéo dài theo phương đông – tây, cao từ 800 – 1.000 m. Độ cao trung bình 1000. Cao nguyên này có độ cao trung bình là 1000m so với mặt biển. Cao nguyên này chiếm trên 50% diện tích tỉnh Lâm Đồng.
Cao nguyên Di Linh có thể chia thành hai phần: phần phía Bắc tương đối bằng phẳng ở các huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà; phần phía Nam bị chia cắt nhiều bởi núi, đồi, sườn dốc, thung lũng hẹp ở các huyện Di Linh, Bảo Lộc.
Nguồn
– Danh sách cao nguyên Việt Nam https://vi.wikipedia.org/…/Danh_s%C3%A1ch_cao_nguy%C3…
– Cảnh quan Tây Nguyên https://bktt.vn/C%E1%BA%A3nh_quan_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn
TRƯỜNG SƠN NAM & CÁC NÚI THIÊNG CỦA TÂY NGUYÊN
Trường Sơn Nam là hệ thống dãy núi và khối núi, gờ núi cao bao bọc phía Đông của Tây Nguyên, chạy dài từ khối núi Ngọc Linh (Quảng Ngãi) đến mũi Dinh (sông Dinh Phan Rang).
Các núi chính thuộc Trường Sơn Nam là
– Khối núi Ngọc Linh (cao nguyên Kontum)
– – – Ngọc Linh (2598 m) cao nhất Nam Trường Sơn
– – – Ngọc Krinh (2025 m), và hơn mười ngọn khác cao trên 1200 m cùng thuộc khối núi Ngọc Linh,
– Dãy núi An Khê (cao nguyên Kon Hà Nừng)
– – – Kon Ka Kinh (1761 m),
– – – Chư Yang Sin (2405 m) : Chư Yang Sin là nơi khởi nguồn của sông Krông Ana một nhánh chính của hệ thống sông Sêrêpốk hùng vĩ. Được coi là núi Thần.
– Cao nguyên Pleiku (Gia Lai)
– – – Chư Đăng Ya : núi lửa
– – – Chư H’Drong (Hàm Rồng) : núi lửa
– – – Chư Tao Yang là núi cất Gươm thần của Vua lửa
– – – Chư Mố
– Cao nguyên Đaklak
– – – Chư Yang Lak (hay Chư Yang Lắk) là đỉnh núi cao gần 1.700m thuộc khu rừng hồ Lắk, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, cách Buôn Ma Thuột khoảng 50-55km. Tên núi nghĩa là Núi Thần Nước.
– – – Núi Đá Voi Mẹ
– Tây Khánh Hòa (cao nguyên Khánh Dương)
– – – Chư Mư/Vọng Phu (2051 m)
– Cao nguyên Dak Nông
– – – Nam Decbri ở độ cao 1.580 m.
– – – Núi Tà Đùng 1.982m
– Cao nguyên Lâm Viên
– – – Bi Doup (2.287 m),
– – – Lang Biang (hay Chư Cang Ca), cụm núi LangBiang có 2 ngọn núi cao nhất. Ngọn núi cao 2.167m, dân địa phương đặt và gọi là núi Bà, ngọn núi thấp hơn, cao 2.124m, người ta gọi là núi Ông.
– – – Hòn Giao (2.010 m).
– Cao nguyên Di Linh
– – – Chư Braian (hay Chư Brayan), Bran Yang (Brăh Yàng) Brah-Yang hay Bray Yang 1.879m
– – – Yang Doan (khoảng 1.800m) ngay cạnh Chư Braian
– – – Bon Nong (1692 m)
– – – M’non Lanlen (1623 m),
– – – Núi Pantar hay M’neun Pantar, M’non Pantar (1644 m)
Sự tích núi Langbiang
Truyền thuyết về LangBiang và những dị bản, hầu hết đều có một điểm chung, mặc định gọi Lang là (chàng) trai, Biang là (nàng) cô gái. Nội dung bản phổ biến nhất đang được lưu truyền như sau: Chàng K’Lang, người dân tộc Lạch (một nhánh của dân tộc K’Ho) và người con gái tên H’Biang, người Cill (cũng là một nhánh khác của dân tộc K’Ho). Nhà K’Lang và H’Biang đều ở chân núi, họ tình cờ gặp nhau trong một lần lên rừng hái quả. H’Biang gặp nạn và chàng K’Lang đã dũng cảm cứu nàng thoát khỏi đàn sói dữ.
Một lần gặp gỡ, cả hai đã “say nắng” cảm mến và họ đem lòng yêu nhau từ đó. Dù vậy, do lời nguyền giữa 2 tộc người mà H’Biang không thể lấy K’Lang làm chồng. Vượt qua tục lệ khắt khe và lễ giáo, hai người vẫn quyết tâm đến với nhau. Họ trở thành chồng vợ rồi bỏ đến một nơi trên đỉnh núi để sinh sống. Khi H’Biang lâm bệnh nặng, K’Lang tìm mọi cách chữa trị nhưng không khỏi. Chàng đành quay về báo cho buôn làng để tìm cách cứu nàng.
Kết thúc câu chuyện, H’Biang bị chết do nàng lấy thân mình đỡ mũi tên tẩm thuốc độc của buôn làng nhắm bắn K’Lang. Đau buồn khôn xiết, K’Lang khóc ngày đêm cho tới chết. Nước mắt chàng tuôn thành suối lớn, ngày nay gọi là sông Đa Nhim (dòng sông nước mắt). Sau cái chết của hai người, cha H’Biang rất hối hận, đứng ra thống nhất các bộ tộc thành một dân tộc có tên là K’Ho. Từ đó, các đôi nam nữ trong buôn dễ dàng đến với nhau. Ngọn núi cao ở buôn La Ngư Thượng, nơi chàng K’Lang và nàng H’Biang chết được đặt lên là LangBiang (tên ghép của đôi trai gái), để tưởng nhớ hai người và tình yêu thủy chung của họ. Những dị bản tương tự cũng gọi Lang là chàng trai, Biang là cô gái.
