![]()
KHUÔN THIÊNG LÀ GÌ ?
Khuôn thiêng là cái khuôn của Tạo hoá của Hoá Công, mang tính trời dùng để nặn đất.
Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân (khuôn trời).
Khuôn thiêng đi với Lương xuân, giống như là Cha Trời đi với mẹ Đất.
Khôn thiêng Lương xuân nếu so sánh với khuôn vàng thước ngọc, làm liên tưởng đến cầu Ô thước, với ô là khuôn vàng và thước là thước ngọc. Ô thước cũng là cầu ô, với thước là cầu, mà cầu cũng là Kiều.
Bậu đừng dứt nghĩa cầu Ô
Chớ anh không phụ Hớn Hồ như ai
—o—
Cầu Ô gặp lúc long vân
Cá xa mặt biển cận gần chân mây
Tơ hồng xe kéo múi dây
Bầm gan tím ruột không khuây dạ chàng
Người Việt có câu “sống khôn chết thiêng”, sống khôn là sống đúng khuôn phép, sống đúng đạo trời, sống đúng mệnh trời, còn chết thiêng là chết trong lòng mẹ Đất, chết về được với mẹ Đất.
Không thiêng cũng thể bụt nhà
Dầu khôn dầu dại cũng ra anh chồng
Bộ Âm – Dương
– Khuôn Thiêng – Lương Xuân
– Khuôn cha – Lòng mẹ
– Khuôn – Mẫu
– Khuôn thiên – Mẫu địa
– Khuôn vàng – Thước ngọc
– Khuôn cha – Gương mẹ
– Sông khôn – Chết thiêng
– Ô – Thước
– Cha trời (Hồng Quân/Thánh Trần) – Mẹ đất (Hồng Quần/Liễu Hạnh)
– Kim (cái kim bị nam châm hút) – Cải (hạt cải bị hổ phách hút)
– Kim – Kiều
BUỔI TRAO TÍN VẬT ĐỊNH TÌNH GIỮA KIỀU VÀ KIM TRỌNG
Đoạn thờ sau trong truyện Kiều là nằm trong phần Kiều và Kim Trọng trao tín vật định tình. Đây là những lời Kim Trọng nói với Kiều trong buổi gặp gỡ đầu tiên của hai người, để thuyết phục Kiều đồng ý chấp nhận tình yêu của mình.
Sinh rằng: “Rày gió, mai mưa,
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
Dù chăng xét tấm tình si,
Thiệt đây mà có ích gì đến ai?
Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!”
– “Sinh rằng: “Rày gió, mai mưa, Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!” : Kim Trọng nói rằng hôm nay gió, ngày mai mưa, ngày xuân mấy khi có chuyện tình cờ như hôm nay.
– “Dù chăng xét tấm tình si, Thiệt đây mà có ích gì đến ai?” : Nếu em chẳng xét đến tấm tình si của anh, thì anh đây thiệt thòi, mà cũng đâu ích gì cho em
– “Chút chi gắn bó một hai, Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh” : Còn nếu như ngày một ngày hai em mở lòng rồi muốn gắn bó với anh, thì anh sẽ lo liệu xin gia đình đến hỏi cưới em.
– “Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành, Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời” : Nếu như Cha trời có phụ tấm lòng chân thành này của anh, thì anh cũng liều bỏ phí xuân xanh đời này vì em.
– “Lượng xuân dù quyết hẹp hòi, Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!” : Khuôn Thiêng với đứa con là cha Trời, cha Đẻ, đối xứng với người mẹ mang thai, Lượng Xuân là mẹ Đất, mẹ Đẻ. Khuôn Thiêng mà là cha Trời thì Lượng Xuân là mẹ Đất. Dù cho mẹ Đất quyết hẹp hòi, không nuôi dưỡng tình yêu này, thì công đeo đuổi của anh cũng chẳng thiệt thòi, nghĩa là anh cũng vẫn quyết theo đuổi em. Khuôn Thiêng cũng có nghĩa là Kim Trọng và Lương Xuân lúc ấy có nghĩa là Kiều, nếu Kiều mà không mở lòng đón nhận tình cảm của anh, thì chẳng phải công anh theo đuổi nàng thiệt thòi lắm sao.
THUÝ VÂN TRAO DUYÊN LẠI CHO KIỀU
Một đoàn về đến quan nha,
Đoàn viên, vội mở tiệc hoa vui vầy.
