TIÊN HIỀN MỞ ĐẤT SÀI GÒN GIA ĐỊNH & NAM KỲ LỤC TỈNH

Loading

NHÓM NGƯỜI HOA THEO CHÚA NGUYỄN MỞ ĐẤT PHÍA NAM
DƯƠNG NGẠN ĐỊCH (không rõ năm sinh-mất 1688), đời chúa Nguyễn Phúc Tần
– Tổng binh nhà Minh, không theo nhà Thanh, sang hàng phục chúa Nguyễn
– Phát triển thương mại và nông nghiệp ở Mỹ Tho, lúc đó thuộc Chân Lạp, được vua Chân Lạp cho phép ở theo đề nghị của chúa Nguyễn
TRẦN THƯỢNG XUYÊN (1626-1720), đời chúa Nguyễn Phúc Tần
– Tổng binh nhà Minh, không theo nhà Thanh, sang hàng phục chúa Nguyễn
– Phát triển thương mại ở Cù Lao Phố, lúc đó thuộc Chân Lạp, được vua Chân Lạp cho phép ở theo đề nghị của chúa Nguyễn
– Mộ ở làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
MẠC CỬU (1655 – 1735)
– Chiêu mộ dân chúng đa sắc tộc chủ yếu là người Việt và người Hoa, phát triển vùng đất Hà Tiên
– Họ Mạc ở Hà Tiên liên hôn với gia tộc của Trần Thượng Xuyên ở Cù Lao Phố (Đồng Nai)
– Ban đầu cống nạp cho cả Chúa Nguyễn và Chân Lạp, sau khi bị Xiêm bắt trốn thoát, theo chúa Nguyễn
– Năm 1708, chúa Nguyễn Phúc Chu, chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu.
– Khi Mạc Cửu mất, truyền cho con trai cai quản đất Hà Tiên
– Mộ Mạc Cửu trên núi Bình San, Hà Tiên.
—o—o—o—
TƯỚNG MỞ ĐẤT PHÍA NAM CỦA CHÚA NGUYỄN
NGUYỄN HỬU CẢNH (1650 – 1700), đời chúa Nguyễn Phúc Chu
– Người đời gọi ông là Hắc Hổ (vì ông sinh năm Dần và vì có nước da ngăm đen, vóc dáng hùng dũng).
– Bình định Chiêm Thành
– Ông được xem là vị tướng mở cõi Nam Bộ với việc xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất Đồng Nai, Gia Định vào năm 1698. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc lãnh thổ Đại Việt, tức Việt Nam ngày nay.
NGUYỄN CỬU VÂN, đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725)
– Tháng 7 năm Ất Dậu (1705), khi nội bộ vương triều Chân Lạp xảy ra việc tranh giành nhau quyền lực, ông được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào Nam. Theo sử liệu thì thời bấy giờ nước Chân Lạp cứ loạn lạc luôn. Nặc Ông Thâm nghi cho Nặc Ông Yêm có ý làm phản, bèn khởi binh đánh nhau. Nặc Ông Thâm lại nhờ quân Xiêm La sang giúp mình, Nặc Ông Yêm chống không nổi phải chạy sang cầu cứu quan quân chúa Nguyễn đang đóng ở dinh Phiên Trấn (Gia Định). Vì lẽ ấy, cai cơ Nguyễn Cửu Vân được lệnh mang quân vào gấp để đánh Nặc Ông Thâm. Ở Sầm Khê (Chân Lạp), Nguyễn Cửu Vân đánh đuổi được quân Xiêm La, đem Nặc Ông Yêm trở về thành La Bích (La Vách, Lovek) làm vua như trước. Tuy nhiên, sau đó Nặc Ông Thâm ở Xiêm La cứ thỉnh thoảng đem quân về đánh Nặc Ông Yêm…
– Để phòng giữ miền biên cảnh và vùng đất Mỹ Tho, được tạo lập và phồn vinh từ thời Dương Ngạn Địch (một võ tướng nhà Minh chạy sang xin thần phục Đại Việt thời chúa Nguyễn Phúc Tần) đến coi quản, Nguyễn Cửu Vân cho đắp một chiến lũy dài từ quán Thị Cai đến Bến Tranh (chợ Lương Phú). Bên ngoài lũy, ông còn cho đào một con mương hào sâu rộng nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) và rạch Mỹ Tho, mà sau này (năm 1819 đời Gia Long) người ta đào sâu thêm thành đường kênh, đó chính là kênh Bảo Định (nay gọi là sông Bảo Định), một con kênh đào đầu tiên ở Nam Bộ.