Thế nhưng, già làng Krajan Plin, người có dòng tộc đã sinh sống nhiều đời dưới chân núi LangBiang, ông cũng đã dành hàng chục năm qua cho việc nghiên cứu văn hóa, sưu tầm, biên soạn luật tục của người K’Ho ở Lâm Đồng, khẳng định, nội dung truyền thuyết về LangBiang và những dị bản tương tự đang phổ biến không đúng.
Với dữ liệu thu thập được cùng sự am hiểu sâu rộng về luật tục, văn hóa dân gian và tập quán, tín ngưỡng của dân tộc mình, già làng Krajan Plin quả quyết, riêng về tên gọi, truyền thuyết về LangBiang và các dị bản hiện nay đã gọi ngược. Thực tế, Lang là tên của cô gái và Biang là chàng trai. Người con của buôn làng Tây Nguyên này cũng cung cấp một truyền thuyết về LangBiang nhưng nội dung lại khác hẳn với những truyền thuyết đã tồn tại và phổ biến rộng rãi lâu nay.
Chuyện kể rằng, K’Lang là con gái duy nhất của bà K’Yah và ông Brah Yang. Bà được thần linh giao phó cai quản vùng đất thuộc cực Nam của cao nguyên. Còn bà K’Bồng lấy ông K’Krong, sinh ra chàng trai tên là K’Biang, cai quản vùng đất thuộc cực Bắc và là gia đình giàu có nhất vùng. Cặp nam nữ tình cờ gặp gỡ trong lễ hội Tác năng rồi yêu thương, đeo vòng đồng cho nhau thay cho lời ước hẹn trăm năm. Khi tan hội, họ bịn rịn chia tay, hẹn sớm gặp lại.
Chàng K’Biang phi ngựa trắng ngược lên vùng núi Bà, nàng K’Lang leo lên lưng ngựa xuôi về núi Brah Yang (huyện Di Linh cũ). K’Lang nhớ người yêu đến mức mỗi lần ngước lên nhìn lá, lá cây héo theo; nhìn cây thông, cây thông cũng buồn theo. Nàng bỏ ăn nhiều ngày rồi ngã bệnh. Mẹ nàng mời những thầy cúng giỏi nhất tới chữa trị nhưng bệnh ngày càng nặng thêm.
Một hôm, K’Biang khi thấy chiếc vòng đồng trên tay có vết nứt khác lạ như điềm báo xấu, chàng vội phi ngựa đến thăm nàng. Thấy K’Lang nằm bất động bên bếp lửa, K’Biang liền ôm nàng vào lòng. Nàng từ từ mở mắt, người run lên vì vui sướng, thúc giục cha mẹ xin hỏi cưới chàng, nhưng nhà trai đã từ chối vì không môn đăng hộ đối. Không chỉ đòi bồi thường thiệt hại danh dự (theo tục lệ), gia đình nàng K’Lang còn sai quân đi lùa đàn thú hoang, chim muông từ thượng nguồn về. Dòng họ của chàng K’Biang sai quân ra chặn. Cuộc chiến khốc liệt giữa hai dòng tộc khiến đôi trẻ đau buồn rồi tìm đến cái chết. Muôn loài đã đắp ngôi mộ “Pơthi” thành ngọn núi LangBiang. Nước mắt khóc thương hai người biến thành dòng Đa Nhim (dòng sông nước mắt).
Theo già làng Krajan Plin, đề cập đến sử thi thì phải nhớ rằng, cách xưng hô của tộc người bản địa Tây Nguyên, nếu là vợ chồng thì bao giờ tên người đàn bà đều luôn đứng trước tên người đàn ông. LangBiang trong truyền thuyết đang được truyền tụng đã bị tùy tiện, biến nhân vật nữ thành nam và ngược lại. Trong khi đó, sử thi K’Ho, nhân vật K’Lang vốn là nữ và K’Biang là nam. Ngoài ra, nhiều trường hợp khác trong sử thi, người ta chỉ cần nhớ tên mẹ đẻ ra nhân vật, vì cha là thần linh như trong “Sử thi cây đa thần”, Tồng – Tàng kon K’Rơng nghĩa là anh em Tồng – Tàng con bà Rơng; Du Bot kon K’Glang (anh em Du và Bot con bà K’Glang)…
Cũng như các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đồng bào K’Ho ở Lâm Đồng theo chế độ mẫu hệ. Hình thái tổ chức xã hội mà trong đó người mẹ hoặc người phụ nữ lớn tuổi nhất đứng đầu một gia đình hoặc gia tộc. Các mối liên hệ và hậu duệ được xác định qua dòng nữ, cũng như việc quản trị hay cai trị do phụ nữ nắm giữ. Điều này cho thấy, vai trò của nữ giới trong các cộng đồng, dân tộc thiểu số K’Ho vô cùng quan trọng. Nó tương ứng với vai trò của nam giới trong chế độ phụ hệ của người Kinh. Do theo chế độ mẫu hệ nên vai trò của phụ nữ K’Ho và các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên luôn được đề cao. Bởi vậy, khi ghép tên của cô gái và chàng trai (LangBiang) để đặt tên cho truyền thuyết của dân tộc mình, ắt hẳn tên người phụ nữ phải được gọi trước tên của người đàn ông.