Tàng tàng, chén cúc dở say,
Đứng lên, Vân mới giãi bày một hai.
Rằng: “Trong tác hợp cơ trời,
Hai bên gặp gỡ, một lời kết giao.
Gặp cơn bình địa ba đào,
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Cũng là phận cải, duyên kim,
Cũng là máu chảy, ruột mềm chứ sao?
Những là rày ước, mai ao,
Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình!
Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc, đã dành có nơi.
Còn duyên may lại còn người,
Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa.
Quả mai ba bảy đương vừa,
Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.”
– “Bây giờ gương vỡ lại lành. Khuôn thiêng lừa lọc, đã dành có nơi.” : “Gương gỡ lại lành” là một chu kỳ vận hành của quan hệ nam nữ, vợ chồng ở trạng thái đối xứng tương hợp (gương), đã bị chia cắt (vỡ), lại quay về được với nhau (lành), để lại thành cặp đối xứng gương. Có điển tích “gương vỡ lại lành” nhưng không cần biết điển tích mà có thể hiểu trực tiếp được thành ngữ này, như người Việt vẫn dùng và hiểu trực tiếp. Khuôn thiêng lừa (đưa vào một luồng có đầu ra rõ ràng), lọc (thanh lọc, chọn lựa, phân loại). Cha trời (khuôn thiêng) đã phân loại, tạo luồng, đã lựa chọn nơi chốn cho mỗi sinh linh, bao gồm Kiều và Kim Trọng. Trong vòng tròn âm dương thì khuôn là vòng tròn hay các trạng thái bao, gương là chữ S hay các trạng thái biên phân tách âm dương đối xứng qua gương và vận hành âm dương trong khuôn. Nếu khuôn là cha thì gương là mẹ. Trạng thái gương vỡ lại lành là do dương tận, thì âm hồi lại được.
– “Còn duyên may lại còn người, Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa.” : Duyên được cho là những sợi tơ của ông Tơ buộc nam và nữ vào với nhau. Sợi tơ ấy may vẫn còn, sau 15 năm lưu lạc. Còn người là còn hai người mà được sợi tơ duyên ấy buộc vào nhau, ý nói là Kiều và Kim Trọng. Vầng trăng bạc cũng là gương bạc, liên quan đến âm cung hay cung trăng của bà Nguyệt, mà đỡ lời thề nguyền của những người yêu nhau, ở đây ý nói là lời thề trong lễ xe tơ kết tóc của Kiều và Kim Trọng. Cả hai cầu này liên quan đến tơ duyên của ông Tơ, nối kết hai người yêu nhau và cung trăng của bà Nguyệt bao trùm hai người yêu nhau.
– “Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.” : Quả mai là quả mùa xuân, quả mai là quả của tương lai, quả mai cũng là quả của bà mai, một hiện thân của bà Nguyệt, quả mai cũng là người phụ nữ vẫn còn đang ở độ tuổi cuối mùa xuân, vẫn còn có ngày mai, vẫn liên quan đến bà mai. Ba bảy là hai nửa của mười. Qủa mai ba hay quả mai bảy thì vẫn đương vừa trong mười. Đào non là quả của đầu mùa đào, cuối mùa xuân, thời khắc này liệu xe tơ thì vẫn kịp thì cho đôi lứa, là Kiều và Kim Trọng. Quả mai là quả hướng vào bên trong, quả định biên, định khuôn khổ giới hạn, quả già cuối mùa xuân. Quả đào là quả hướng ra bên ngoài, vượt biên, phá khuôn khổ giới hạn, mở luồng đi tiếp. Khi Kiều là quả mai thì chín chắn mà vẫn còn xuân thì, khi Kiều là quả đào thì đến lúc phải bước ra, đến lúc phải đi tiếp, nghĩa là lấy Kim Trọng.
TÊN ĐI CẢ BỘ : KHUÔN – KHÔN/KHỐN
KHUÔN
Như đúc cùng môt khuôn
Khuôn (danh từ)
– Khuôn bánh
– Khuôn gốm
– Khuôn ép nhựa: Sản xuất các sản phẩm nhựa.
– Khuôn đúc: Đúc kim loại hoặc nhựa lỏng.
– Khuôn dập (dập định hình/dập vuốt): Dùng trong gia công áp lực kim loại.