– Năm 1711, ông được thăng Trấn Biên doanh phó tướng. Rồi cùng với Trần Thượng Xuyên (cũng là võ tướng nhà Minh chạy sang một lượt với Dương Ngạn Địch) ông lo việc an dân nơi vùng đất mới. Về việc mở mang bờ cõi, bình định Chân Lạp cùng việc vỗ yên dân chúng, Quốc sử quán triều Nguyễn đã ca ngợi Nguyễn Cửu Vân như sau: Về việc mở mang bờ cõi Nam, công (Nguyễn Cửu) Vân rất nhiều, ông tuyên thị đức ý triều đình, người Chân Lạp mến phục.
– Hai con trai ông là Nguyễn Cửu Chiêm, Nguyễn Cửu Đàm cũng đều là người có công lớn, nhất là trong việc khai khẩn đất đai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.
– Con gái ông, bà Nguyễn Thị Khánh, tên dân gian là Thị Nghè. Tên bà được đặt một con rạch đổ ra sông Sài Gòn, bắt nguồn từ rạch Nhiêu Lộc, được gọi chung là kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Sở dĩ có tên ấy là do khi đầu bà khai hoang đất ở, bắc cầu ngang qua để tiện việc đi lại, nên dân gọi là cầu Bà Nghè, cũng gọi sông ấy là sông Bà Nghè” (Gia Định thành thông chí, mục “Trấn Phiên An”).
—o—o—o—
QUAN ĐIỀU KHIỂN DINH GIA ĐỊNH (THỜI CHÚA NGUYỄN)
Chức quan Điều Khiển dinh Gia Định là chức quan thống nhiếp tất cả quan binh ở 5 dinh thuộc Gia Định gồm: Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ.
Những người làm chức quan Điều Khiển lần lượt là
1. Trương Phước Vĩnh (1731)
2. Nguyễn Hữu Doãn (1732)
3. Thiện Chính (1753)
4. Tống Văn Khôi (1766)
5. Nguyễn Cửu Đàm (1772)
6. Tống Phước Hiệp (1774),
7. Dương Công Trừng (1782).
—o—o—o—
GIA ĐỊNH TAM HÙNG
1, Võ Tánh
2. Đỗ Thanh Nhơn
3. Châu Văn Tiếp
Võ Tánh (1768 – 1801) sinh tại huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), sau dời về huyện Bình Dương, Gia Định. Vì không chịu thần phục nhà Tây Sơn, từ năm 1783 đến năm 1788, ông cùng với người anh là Võ Nhàn tập hợp lực lượng nổi dậy tại thôn Vườn Trầu (Hóc Môn), tự xưng là Nghĩa quân Kiến Hòa (sử gọi là Kiến Hòa Đạo), giương ngọn cờ Khổng Tước Nguyên Võ (Khổng Tước Nguyên là tên chữ của Gò Công), rồi kéo quân chiếm giữ cả vùng Gò Công, đắp thành Vạn Thắng để chiến đấu chống Tây Sơn. Võ Tánh tự thiêu khi giữ thành Quy Nhơn ngay trước khi Nguyễn Ánh giành toàn thắng trước Tây Sơn.
Mộ Võ Tánh nằm trong nội cung thành Hoàng Đế của Nguyễn Nhạc, cũng là thành Đồ Bàn của vua Chăm. Mộ hình tròn trên có đắp biểu tượng một con dơi, nằm kề bên mộ Ngô Tùng Châu hình chữ nhật (đã được cải táng về Phù Cát).
Theo Vương Hồng Sển, thì thi hài Võ Tánh đã bị cháy hết. Sau, vua Gia Long sai lập một mộ nữa cho ông ở Phú Nhuận (nay tọa lạc tại hẻm số 19 đường Hồ Văn Huê) và chôn hình nhân bằng sáp.