Vì thế, thực tế ngày nay, cụm núi LangBiang có 2 ngọn núi cao nhất. Ngọn núi cao 2.167m, dân địa phương đặt và gọi là núi Bà. Ngọn núi thấp hơn, cao 2.124m, người ta gọi là núi Ông. Đó cũng chính là một cách để tôn trọng, đề cao vai trò của người phụ nữ dưới chế độ mẫu hệ của người K’Ho. Do đó, theo chúng tôi, cách lý giải của già làng Krajan Plin, vốn là người K’Ho – Lạch, nhiều đời cư ngụ dưới chân núi LangBiang là có căn cứ vững chắc. K’Lang thực chất là tên của cô gái (phụ nữ) và H’Biang là tên của chàng trai (đàn ông), thay vì cách gọi ngược nhưng đang rất phổ biến ngày nay.
Sự tích núi Bidoup (của người Kờ ho) : Núi Bidoup có dáng nằm, cúi đầu hoặc chúi xuống
Chuyện kể rằng, ngày xửa xưa, LangBiang và Bidoup là hai anh em ruột. LangBiang yêu Hòn Giao – sơn nữ xinh đẹp nhất vùng (nằm giữa Khánh Hoà và Lâm Đồng). Nhưng Hòn Giao lại yêu Bidoup vì cao lớn khác thường. Thấy vậy, LangBiang cốc nhẹ vào đầu Bidoup và nói “đừng cao nữa, đừng yêu Hòn Giao”. Thương người anh, Bidoup suốt đời “gục mặt xuống” cho bớt cao, sau hóa thành ngọn núi và có dáng như bây giờ. LangBiang lấy được Hòn Giao làm vợ, cả hai khi chết biến thành hai ngọn núi nằm cạnh Bidoup.
Theo như dân cư bản địa K’ho hay gọi thì Bidoup chính là “Người đang nằm”. Theo như truyền thuyết Bidoup và Núi Bà tên của hai người có quan hệ họ hàng với nhau. Trong đó, Bidoup là người cháu, còn Núi Bà là người cô. Hai người luôn sống gắn bò, đùm bọc lẫn nhau. Đặc biệt là người cô luôn yêu thương, chăm sóc cho người cháu là Bidoup. Và nhờ vào sự yêu thương chăm sóc đó mà càng ngày Bidoup cứ lớn mãi không ngừng. Thấy vậy cô Núi Bà liền nói: “Thôi cháu nằm xuống đi, chứ không thế này cháu cao lớn chạm tới trời mất”. Nghe lời cô, Bidoup nằm xuống và trở thành đỉnh Bidoup như ngày nay.
Dãy LangBiang (có 2 đỉnh) một cao, một thấp đó là mộ của nàng Lang và chàng Biang chết bên nhau. Hai người yêu nhau nhưng lại không vượt qua được lời nguyền cấm kỵ của hai dòng tộc. Và đỉnh Bidoup xa xa là một con voi lớn đầu đàn vì yêu mến, cảm động tình yêu hai người đã phủ phục chết theo.
Sự tích Đá voi Mẹ, voi Cha
Hòn đá voi Mẹ với chiều dài khoảng 200m, cao trên 30m, nằm giữa Hồ Yang Reh và chân núi Chư Yang Sin hùng vĩ tại xã Yang Reh (huyện Krông Bông). Còn đá voi Cha nằm cách đá voi Mẹ chừng 5km trên một cánh đồng lúa mênh mông tại xã Yang Tao (huyện Lắk), có chiều dài khoảng 70m.
Vùng đất này xa xưa là nơi giao thoa các bản làng của người M’nông và Êđê. Đá voi Mẹ gắn bó với đời sống của đồng bào Êđê trong khu vực từ xa xưa, đây là địa điểm diễn ra các hoạt động tâm linh của đồng bào như lễ cúng bến nước, lễ cúng cầu mưa, lễ cúng cầu mùa.
Tương truyền, hòn đá Cha ngày xưa chỉ mềm nhũn và trồi lên khỏi mặt đất với hình thù khác lạ. Hiếu kỳ, người dân trong vùng cứ vậy kéo nhau đến xem, trong đó có hai cô con gái xinh đẹp của một gia đình giàu có trong làng. Trong lúc hai chị em trèo lên trên hòn đá chơi đùa thì bất ngờ hòn đá dần dần co cứng lại không còn mềm nhũn như trước. Lúc này, cô em nhanh chóng nhảy xuống khỏi hòn đá, còn cô chị bị lún vào hố sâu và dù mọi người đến nỗ lực kéo ra khỏi hòn đá nhưng bất thành. Cứ vậy, người chị dần dần bị hòn đá nuốt chửng vào bên trong. Người dân làng vô cùng lo lắng nhưng sau đó nhiều người được báo mộng rằng cô gái đẹp đang được sống hạnh phúc với thần đá mãi mãi.
“Hòn đá từ đó trở nên rất linh thiêng, các cặp trai gái thường chọn hòn đá làm nơi hẹn hò và nguyện cầu Yàng ban cho tình yêu đôi lứa thật đẹp, bền chặt. Không chỉ vậy, khi mùa màng thất bát, đời sống gặp khó khăn gì, bà con đều cầu xin thần đá phù hộ cho ruộng đồng tươi tốt, dân làng ấm no.
Sự tích núi Chư Mố
“Chư” có nghĩa là núi; “Mố” là cô gái. Chư Mố là “Núi Cô gái”. Trước kia, tên đầy đủ của ngọn núi này là “Chư Mố H’Bia Chơ Năng”, trong đó từ H’Bia nghĩa là công chúa. Rồi ông tiếp lời, từ xa xưa, tại vùng thung lũng Ayun Pa đầy nắng gió có một bộ lạc sống rất đoàn kết, yêu thương nhau. Phụ nữ có đôi tay khéo léo dệt ra những tấm thổ cẩm bền đẹp, đủ sắc màu. Đàn ông giỏi làm nương rẫy, tạc tượng, săn bắt thú rừng. Những ngày tháng nhàn rỗi, họ tổ chức nhiều lễ hội cộng đồng, các gia đình quây quần bên nhau ca hát nhảy múa thâu đêm suốt sáng. Cuộc sống thanh bình cứ thế diễn ra và họ không mảy may nghĩ đến việc tự vệ, phòng bị trên vùng đất của tổ tiên mình.