– Khuôn thổi: Dùng sản xuất chai lọ rỗng.
Vuốt hột nổ
Đổ bánh xèo
Xáo xác vạc kêu
Nồi đồng vung méo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái thuổng đắp bờ
Cái lờ thả cá
Cái ná bắn chim
Cái kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt trốc
Cái nốc đi buôn
Cái khuôn đúc bánh
Cái chén múc chè
Cái ve múc rượu.
Khuôn (danh từ)
– Khuôn mẫu
– Khuôn thiêng :
“Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời” – Truyện Kiều
“Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc, đã dành có nơi” – Truyện Kiều
– Khuôn khổ
– Khuôn phép
– Khuôn mặt
– Khuôn vàng : Khuôn vàng thước ngọc
– Khuôn trăng
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn lưng đầy đặn, nét ngài nở nang” – Truyện Kiều
– Khuôn trời
Trăm năm xe sợi chỉ hồng
Buộc người tài sắc vào trong khuôn trời
Bao giờ tài sắc có lời
Thì ta lại cởi khuôn trời cho ra
Khuôn
– Khuôn đực (Core)
– Khuôn cái (Cavity)
Trên trời có đám mây vuông
Ở dưới hạ giới có khuôn đúc tiền
Khuôn (động từ)
– Đổ khuôn
– Đúc khuôn : Như đúc cùng một khuôn
– Làm khuôn
– Lên khuôn
– Dập khuôn
Muốn uống nước chè cặm tăm
Mời về Trà Đúc mà làm đất khuôn
Muốn ăn cơm trắng với tôm
Thổi bễ thúc dồn chớ có nghỉ tay.
Khuôn (tính từ)
– Dập khuôn cứng nhắc
– Rập khuôn
KHÔN
Khôn (danh từ)
– Càn khôn : Càn khôn dĩ rồi lại thái, nhật nguyệt hối rồi lại minh
Khôn (danh từ)
– Trí khôn
Làm người phải có trí khôn
Nghĩ sao cho hết đất vuông trời tròn
Lên rừng biết núi biết non
Xuống khe biết nước chảy đá mòn, con cá lội giương vi
—o—
Đường dài mới biết sức ngựa hay
Bây giờ mới biết con bạn dày trí khôn
Khôn (tính từ)
– Khôn >< Dại : Khôn nhà dại chợ
– Khôn ngoan
– Khôn lỏi
– Khôn ranh
– Khôn thiêng : Sống khôn chết thiêng
– Khôn khéo : Khôn cậy, khéo nhờ
Đi cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
—o—
Khôn cậy, khéo nhờ
—o—
Khôn nhà, dại chợ
—o—
To đầu mà dại
Bé dái mà khôn
—o—
Khôn độc không bằng ngốc đàn
—o—
Khôn ngoan thì bảo rằng ngoa
Vụng dại thì bảo người ta rằng đần
—o—
Khôn cho người ta rái
Dại cho người ta thương
—o—
Khôn cho người ta vái
Dại cho người ta thương
Dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét
—o—
Tới đây dầu đói giả no
Dầu khôn giả dại đặng dò ý em
—o—
Khôn ngoan đến cửa quan mới biết
Giàu có ba mươi tết mới hay
—o—
Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời
—o—
Khôn ngoan cũng thể đàn bà
Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông
—o—
Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
—o—
Cha nó lú có chú nó khôn
—o—
Nó lú có chú nó khôn
Khôn (trạng từ) : Không
– Khôn cùng : Không cùng
– Khôn thay : Không thể
Thay quần, thay áo, thay hơi
Thay dáng thay dấp, nhưng người khôn thay
—o—
Nói với người khôn không lại,
Nói với người dại không cùng
Khôn (trạng từ)
– Khôn hồn
Khôn
– Người khôn
Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa thau
—o—
Người khôn nói tiếng nửa chừng
Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo.
—o—
Người khôn đón trước rào sau
Để cho người dại biết đâu mà dò
—o—
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
KHỐN
Khốn (tính từ)
– Khốn kiếp
– Khốn nạn
– Khốn khổ
– Khốn khiếp
– Khốn đốn
– Khốn cùng
Khốn (tính từ)
– Nguy khốn
Khốn (đại từ)
– Đồ khốn
– Thằng khốn
– Quân khốn nạn