Tại đầu ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, hiện có ngôi đền thờ Võ Tánh mang tên là Võ Quốc Công Miếu.
—o—o—o—
TỔNG TRẤN GIA ĐỊNH (THỜI GIA LONG & MINH MẠNG)
Tổng trấn Thành Gia Định (hay còn gọi là Tổng trấn Gia Định Thành) là một chức quan vào thời nhà Nguyễn từ năm 1808 đến 1832, chịu trách nhiệm thay mặt vua trông coi toàn miền nam Việt Nam thời bấy giờ, gồm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh (sau được tách thành Vĩnh Long và An Giang) và Hà Tiên.
1. Nguyễn Văn Trương (thời gian tại nhiệm 1805 – 1808) : Người Quảng Nam, tướng nhà Tây Sơn về sau quy phục Nguyễn Ánh được bổ nhiệm vào Nam làm Lưu trấn Gia Định
2. Nguyễn Văn Nhơn, còn gọi là Quan lớn Sen (1808 – 1810) : Ông được xem là vị Tổng trấn đầu tiên của Gia Định Thành
3. Trương Tấn Bửu, còn gọi là Trương Tấn Long (1810 – 1812) Quyền Tổng trấn Gia Định Thành. Năm Canh Ngọ (1810), ông được bổ vào Gia Định, lãnh chức Quyền Tổng trấn, đến năm 1812, Lê Văn Duyệt được bổ vào làm Tổng trấn hiệp cùng ông làm Phó Tổng trấn Gia Định.
4. Lê Văn Duyệt, còn gọi là Đức Tả Quân (1812 – 1815)
5. Nguyễn Huỳnh Đức, (1815 – 1819) : Ông mất khi đang đương chức.
6. Nguyễn Văn Nhơn, còn gọi là Quan lớn Sen (1819 – 1820) : Nguyễn Huỳnh Đức qua đời đột ngột, một lần nữa ông được bổ vào Nam giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành.
7. Lê Văn Duyệt, còn gọi là Đức Tả Quân (1820 – 1832) : Năm 1820 ông được bổ vào Nam làm Tổng trấn thay Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất tháng 09 năm ngoái. Ông là vị Tổng trấn tại vị lâu nhất và cũng là vị Tổng trấn cuối cùng, chức vụ này cũng bị bãi bỏ sau khi ông qua đời.
NGŨ HỔ TƯỚNG GIA ĐỊNH
Ngũ hổ tướng Gia Định là danh hiệu người đời tặng cho năm vị danh tướng của Nguyễn Ánh gồm: Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Trương Tấn Bửu. Đây cũng là 5 người giữ chức tổng trấn Gia Đinh từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng.
1. Nguyễn Văn Trương : Nguyễn Văn Trương là người tỉnh Quảng Nam. Trước ông theo Tây Sơn nhưng về sau lại về theo Nguyễn Ánh và là vị tướng giỏi nhất về thủy chiến trong hàng ngũ quân Nguyễn Ánh. Ông là một trong các vị tướng chỉ huy quân Nguyễn Ánh đánh bại thủy quân Tây Sơn tại Thị Nại năm 1781. Ông mất năm 1810.
– Lăng mộ nằm trên khu gò xứ Tứ Tây, phường An Tây thuộc xã An Cựu cũ, TP.Huế
2. Nguyễn Văn Nhơn : Nguyễn Văn Nhơn là người huyện Vĩnh An, An Giang. Ông theo Nguyễn Ánh từ năm 1774 và tận tâm phụng sự ở cả vai trò một vị tướng lận vai trò tổng trấn Gia Định về sau. Ông mất năm 1822, thọ 70 tuổi.
– Mộ Nguyễn Văn Nhơn ở xã Tân Khánh Đông, Sa Đéc, Đồng Tháp
3. Lê Văn Duyệt : Tả quân quận công Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) là một công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông đã theo tòng chúa Nguyễn Phúc Ánh từ năm 17 tuổi, cùng với chúa Nguyễn Phúc Ánh và các tướng lĩnh khác lấy thành Bình Định, chiếm thành Phú Xuân, thâu đất Bắc Hà về cho nhà Nguyễn, giữ chức Tổng Trấn thành Gia Định 2 lần: từ 1813 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (đời vua Minh Mạng).