Trong khi đó, trên vùng đất cao nguyên hùng vĩ, ở phía mặt trời đi ngủ có một bộ lạc rất hùng mạnh. Bộ lạc này có tài cưỡi voi, phi ngựa, bắn nỏ, sử dụng thành thạo gươm đao, giáo mác. Họ đã xuôi theo dòng sông Ayun và dễ dàng cướp đi những của cải quý giá của bộ tộc vùng thung lũng Ayun Pa. Ngoài ra, họ còn bắt đi những người đàn ông khỏe mạnh trong làng về làm nô lệ, trong đó có chàng Dam Doa là chồng mới cưới của nàng H’Bia Chơ Năng.
Nhớ thương chồng da diết, nước mắt nàng H’Bia Chơ Năng chảy thành suối. Nàng ngày đêm ngóng trông về hướng mặt trời lặn nhưng ngày này qua tháng khác vẫn không thấy bóng dáng chồng đâu. Nghĩ rằng phải có chỗ đứng cao hơn núi Chư Sê mới nhìn thấy được chồng, nàng kêu gọi mọi người ngày đêm bê đá, gùi đất đắp lên. Từ đó, bên dòng sông có một mô đất được mọc lên, tạo thành núi Chư Mố.
Đứng trên đỉnh Chư Mố nhưng nàng vẫn không thấy chồng đâu, hình ảnh phảng phất chỉ là ngọn núi Chư Hdrông xa vời vợi. Đau đớn tột cùng, nàng nuôi ý chí phục thù. Nàng nuôi dạy, khuyên răn con cháu có ý thức hơn trong việc bảo vệ buôn làng, bến nước. Nàng đưa ra sáng kiến thành lập đội hùng binh của bộ lạc, đồng thời cử ra một người quản binh là “Sak”, một người cai quản bộ lạc là “Dyung”. Kể từ đây, dân làng sống có quy củ hơn, biết tích trữ lương thực để nuôi quân, sắm sửa khí giới, voi chiến, ngựa chiến, thuyền bè và thường xuyên tổ chức tập trận, rèn quân.
Nhiều năm sau lần xuôi quân cướp bóc đầu tiên, bộ lạc ở phía mặt trời đi ngủ một lần nữa xuôi theo dòng sông Ayun đến cướp bóc bộ lạc của nàng H’Bia Chơ Năng. Do đã được thần linh báo mộng từ trước và tập luyện thành thục, đội hùng binh bộ lạc của nàng đã đánh tan tác bộ lạc xâm lược. Thừa thắng xông lên, đội binh này còn đánh đuổi kẻ thù đến tận núi Chư Hdrông. Để minh chứng cho thắng lợi của mình, họ lấy một nắm đất đỏ bazan trên đỉnh Chư Hdrông về đặt trên đỉnh Chư Mố. Từ đó, bộ lạc vùng thung lũng Ayun Pa không ngừng phát triển, lớn mạnh cho đến ngày nay.
Núi Chư Mố giờ đây là ngọn núi đứng đơn độc bên dòng sông Ba, tách biệt với các ngọn núi khác trong vùng. Núi cao khoảng 200 m, được bao bọc xung quanh bởi nhiều ao hồ, dòng suối lớn nhỏ mà theo truyền thuyết đó là nước mắt của nàng H’Bia Chơ Năng khóc thương chồng khi đứng trên đỉnh núi tạo thành. Ngày nay, cộng đồng người Jrai nơi đây vẫn coi Dyung, Sak, Dam Doa, H’Bia Chơ Năng là tổ tiên. Do đó, hàng năm vào các dịp cúng tổ tiên, trong lời các bài khấn đều mời gọi họ về cùng ăn, cùng uống và cầu mong các vị ấy ban phước lành cho buôn làng; cầu mong họ che chở cho mọi người được khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mãi mãi sinh sôi phát triển.
SÔNG TÂY NGUYÊN
– Hệ thống sông Sê San: Đầu nguồn sông Sê San bắt nguồn từ phía Nam dãy núi Ngọc Linh thuộc tỉnh Kon Tum, Tây Nguyên. Dòng sông hình thành từ nơi hợp lưu của hai con sông chính là Krông Pô Kô (phía hữu ngạn) và Đăk Bla (phía tả ngạn), sau đó chảy qua Gia Lai và đổ sang Campuchia.
– – – Sông Krong Pô Kô
– – – Sông Đak Bla
– Hệ thống sông Srêpốk: Hình thành từ sự hợp lưu của sông Krông Nô (sông Đực) và Krông Ana (sông Cái), chảy qua Đắk Lắk rồi sang Campuchia, nổi tiếng là dòng sông chảy ngược.
– – – Sông Krong Nô
– – – Sông Krong Ana : Phụ lưu của sông Krong Ana Krông Búk, Krông Pắc, Krông Bông, Krông Kmar
– Hệ thống sông Ba (sông Đà Rằng): Bắt nguồn từ Gia Lai, chảy qua Kon Tum, Phú Yên và đổ ra biển.
– – – Sông Krông Năng là phụ lưu của sông Ba.
– – – Sông Ayun là con sông linh thiêng gắn với vua Nước, vua Lửa và vua Gió của người Jrai
– Hệ thống sông Đồng Nai : Sông Đồng Nai bắt đầu từ vị trí giao nhau của Sông Đa Dung (Đa Dâng) và Sông Đa Nhim tại vị trí nhà máy thủy điện Đa Dâng 2 (xã Tân Hội, tỉnh Lâm Đồng). Sông chảy qua các tỉnh Lâm Đồng (bao gồm Đắk Nông cũ), thành phố Đồng Nai (bao gồm Bình Phước cũ), gặp sông Sài Gòn tại cảng Cát Lái thành xông Xoài Rạp đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ cũ.
