![]()
PHỦ
– PHỦ (động từ)
– Phủ lấy
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
– Phủ thân thề :
– – – Phủ : Giao cấu ở động vật mà con đực nhảy, chồng (phủ lên con cái)
– – – Phủ phục : nằm phủ phục dưới chân
– Phủ tinh thần
– – – Phủ bóng.
– – – Phủ đầu
– – – Phủ định
– – – Phủ nhận
– Phủ vật chất
– – – Phủ vải
– – – Phủ dầu
– PHỦ (trạng từ)
– Sơn phủ
– Che phủ
– PHỦ (danh từ) : Phủ là cái phủ lên, là cái biên, cái lòng ruột
– Phủ : đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, trên cấp huyện/quận
– – Thăng Long Tứ Phủ : phủ Tây Hồ, phủ Hoài Đức, phủ Thường Tín, phủ Ứng Thiên
– – – Phủ Ứng Thiên : Phủ Ứng Thiên gồm nhiều huyện : huyện Sơn Minh (vùng Bắc Ứng Hòa và Nam Thanh Oai ngày nay), huyện Sơn Nam (vùng Nam Ứng Hòa và Bắc Kim Bảng – Hà Nam; huyện Mỹ Đức và Chương Đức – một phần của Chương Mỹ). Trung tâm là Ứng Hòa ngày nay, thủ phủ có thể là làng Hoàng Xá (Vân Đình). Năm Giáp Dần Thuận Thiên thứ 5 (1014), Lý Thái Tổ đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh.
– – – Phủ Hoài Đức : Cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, soạn từ năm 1435, trong đó, ở phần Thượng kinh, viết: “Tiền Lý gọi nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (tức thành Thăng Long bây giờ – thời Lê). Thượng kinh là kinh đô vua. Thời Ngô, quận thú là Sĩ vương (tức Thái thú Sĩ Nhiếp) đóng đô ở đấy. Thời Đường, quan đô hộ là Cao vương (Cao Biền) đắp thành Đại La ở đấy. Từ Lý đến nay, cũng đóng đô ở đấy. Có 1 phủ lộ, 2 thuộc huyện, 36 phường”. Sách “Đồng Khánh địa dư chí” biên soạn thời Vua Đồng Khánh triều Nguyễn cũng dẫn giải: “Sau khi Lý Thái Tổ dời đô về Đại La, đổi tên thành Thăng Long, đặt phủ Ứng Thiên thống nhiếp các vùng phụ quách Hoàng thành. Năm 1014 đổi phú Ứng Thiên thành Nam Kinh. Đời Trần đổi làm phủ Đông Đô, thuộc lộ Đông Đô, gồm phủ Đông Đô và huyện Từ Liêm. Thời quân Minh xâm lược nước ta, chúng đổi tên thành huyện Đông Quan”. Sang thời Vua Lê Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ 3 (1430), đổi Đông Quan làm Đông Kinh, còn gọi là Trung Đô. Vua Lê Thánh Tông mới đổi phủ Trung Đô thành phủ Phụng Thiên. Thời Lê trung hưng, từ đời Vua Lê Hiển Tông trở đi gọi Thăng Long là Đông Đô, do Thanh Hóa lúc đó được gọi là Tây Đô.
– – – Phủ Thường Tín : Phủ Thường Tín là phủ được đặt tên vào thời nhà Lê. Thời Bắc thuộc là quận Giao Chỉ; thời Lý Trần là châu Thượng Phúc. Thời thuộc Minh đổi là châu Phúc Yên gồm 3 huyện: Bảo Phúc, Phù Lưu, Thanh Đàm. Nhà Lê đặt làm phủ Thường Tín thuộc thừa tuyên Sơn Nam (sau đổi là trấn), gồm 3 huyện Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên. Các triều sau vẫn theo như thế. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tách toàn bộ phủ Thường Tín đặt thuộc vào tỉnh Hà Nội. Ngày nay các huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Trì đều thuộc thành phố Hà Nội.
– – – Phủ Tây Hồ
– – Hà Nội Tứ Phủ : Tỉnh Hà Nội thời Nguyễn có 4 phủ là Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân; có 15 huyện là Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Thượng Phước, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An, Nam Xang, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng, Thanh Liêm.