– Đền thờ và lăng mộ tên là Lăng Ông, số 1 đường Vũ Tùng (có cổng Tây tại số 126 đường Lê Văn Duyệt, phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh)
4. Nguyễn Huỳnh Đức : Nguyễn Huỳnh Đức (1748 – 1819) là danh tướng nhà Nguyễn, nguyên tên là Huỳnh Tường Đức nhờ lập được nhiều công lao nên được mang họ vua (quốc tính). Ngay từ lúc còn trẻ, ông đã có “dung mạo khôi ngô, khỏe mạnh hơn người, ai cũng coi ông là hổ tướng. Ông mất năm 1819.
– Đền thờ & lăng mộ ở Long An https://vi.wikipedia.org/…/Nguy%E1%BB%85n_Hu%E1%BB%B3nh…
5. Trương Tấn Bửu : Trương Tấn Bửu (1752 – 1827), theo Nguyễn Ánh từ năm 1778 (?), lập được nhiều chiến công trong cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh với Tây Sơn cũng như giữ vai trò chủ chốt chống các băng cướp ở Bắc Hà. Ông mất năm 1827, mai táng tại Gia Định.
– Đền thờ & lăng mộ ở đường Nguyễn Thị Huỳnh, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
TƯỚNG QUÂN TRẦN – THÀNH HOÀNG LÀNG AN KHÁNH THỦ THIÊM
—o—o—o—
THOẠI NGỌC HẦU (1761–1829) & CÔNG CUỘC ĐÀO KÊNH, ĐẮP ĐƯỜNG Ở VÙNG BIÊN GIỚI TÂY NAM
Thoại Ngọc hầu, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, là một tướng lĩnh nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, nhưng lại nổi tiếng là một người lập đất với các công trình được xem là cơ sở để người Việt đặt chủ quyền lâu dài trên vùng đất biên giới với Campuchia ngày nay
– Kênh Thoại Hà: khởi đào vào năm 1818, dài hơn 30 km, nối rạch Đông Xuyên (Long Xuyên) với ngọn Giá Khê (Rạch Giá). Đào xong được vua Gia Long đã cho phép lấy tên ông để đặt cho tên núi (Thoại Sơn) và tên kênh (Thoại Hà).
– Kênh Vĩnh Tế: đào theo biên giới Tây Nam nối liền Châu Đốc – Hà Tiên (tức nối sông Châu Đốc ra vịnh Thái Lan). Kênh dài hơn 87 km, huy động hàng vạn nhân công thực hiện từ năm 1819–1824 (có hoãn đào 4 lần). Con kênh được đặt tên theo tên vợ chính của ông, phu nhân Châu Thị Tế.
– Năm 1823, ông cho lập 5 làng trên bờ kênh Vĩnh Tế là Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia và Vĩnh Thông.Liên quan đến việc mộ dân lập làng của ông, sử nhà Nguyễn có đoạn chép: “Án thủ Châu Đốc là Thống chế Nguyễn Văn Thoại trước mộ dân dời đến ở đất biên thùy, đặt ra 20 xã thôn, vay của công 1.900 quan tiền và 1.500 phương gạo cho dân, đã hoãn nhiều năm, dân vẫn chưa trả được. Đến nay Thoại đem của nhà trả bù cho dân”.
– Năm 1825, ông cho đắp con đường từ Châu Đốc lên Lò Gò (tức thị trấn Angkor Borei ngày nay) – Sóc Vinh nối các làng với nhau rất tiện lợi trong việc đi lại cho nhân dân.
– Lộ Núi Sam–Châu Đốc, dài 5 km, làm từ năm 1826 đến 1827, huy động gần 4.500 nhân công. Làm xong, ông cho khắc bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” dựng tại núi Sam năm 1828 để kỷ niệm. Ngày nay, tấm bia không còn, nhưng còn văn bia trong sử sách.