– – – Sông Đa Nhim chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pongour. Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía bắc núi Gia Rích (1.923 m) ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gần ranh giới với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận. Trên sông Đa Nhim có hồ Đa Nhim (hay là hồ Đơn Dương), là một hồ nhân tạo trên địa bàn huyện Đơn Dương. Dọc sông có ba thác chính: thác Liên Khương, thác Gougah và thác Pongour.
– – – Sông Đa Dung (Đa Dâng)
Sự tích sông Sêrêpok
Chuyện xưa kể rằng, trước đây sông Krông Knô và Krông Ana chỉ là một dòng sông Sêrêpôk. Ngày ấy, có một chàng trai của buôn Kuôp đem lòng yêu một người con gái ở bên kia sông. Tuy nhiên, họ lại thuộc hai dòng họ có mâu thuẫn từ hàng trăm năm trước.
Thế nên, khi biết chuyện tình yêu của đôi trai gái này thì cả hai dòng họ đã tìm mọi cách để ngăn cản, chia cắt. Nhưng vì quá yêu nhau nên cả hai vẫn thề non, hẹn biển. Trong một đêm trăng thanh gió mát, bên dòng Sêrêpôk, đôi uyên ương nguyện thề nếu không đến được với nhau thì sẽ quyên sinh cùng ở bên nhau mãi mãi.
Sau khi họ chết, mây đen bỗng nhiên từ đâu kéo đến nhiều vô kể, trời đất đen ngòm, dòng sông cuồn cuộn nước. Đến sáng hôm sau, khi mọi người thức dậy, dòng sông đã rẽ thành hai dòng từ lúc nào. Lúc này, dòng sông cũng trở thành hai màu nước khác biệt, bên ngầu lên màu đỏ và bên còn lại thì trong xanh, hiền hòa.
Khi tình yêu của đôi trai gái hóa thành dòng nước cuồn cuộn để rồi khi gặp nhau đã hình thành hàng loạt thác ghềnh hùng vỹ liên tiếp như: Gia Long, Dray Sáp, Dray Nur, Trinh Nữ…
Dòng sông Sêrêpốk được hợp nhất từ hai dòng Krông Knô và Krông Ana. Hai con sông này khởi nguồn từ lòng núi Chư Yang Sin có độ cao hơn 2.400m, chảy song song nhau. Khi đến địa phận xã Quỳnh Ngọc, huyện Krông Ana, Đắk Lắk thì hai dòng sông này hợp lưu thành sông Sêrêpôk.
Theo chuyện kể của người dân M’Nông bản địa thì sông Krông Knô là sông Đực, còn Krông Ana là sông Cái. Ngoài tên gọi này thì cũng có nhiều người gọi hai dòng sông này là dòng cha và dòng mẹ.
Cả hai nhánh sông này bồi đắp cho cánh đồng lúa trù phú rộng lớn hàng ngàn hecta là: Buôn Trấp ở huyện Krông Ana – tỉnh Đắk Lắk và Buôn Chóah, ở huyện Krông Nô – tỉnh Đắk Nông.
Một điều ly kỳ nữa là Tây Nguyên có độ cao lớn so với mực nước biển nên là khu vực thượng nguồn của nhiều con sông. Thế nhưng, dòng Sêrêpôk thì khác hẳn với nhiều con sông khác của nước ta khi nó chảy không theo quy luật chung là từ Đông sang Tây mà lại theo hướng ngược lại.
Sông Sêrêpôk chảy ngược từ vùng đất Tây Nguyên rộng lớn sang nước bạn Campuchia hòa vào dòng Mê Kông, xuôi về Việt Nam thành dòng Cửu Long rồi đổ ra biển Đông.
Sự tích sông Đa Nhim,
Sông Đa Nhim là nước mắt của nàng Lang khóc chàng Biang, trong sự tích Langbiang.
Sự tích sông hồ ở Tây Nguyên
Ngày xưa, muông thú còn sống thành buôn làng, quanh một cái hồ lớn. Cuộc sống thật là tươi vui, đầm ấm. Rồi một hôm, Cá Sấu mò đến, chiếm luôn cái hồ. Cảnh hồ trở nên vắng lặng. Già làng Voi tức lắm, liền bảo dân làng cùng đánh đuổi Cá Sấu.
Trong một trận đánh, già làng Voi nhử được Cá Sấu ra xa hồ nước. Cá Sấu khát quá, cố chạy trở lại hồ. Nhưng đã muộn, lúc này cả làng xúm lại, vây kín mặt hồ. Muông thú các nơi cũng kéo gỗ lát đường, băng qua bãi lầy, đến bên hồ trợ giúp. Cá sấu không được uống nước để lấy thêm sức mạnh, nó bị già làng Voi đánh quỵ.
Ngày nay, khắp núi rừng Tây Nguyên đâu đâu cũng có sông hồ. Dân làng bảo: những dấu chân của già làng Voi đánh nhau với Cá Sấu tạo thành hồ. Còn những dấu vết kéo gỗ ngang dọc hóa thành sông suối.
HỒ TÂY NGUYÊN
Có 2 loai hồ là hồ độc lập và hồ thuộc sông
Hồ độc lập
– Biển Hồ (Hồ Tơ Nưng)
– Hồ Lak (Đak Lak) : sông Krong Ana, núi Chư Yang Lak (hay Chư Yang Lắk) là đỉnh núi cao gần 1.700m thuộc khu rừng hồ Lắk
– Hồ Ea Snô (Đắk Nông) : sông Krong Nô, thác Gia Long, thác D’ray Sap.