– Thủ phủ
– Đình phủ
– Lộ phủ
– Cửa phủ
Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng
– Phủ cơ quan : Phủ chủ tịch, Phủ thủ tướng, Bắc Bộ Phủ
– Phủ đệ
– Phủ doãn
– PHỦ (danh từ) : chức danh
– Đao phủ (liên quan đến âm phủ)
– Tri phủ (liên quan đến phủ quan)
– Tuần phủ (liên quan đến phủ quan)
– Quan phủ (liên quan đến phủ quan)
Anh kiện về nha, em nằm ngủ
Anh kiện về phủ, em ngồi gảy đờn
Cha em làm tri phủ, chú em làm chánh nha
Anh kiện đâu anh kiện cũng mà thua em
– PHỦ (danh từ) : phủ tạng
– Lục phủ ngũ tạng : Gốc lục phủ là rốn, mà sinh ra đường tiêu hoá (bao gồm cả bài tiết) và đường hô hấp, gọi chung là hệ lòng ruột
– – – Đởm (Túi mật)
– – – Vị (Dạ dày)
– – – Tiểu trường (Ruột non)
– – – Đại trường (Ruột già)
– – – Bàng quang (Bọng đái)
– – – Tam tiêu: Thượng tiêu – ngực, Trung tiêu – bụng trên, Hạ tiêu – bụng dưới, để tiêu khí và nước
– PHỦ (danh từ ) : cảnh giới
– Âm phủ
Có chồng mà lại lấy trai
Chết xuống âm phủ cưa hai nấu dầu
– Tứ phủ công đồng
– – – Thoải phủ (liên quan đến vía, ối) : Vua cha Thuỷ phủ (Long Vương)
– – – Địa phủ (liên quan đến phách, nhau) : Vua cha Địa phủ (Diêm Vương)
– – – Thiên phủ (liên quan đến hồn, bào) : Vua cha Thiên phủ (Ngọc Hoàng)
– – – Nhạc phủ (liên quan đến phối hợp) : Vua cha Nhạc phủ (Tản Viên)
– Đền phủ
– – Bộ Phủ của Mẫu Liễu Hạnh
– – – Phủ Quảng Cung
– – – Phủ Dày
– – – Phù Sòng Sơn
– – – Phủ Tây Hồ
Nhất hội Hương Tích
Nhì hội Phủ Giầy
Vui thì vui vậy chẳng tày đánh cá làng Me
– PHỦ (địa danh)
– Phủ Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội)
– Phủ Lý (Hà Nam)
—o—o—o—
PHÙ
– PHÙ (tính từ)
– Sưng phù
– Bị phù
– Phù nề
– Phù lao
Một thương em nhỏ móng tay
Hai thương em bậu khéo may yếm đào
Ba thương cám cảnh phù lao
Bốn thương em bậu miệng chào có duyên
– PHÙ (động từ)
– Phù trợ
– Phù hộ
Âm phù, dương trợ
Tôi lạy ông Cầu bà Quán
Phù hộ cho mẹ đĩ nhà tôi
Ta lên Hà Nội tìm mình
Trầu cau tiếp đãi thân tình biết bao
Chân đi miệng lại khấn cầu
Lạy Giời phù hộ gặp nhau phen này
Có tiền em muốn mua chồng
Biết rằng đáng mấy trăm đồng mà mua
Mua chồng chồng chẳng bán cho
Lạy giời phù hộ em mua được chồng
Trên trời những cái vì sao
Có phải vị nào thời xuống mà xơi
Ăn rồi lại tếch lên trời
Phù hộ tín chủ một đời không sao
Cây cao lá rậm rườm rà
Mượn người xẻ gỗ làm nhà chín gian
Ba gian đóng cửa đóng bàn
Ba gian treo mùng thắm thiếp chàng ngồi chơi
Ba gian thờ Phật thờ Trời
Để trời phù hộ bốn tôi đôi nhà
– PHÙ (danh từ)
Phù dung
Phù hoa
Vải em em bán lấy tiền
Em mua lụa liền may áo cho anh
Trong thì lót tím lót xanh
Ngoài thêu đôi bướm lượn cành phù dung
– PHÙ (địa danh)
Phù Ủng (làng)
Phù Lưu (làng)
Thần Phù (cửa biển)
Chợ Giầu bán sáo bán sành
Bắc Ninh bán những nhẫn vàng trao tay
Đình Bảng bán ấm bán khay
Phù Lưu họp chợ mỗi ngày một đông
Mưa chi mưa oán, mưa thù
Mưa quanh, mưa quất bàu Thần Phù không mưa
Đông: cồn Quay, cồn Bẹ,
Tây: núi Lẹ, Thần Phù
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm
—o—o—o—
PHÚ
– PHÚ (tính từ)
– Phú
Nhà anh bất phú bất bần
Có con dao đoản hộ thân tháng ngày
– Phong phú
– Trù phú
– Trời phú
– Thiên phú
– Phú quý
Thích chí hơn phú quý
– PHÚ (danh từ)
– Phú
Có phú phụ bần
– Bài phú
– Thơ phú
– PHÚ (danh từ chỉ người)
Phú ông
Phú hộ
Phú điền
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười
– PHÚ (địa danh)
– Vĩnh Phú (tỉnh)
– Phú Yên (tỉnh)
– Phú Diễn
– Phú Xuyên (huyện Hà Nội)
– Phú Tài
– Phú Phong
– Phú Vinh
– Phú Cốc
– Phú Điền
– Phú Câu
– Phú Bông (Quảng Nam)
– Văn Phú
– Đồng Phú
– Tân Phú
– Đảo Phú Quý
Lấy chồng Phú Cốc sợ beo
Lấy chồng Mỹ Á hồn treo cột buồm
Nước trong pha lấy chè tàu
Lấy chồng Văn Phú không giàu cũng bui
Nước trong pha với chè tàu
Lấy chồng Đồng Phú không giàu cũng vui.