—o—o—o—
Để kết nối dòng lịch sử với các nhân vật lịch sử trên nhưng trên góc độ khác, xin được trịch đăng lại bài viết “Nguồn gốc và lich sử nước Chân Lạp và dân tộc Khmer Krom” trên
Chân Lạp (hay Chenla) là một quốc gia cổ được hình thành ở trung tâm bán đảo Đông Dương bởi các dân tộc người Môn – Khmer vào khoảng đầu thế kỷ 5. Lãnh thổ ban đầu tương ứng với phần đất miền Trung và Nam Lào cùng với vùng Đông-Bắc Thái Lan ngày nay, thủ đô có lẽ là ở Champasak (thuộc Lào). Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kỳ đó là Champa ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam và Pyn (Miến Điện (Myanma) ở về phía Tây-Bắc. Chân Lạp lớn mạnh dần lên và lấn lướt dần Phù Nam (vương quốc ở phía Nam). Đến thế kỷ 6 họ đã xâm chiếm được miền Bắc của Phù Nam và đến đầu thế kỷ 7 họ tiêu diệt Phù Nam và hoàn toàn sát nhập vào lãnh thổ của mình.
Triều đại các vị vua của Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ “campu” bắt nguồn cho tên gọi của Campuchea sau này.
Vương quốc Chân Lạp tồn tại từ năm 630 đến 707 do nội chiến bị phân chia thành hai lãnh thổ là Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp. Thủy Chân Lạp tương ứng với khu vực đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam và miền Nam Campuchia ngày nay. Đầu thế kỷ 9, Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp sát nhập lại và mở ra thời kỳ huy hoàng của Đế quốc Khmer; nhưng sau đó suy yếu dần.
Trước khi nói tới nước Chân Lạp, chúng ta cần biết sơ lược về nhà Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam.
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì Nguyễn Kim khởi nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc đã lấy được đất Thanh (Hóa), Nghệ (Tĩnh) rồi; sau đem quân ra đánh Sơn Nam bị hàng Tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, binh quyền giao lại cho rể là Trịnh Kiểm. Nguyễn Kim có hai người con là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cũng làm tướng lập được nhiều công. Nguyễn Uông được phong làm Lang Quận Công, Nguyễn Hoàng được phong Thái Úy Đoang Quận Công. Trịnh Kiểm sợ họ Nguyễn tranh mất quyền mình bèn kiếm chuyện giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm cũng sẽ hại mình, cho người ra Hải Dương hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm được mách bảo: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, có nghĩa dẫy Hoành Sơn là chỗ yên thân được muôn đời. Nghe lời, Nguyễn Hoàng vận động với chị là Ngọc Bảo nhờ Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất phía Nam. Năm 1558, đời vua Anh Tông, Trịnh Kiểm mới tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa.
Năm 1611, Nguyễn Hoàng đem quân đánh nước Chiêm Thành lấy đất lập ra Phủ Phú Yên. Năm 1653 Nguyễn Phúc Tần chiếm đất Chiêm Thành tới Khánh Hòa ngày nay. Năm 1693, Nguyễn Phúc Chu đổi đất Chiêm Thành thành Thuận-phủ. Năm 1697 chúa Nguyễn đặt phủ Bình Thuận, lấy đất Phan Lý (Phan Rí) và Phan Lang (Phan Rang) làm huyện Yên Phúc và Hòa Đa. Từ thời điểm này nước Chiêm Thành bị xóa tên trên bản đồ.