– Hồ của Đà Lạt
Truyền thuyết hồ Ea Snô (của người M’nông)
Trước đây, khu vực hồ còn bao quanh là núi rừng rậm rạp, hoang sơ, nơi đây từng là bon của người M’nông sinh sống. Trong bon có một gia đình rất nghèo khổ, hai vợ chồng sinh được hai người con, con trai đặt tên là N’Chông và con gái đặt là M’Po. Sau khi người em vừa bỏ bú thì người mẹ qua đời, không lâu sau người cha cũng bị bệnh qua đời, người anh bị bán sang vùng khác còn em gái được một gia đình giàu có nhận nuôi.
Sau nhiều năm mua qua bán lại, N’Chông được trở về bon cũ nhưng hai anh em vẫn không biết ở cạnh nhau. Khi N’Chông và M’Po ngày càng lớn khôn, N’Chông trở thành chàng trai khỏe mạnh, thông minh, giỏi săn bắt còn M’Po trở thành cô gái xinh đẹp, dịu dàng, khéo tay. N’Chông và M’Po gặp nhau và yêu nhau, họ mơ về cuộc sống hạnh phúc nên đã lấy nhau. Tuy nhiên họ đã phạm vào tội loạn luân mà không hay biết nên bị thần linh trừng phạt, phạt cả dân làng nơi họ sinh ra.
Năm ấy cả buôn làng gặp một trận mưa khủng khiếp, tạo nên trận cuồng phong dữ dội, cuốn đi hết tất cả. Chỗ bon làng đó bị nước nhấn chìm xuống và tạo thành một hồ nước lớn, hiện là hồ Ea Snô ngày nay. Nhiều người vẫn nói Ea Snô chính là hồ vợ chồng.
Truyền thuyết hồ Lak (của người M’nông)
Truyền thuyết của người M’nông kể rằng: “…Có một thuở lâu lắm rồi đã xảy ra cuộc chiến quyết liệt giữa thần nước và thần lửa, kéo dài nhiều mùa rẫy. Sau khi thần lửa chiến thắng, buôn làng của những người M’nông chìm trong một cuộc đại hạn chưa từng có, kéo dài nhiều năm, người chết khô thây đầy đường, tiếng kêu gào ai oán dậy trời. Thế rồi một chàng trai M’nông được sinh ra trong rừng ở phía thượng nguồn, từ một cuộc tình vụng trộm giữa một sơn nữ M’nông với thần lửa, quyết chuộc tội cho mẹ bằng cách ra đi tìm nguồn nước cứu dân làng. Sau nhiều ngày đêm vượt qua nhiều núi non hiểm trở đầy thú dữ, một lần khi ngồi nghỉ chàng chợt thấy một chú lươn nhỏ nằm kẹt trong khe đá chờ chết khô. Sau khi chàng trai cứu lươn thoát nạn, lươn dẫn chàng theo cho đến khi gặp một hồ nước mênh mông, đó là hồ Lak và vùng Lak ngày nay” (Lak – tiếng M’nông có nghĩa là nước).
Truyền thuyết Biển Hồ (của người Jrai)
Theo truyện cổ dân gian của dân tộc Jơ Rai kể về sự tích Ia Nueng (Biển Hồ) khi xưa là bến nước uống chung của làng người Jơ Rai. Nước ở bến Ia Nueng rất xanh trong, soi rõ mặt người. Một hôm, trên đường đi đến bến Ia Nueng để lấy nước, có hai người dân trong làng là Yă Pôm và Yă Chao phát hiện một con heo trắng rất đẹp. Yă Chao đã bắt con lợn trắng xinh đẹp kia về nuôi ở nhà mình. Hằng ngày, Yă Chao chăm sóc cho lợn trắng đủ thức ăn ngon nhưng chú lợn con không ăn gì cả. Một lần Yă Chao mang những chiếc bầu đi lấy nước ở Ia Nueng về dính những hạt cát trắng thì bỗng nhiên chú lợn con đã liếm hết những hạt cát một cách ngon lành. Sửng sốt trước hiện tượng lạ, sau này Yă Chao cứ đi lấy cát trắng về cho chú lợn ăn và lớn nhanh như thổi. Sau 3 lần trăng tròn, chú lợn trắng lớn bằng con trâu to và khiến cả dân làng ngạc nhiên.
Khi ấy dân làng làm nhà rông mới và sai người trong làng đi tìm một con lợn thật to để cúng Yàng và làm lễ ăn mừng. Sau khi sai người đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không lấy đâu ra con lợn to như già làng mong muốn nên trở về nhà Yă Chao xin bắt con lợn trắng này để làm thịt. Yă Chao kiên quyết từ chối, dù có đổi bao nhiêu tài sản của dân làng cũng không chịu. Nhưng cuối cùng dân làng đã quyết cử 2 người to khỏe đến bắt cho bằng được con lợn trắng về làm thịt cúng Yàng và chia đều thịt cho các gia đình trong làng để ăn mừng. Riêng Yă Chao không nhận thịt và thề rằng: “Nếu tôi ăn thịt này thì đất sẽ động, Ia Nueng sẽ sụp lở”. Nhưng đứa cháu của Yă Chao thấy thịt ngon đòi ăn và khóc cả ngày đêm nên bà không cầm được lòng mà phải cho đứa cháu ăn thịt lợn trắng. Bỗng chốc, trời đất, núi rừng rung chuyển, nhà cửa ngả nghiêng, vùi lấp cả dân làng. Hai bà cháu Yă Chao chạy nhưng không kịp nên bị nước nhấn chìm biến thành tượng đá dưới đáy hồ…
Ngoài ra, còn có chuyện kể rằng, hồ mang tên Tơ Nưng là tên một làng cổ trong huyền thoại. Chuyện kể về ngôi làng xưa to và đẹp lắm. Dân làng sống yên vui, hòa thuận lâu đời thì bỗng một hôm, ngọn núi lửa ập tới vùi lấp làng. Những người may mắn còn sống sót đã khóc thương cho làng mình, khóc cho người thân không ngớt, khiến nước mắt chảy thành suối, các suối đổ về thành hồ. Hồ mang tên Tơ Nưng là một kỷ niệm chung của làng cổ đó…
Về Biển Hồ ở Pleiku còn có nhiều huyền thoại khác như chuyện kể rằng hồ sâu không đáy và thông ra tận biển Đông. Từ đó có câu chuyện ví von về những người làm gỗ ở Gia Lai, họ chỉ cần thả những lóng gỗ xuống Biển Hồ, một đêm xuống cảng biển Quy Nhơn, Bình Định là có thể lấy gỗ đem bán…
Hồ thuộc sông (hồ tự nhiên và hồ nhân tạo do chặn sông làm thuỷ điện)
– Hồ Tà Đùng, sông Đồng Nai
– Hồ Ayun Hạ, sông Ayun (Gia Lai)
– Hồ Bến Tuyết, sông Ayun
– Hồ Ea Kao (Đắk Lắk), suối Ea Kao
– Hồ Đram (KonKaKinh)
– Hồ Vĩnh Sơn B (KonKaKinh)
– 7 hồ của Măng đen : Hồ Toong Đam, Toong Ly Lung, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Xăng, Toong Rơ Poong và Toong Pô.