Lấy chi vui với thu tàn
Phú Câu cước cá, Ô Loan miếng hàu
Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn
Đêm nằm nghe trống Mỹ Sơn
Nghe chuông Trà Kiệu, nghe đờn Phú Bông
Tiếng đồn Đại Nẫm nhiều xoài
Xuân Phong nhiều cốm, Phú Tài mạch nha
Lấy vợ chẳng lấy đâu xa
Con gái Phan Thiết nết na dịu hiền
Ngó lên Đất Đỏ nhiều bắp, nhiều khoai
Ngó xuống Đồng Dài nhiều mía, nhiều tranh
Ngó vô Đồng Cọ nhiều lúa bạch canh, áo già
Mỹ Phong, Mỹ Thuận, Mỹ Hòa
Phú Điền, Phú Cốc thiệt là nhiều cau.
Chợ Gồm đồ gốm
Phú Hội đồ đan
Tiện đàng ghé lại Cảnh An
Mua thêm chiếc võng cho nàng đưa con
—o—o—o—
PHỤ
– PHỤ (tính từ)
Phụ bạc
Phụ tình
– PHỤ (danh từ)
Phụ lục
Phụ tùng
Phần phụ
– PHỤ (động từ)
Phụ ai đó, phụ việc gì đó
Phụ trách
Phụ trợ
Phụ giúp
Phụ đạo
Phụ việc
Anh ơi, đừng thấy tóc dài mà phụ tóc ngắn
Đừng thấy da trắng mà phụ da đen
Đừng thấy bóng trăng mà phụ bóng đèn
Bóng trăng một thuở, bóng đèn trăm năm
Có oản anh tình phụ xôi
Có cam phụ quýt, có người phụ ta
Có quán tình phụ cây đa
Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn
Có mực anh phụ tình son
Có kẻ đẹp giòn anh phụ nhân duyên
Có bạc anh tình phụ tiền
Có nhân ngãi mới anh quên em rồi
Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng
Xin ai chớ phụ hoa ngâu
Tham nơi quyền quý đi cầu mẫu đơn
Phụ tá
Phụ việc
Sư phụ
Thân phụ
Phụ huynh
Phụ mẫu
Phụ tử
Phụ nữ
Lưới thưa anh bủa lấy con cá duồng
Phụ mẫu em già yếu, em bơi xuồng đi kiếm anh.
Thương em lấy cẳng anh quèo,
Phụ mẫu em thấy hỏi, nói hai bạn nghèo đọ chân
Anh làm rể bên em, có cha mà không có mẹ
Em làm dâu bên anh, có mẹ mà không có cha.
Bữa ăn nước mắt nhỏ sa,
Thân phụ ơi thân phụ hỡi, đi đâu mà bỏ con
Hổ phụ sinh hổ tử
Hổ tử bất tương nhi
Hai tay anh đây cầm cặp song chùy
Anh đón em anh hỏi: Có gì mà bỏ anh?
– PHỤ (địa danh)
– Yên Phụ
– Mông Phụ
– Hòn Phụ Tử
Hỡi cô đội nón ba tầm
Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang
Phiên rằm chợ chính Yên Quang
Yên Hoa anh đợi hoa nàng mới mua
Ngó ra Vàm Cậu lù mù
Đông Hồ, Thị Vạn, Tô Châu, Rạch Dừa
Ngó ra hòn Họ lưa thưa
Hòn Chông, Phụ Tử, trên bờ Tà Săng
—o—o—o—
PHU
Phu hồ
Phu xe
Phu mỏ
Tài nguyên than mỏ nước Nam
Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li
Chỉ vì đói rách phải đi
Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà
Phu nhân
Phu quân
Phu phụ
Phu thê
Vọng phu
Trượng phu
Vọng phu hoá đá chờ chồng
Sao anh chưa thấy dải đồng phu thê?
Phiên bang nhiều kẻ chán chê
Tới đây bỏ mạng, có về được đâu?
Khuyên anh suy nghĩ cho sâu
Đừng thèm đi lính, bỏ đầu bên Tây
Áo thay tay chờ ngày giao bạn
Miệng kêu ới chàng cho xứng trượng phu
Đó bạn hò nhu, ta cũng hò nhu
Ai mà hò oán, hò thù mặc ai
– PHU (tính từ)
– Vũ phu
Bởi vì cha mẹ không thương
Cố lòng ép uổng lấy tuồng vũ phu
Tham vàng gả kẻ giàu ngu
Cho nên em lỡ đường tu thế này
—o—o—o—
PHŨ
– PHŨ (tính từ)
Phũ
Phũ phàng
Ngỡ rằng duyên nợ đấy đây
Nào hay duyên nợ lá lay phũ phàng