Đối với Chân Lạp thì sau khi nhà Vua chết, tình trạng chú cháu tranh dành quyền hành xẩy ra. Phe thân Việt Nam chạy sang cầu cứu nhà Nguyễn. Nguyễn Phúc Hiền sai quan đem 3.000 quân đánh Mỗi Xuy (nay là Phước Thành, tỉnh Biên Hòa) bất được Nặc Ông Chân đem về Quảng bình giam, sau được thả với điều kiện phải triều cống và bênh vực người Việt đang làm ăn ở đất Chân Lạp. Năm 1674, Nặc Ông Đài cầu viện Tiêm La (Thái Lan) sang đánh Nặc Ông Chân. Nguyễn Phúc Hiền cho quân đánh Nặc Ông Đài, phá được đồn Sài Gòn, rồi tiến quân vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài bỏ chạy vào rừng, Nặc Ông Thu ra hàng. Vì thuộc dòng con trưởng Nặc Ông Thu được nhà Nguyễn cho làm chính Quốc vương đóng đô ở Long Úc. Nặc Ông Nộn làm đệ nhị Quốc Vương đóng tại Sài Gòn. Mỗi năm phải triều cống. Năm Mậu Dần (1698) Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Kính làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố ra làm dinh, huyện. Lấy đất Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình: đặt Trấn Biên Dinh (Biên Hoà) và Phan Trấn Dinh (Gia Định) sai quan vào cai trị.
Năm 1699 Nặc Ông Thu đem quân chống quân nhà Nguyễn. Quan Tổng suất Nguyễn Hữu Kính đem quân đánh tới thành Nam Vang. Nặc Ông Thu bỏ chạy, con là Nặc Ông Yêm ra hàng. Sau cả cha con họ Nặc đều qui phục và triều cống như thường. Năm 1705, Nặc Ông Thâm (con của Nặc Ông Thu) nghi Nặc Ông Yêm (con của Nặc Ông Nộn) có ý làm phản bèn đem quân đánh. Nặc Ông Thâm cầu viện Tiêm-la sang đánh khiến Nặc Ông Yêm phải cầu cứu nhà Nguyễn. Năm 1714, Nặc Ông Thâm từ Tiêm-la đem quân về đánh Nặc Ông Yêm ở La Bích; nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh tan và đưa Nặc Ông Yêm lên làm vua Chân Lạp.
Thời bấy giờ nội bộ Chân Lạp tiếp tục có loạn, các vương tôn tranh nhau ngôi báu. Mỗi dòng đều cậy nhờ quân Việt hoặc quân Xiêm vào giúp đỡ. Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị. Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam), nói chung là toàn bộ vùng biển ven duyên quanh đảo Phú Quốc, Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Thật ra đây là những vùng đất hoang, không người Khmer nào sinh sống tại đây vì sình lầy và lụt lội quanh năm. Võ vương sát nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.
Từ đó các lãnh thổ miền Tây được qui thành ba đạo: Đông Khẩu đạo (Sa Đéc), Tân Châu đạo (Tiền Giang) và Châu Đốc đạo (Hậu Giang). Long Hồ dinh được chuyển về Tầm Bào (Vĩnh Long) thuộc Châu Đốc đạo. Năm 1759, công cuộc bình định đất đai miền Nam xem như hoàn tất.
Như vậy đất 6 tỉnh Nam Việt bây giờ là đất của nước Chân Lạp xưa.
Cộng đồng người Khmer tại miền Nam hiện nay khoảng 1,2 triệu người, đa số (90%) sinh sống trên lãnh thổ các tỉnh Cửu Long, Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang và Minh Hải, số còn lại sinh trú và lập nghiệp quanh Sài Gòn và Tây Ninh. Dân tộc Khmer Krom hay Khơ Me Crộm là bộ phận dân tộc Khmer sống ở VN. Người Khmer được phân chia thành hai hệ, đó là Khmer Krom, sống ở Việt Nam, và Khmer Leu, sống ở Campuchea. “Krom” và “Leu” là phiên âm tiếng Việt của Khmer, có nghĩa là “Dưới” và “Trên”.
Phần lớn người Khmer là Khmer Leu, sống tập trung ở Campuchia. Phần còn lại, Khmer Krom, sống ở đồng bằng sông Cửu Long thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre. Tiếng nói và chữ viết của người Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Khmer là từ được viết theo phiên âm tiếng Anh thường thấy trong. Tiếng Việt phiên âm chữ này thành Khờ Me hay Khơ Me. Từ Khmer được phiên qua tiếng Hán thành Cao Miên, gọi tắt là Miên. Do đó một số người Việt còn gọi dân tộc này là dân tộc Miên.
—o—o—o—
Lịch sử Nam tiến
Chia sẻ:
Scroll to Top