THÁC TÂY NGUYÊN
– Thác Dray Sap (thác chồng) & Dray Nư (thác vợ) của sông Serêpok
– Thác Đatanla (Đà Lạt)
– Thác của Măng đen
Truyền thuyết thứ 1
Đatanla là nơi dũng sĩ K`Lang và nàng sơn cước Hơbiang gặp nhau. Nơi đây, chàng Lang đã giao chiến với bầy thú dữ gồm hai con rắn hổ tinh, bảy con chó sói và hai con cáo. Truyên kể của đồng bào dân tộc còn ghi lại rất rõ trận đánh ấy: “Cây đổ ào ào, gió cuồng lên dữ dội, cuộc giao tranh diễn ra vô cùng ác liệt. Lợi dụng lúc hai con rắn lè lưỡi, Lang rút dao đi rừng chặt đứt bay 2 lưỡi của rắn rồi lấy 9 mũi cung tên bắn vào bầy chó sói và cáo làm chúng bỏ chạy tán loạn…”. Khoảng rừng cây bị đổ phá tạo nên những hố sâu mà một trong những hố sâu ấy là “Vực Tử Thần” ở chân thác. Từ đó Đatanla là nơi hẹn hò của đôi tình nhân.
Truyền thuyết thứ 2
Truyền thuyết kể rằng, Đatanla còn là thác mà các nàng tiên thường hay xuống tắm vì có dòng nước trong vắt, được che phủ bởi nhiều tầng lá. Vì không biết là dưới lá có nước nên khi phát hiện ra con thác, bà con dân tộc thiểu số đặc tên cho nó là “Đạ Tam Nnha” có nghĩa là “dưới lá có nước”. Sau này khi người Pháp và người Kinh đặt chân lên vùng cao nguyên đầy trữ tình này thì biến âm thành Đatina rồi là Đatanla
Truyền thuyết thứ 3
Có truyền thuyết kể lại rằng, vào thời Pôrêmê, người Chăm từ Panduranga (Phan Rang) thường kéo lên tấn công người Lạt, người Chil ở cao nguyên Lang Biang để giành đất và bắt nô lệ. Trong lúc người Lạch sắp thua vì thiếu “cái nước” thì tình cờ họ phát hiện ra dòng thác này và có nước uống, nên người Lạt đã chiến thắng và bảo vệ được buôn làng. Còn người Chăm thua vì họ không biết “dưới lá có nước”. Từ đó bà con bộ tộc Lạt đặt tên là “Đạ Tam Nnha” (dưới lá có nước) để nhắn nhủ với con cháu sau này.”
Sự tích 3 thác 7 hồ của Măng đen
Già làng A Đồ Ren ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông) kể, người Mơ Nâm gọi Măng Đen là T’măng Deeng, nghĩa là đất bằng (rộng lớn).
Trong truyền thuyết “Bảy hồ và ba thác”, ngày xưa Măng Đen là vùng bằng phẳng, đẹp lạ lùng với rừng thiêng xanh mênh mông trải dài như dải lụa. Dù đẹp vậy nhưng Măng Đen lại không có người và loài vật sinh sống. Một hôm, Yang Plinh (tương tự như Ngọc Hoàng thượng đế) từ trên trời nhìn xuống Măng Đen cảm thấy buồn bã, bèn gọi 7 người con trai đến, gồm: Gu Kăng Đam, Gu Kăng Lung, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng và em út là Gu Kăng Pô. Yang Plinh phán: Các con hãy xuống Măng Đen lập làng. Mỗi người được phong thần cai quản một vùng đất, gọi là Huynh.
Xuống lập làng, 7 người con của Yang Plinh lấy vợ, nhưng các bà vợ phải biến thành loài vật. Vợ của Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong biến thành heo thần gọi là Chu Huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng biến thành nai thần gọi là Zoi Huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá thần gọi là Ca Huynh và vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn thần gọi là Pô Huynh. Các bà vợ có trách nhiệm cai quản những con vật cùng loài với mình. “Các ngươi suốt đời không được ăn thịt các loài do vợ mình biến thành. Nếu phạm lỗi thì sẽ bị trừng phạt”, Yang Plinh căn dặn các con.
Nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết thuận hòa, các vị thần lại dạy cho con cháu dựng nhà, làm rẫy, săn thú, dệt vải, đan lát, hát ca, đánh cồng chiêng…, 7 làng của 7 anh em ở Măng Đen ngày càng sung túc. Mỗi năm, những người con của Yang Plinh về báo cáo với cha mình về công cuộc chăn dắt loài người ở Măng Đen. Sau này, cuộc sống ở trần gian say mê hấp dẫn, người làng ngày càng đông đúc nên các thần phải thường xuyên đi đây đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa.
Tuy vậy, mỗi năm khi lúa đã về đầy kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy trên chạn bếp, con trâu, con bò, con dê thả trong rừng béo mập là lúc 7 vị thần dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (gọi là ăn trâu mừng năm mới). Những lần cúng Yeeng, người dân mặc đồ đẹp nhất, uống rượu và ăn những món ngon nhất, ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác. Trong những lần cúng Yeeng, nhất thiết phải có cây nêu vẽ hình trang trí thể hiện cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên cùng là hình mặt trời. Thông qua cây nêu (tượng trưng cho đường lên trời) các Huynh báo cáo với Yang Plinh về cuộc sống ở trần gian.
Trong các lễ hội này, các vị thần cũng vui chơi nhảy múa, ăn uống với dân làng. Thế rồi có một lần, do vui chơi, ăn uống cả tuần, những người con Yang Plinh quên mất lời cha dặn, ăn cả thịt cùng loài với vợ mình biến ra, chỉ có người em út là Gu Kăng Pô ở làng Huynh Pô là còn nhớ lời cha không ăn thằn lằn. Từ trên trời nhìn xuống, Yang Plinh nổi giận, dùng lửa trừng trị 6 đứa con trai lớn. Giữa lễ hội đông vui, giông tố nổi lên đùng đùng, 6 cột lửa trên trời đánh xuống 6 làng của 6 người anh, lửa phụt lên mù mịt, đất đá biến thành nước chảy tràn khắp vùng, nhà cửa tài sản, con người cũng như các Huynh đều bị nhấn chìm trong biển lửa.
Người em út làng Huynh Pô, dù không ăn thằn lằn nhưng biết mà không nhắc nhở các anh mình cũng bị trừng trị bằng một cột lửa. Nhưng Yang Plinh cho lựa chọn một là dân làng phải chết hoặc Gu Kăng Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Gu Kăng Pô tự nhận cái chết về mình và xin mang theo một đứa nhỏ để hầu hạ. Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hồ lớn. Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ. Trong khi Yang PLinh trừng phạt những đứa con trai, có ba cột lửa bắn lên và biến thành ba thác nước ở Măng Đen bây giờ.
Theo già làng A Roi ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông), truyền thuyết “bảy hồ, ba thác” xuất hiện từ bao giờ không ai rõ. Tuy nhiên, không chỉ có chuyện kể ở trên mà còn có một số dị bản lưu truyền qua lời kể của người Mơ Nâm ở vùng Măng Đen. Theo ý kiến một số người, có thể vùng đất này ngày xưa có núi lửa, vì theo truyền thuyết lửa đã biến vùng này thành 7 cái hồ lớn nhỏ, đồng thời đất ở đây là đất bazan, phù hợp trồng các loại cây công nghiệp, nhất là cà phê, khác với H.Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kon Rẫy (Kon Tum) sát bên chỉ có đất thịt pha cát, hoặc tỷ lệ đất bazan trong đất rất ít.
Theo Sở VH-TT-DL tỉnh Kon Tum, các hồ ở Măng Đen hiện lớn nhất là 3 ha, nhỏ nhất 0,5 ha. Đó là các hồ Toong Đam, Toong Ly Lung, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Xăng, Toong Rơ Poong và Toong Pô. Theo tiếng Mơ Nâm, Toong có nghĩa là “nước”.
Nguồn
– Danh sách sông của Việt Nam
VÙNG DI SẢN
Ở Tây Nguyên của một vùng sơn thuỷ hữu tình xung quanh ngọn núi huyền thoại Chư Yang Sin, mà toàn địa danh đôi với sự tích tình yêu.
CỤM MĂNG ĐEN
1. Núi Ngọc Rô, suối Đak Lạch đầu nguồn sông Ba
2. Thác Kon Bông
1. 7 hồ
2. 3 thác
CỤM NÚI CHƯ YANG SIN
1. Sông đôi Krong Ana (sông Cái) – Krong Nô (sông Đực), chảy từ Chư Yang Sin hợp lại thành sông Sêrêpok
2. Thác đôi Dray Nư (thác Vợ) – Dray Sap (thác Chồng) tách đôi sông Sêrêpok ra một đoạn
4. Đá voi mẹ – Đá voi bố (chân núi Chư Yang Sin)
5. Hồ Lak – Núi Yang Lak (chân núi Chư Yang Sin)
CỤM SÔNG AYUN
1. Tháp đôi Yang Prong (tháp Đại/Dương) – Phế tích Yang Mum (tháp Mẫu/Âm) cùng được xây dựng bởi vua Chế Mân
2. Phế tích Tháp Bang Keng (buôn Jú, xã Krông Năng), huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai
3. Làng Vua Lửa – Làng Vua Nước – Làng Vua Gió
4. Núi Chư Tao Yang (nơi cất giữ gươm của vua lửa)
CỤM SÔNG BA
1. Núi Ngọc Rô, suối Đăk Lich, làng Kon Leah (Măng đen) đầu nguồn sông Ba
2. Thác Kon Bông
3. Chư Mố, núi bên bờ sông Ba
4. Kon Ka King
5. Kon Chư Răng
CỤM NÚI CAO NGUYÊN KHÁNH DƯƠNG
1. Chư Mư – Núi Vọng Phụ
CUM LANGBIAN đều liên quan đến sự tích Langbian
1. Núi Langbian
2. Bidoup
3. Sông Đa Nhim
4. Thác Đatanla

