NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Loading

Tên : Nguyễn Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ, được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử

– Tuyết Giang là Hàn Giang (Hàm Giang), Kim Giang, nay đều goi chung là sông Thái Bình
– Vùng đất Vĩnh Bảo là vùng Am với các đia danh như Cổ Am, Tiên Am, Hội Am, Nghĩa Am, Bào Am, Trung Am, Thượng Am, Hạ Am, Nam Am, Tây Am, Đông Am, Hâu Am, Liên Am …
Năm sinh – Năm mất : 13 tháng 5, 1491 – 28 tháng 11, 1585 (94 tuổi)
Nơi sinh : ở làng Trình Tuyền, sau đổi thành Cổ Am, rồi lại đổi thành Trung Am
– Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng, Việt Nam
– Sấm Trạng Trình : Minh Mạng thập tứ. Thằng Trứ phá đền. Phá đền phải làm đền. Nào ai động đến doanh điền nhà bay.
Cha : Nguyễn Văn Định
– Mộ Thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng (cùng khu vực với di tích Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm).
– – – Lăng mộ cùng cha mẹ ở Nam Tử, Kiến Thiết, Tiên Lãng, Hải Phòng
– – – Lăng mộ Tiến sỹ Thượng Thư Nhữ Văn Lan, MGWM+M6, Kiến Thiết, Tiên Lãng, Hải Phòng, Việt Nam
– Bà ngoại
– – – Lăng mộ cùng chồng và con gái ở Nam Tử, Kiến Thiết, Tiên Lãng, Hải Phòng
Vợ : 3
– Ba người vợ được thờ ở đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng, Việt Nam
– Bố vợ : Dương Đức Nhan, đền thờ Tiến sĩ Dương Đức Nhan tại thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, Vĩnh Bảo, Hải Phòng và làng Hoa Am, sau đổi thành Thanh Am, bên sông Đuống nên còn được gọi là làng Đuống (https://vi.wikipedia.org/…/D%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BB…)
Con : 12 (7 con trai)
– Người con trai út của ông về giữ nhà thờ ở quê của bà ngoại ở Nam Tử
Thày : Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều (thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là Thái Ất thần kinh
– Mộ và đền thờ ở Nam Hội Triều, xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Bạn thân : Trạng nguyên Giáp Hải (1515–1586)
Học trò
– Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (em trai cùng mẹ khác cha theo lời đồn)
– Nguyễn Dữ (Truyền Kỳ Mạn Lục)
Tác phẩm
– Bạch Vân am thi tập (thơ chữ Hán),
– Bạch Vân quốc ngữ thi tập (thơ chữ Nôm)
– Sấm Trạng Trình
– Ngọc phả Tản Viên Sơn Thánh
Công trình : Quán Trung Tân, cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện và mở trường dạy học cạnh sông Tuyết (còn có tên là sông Hàn).
QUỐC HIỆU VIỆT NAM
Dù quốc hiệu Việt Nam lần đầu xuất hiện vào năm 1804, thời vua Gia Long nhưng trong sử sách đều thừa nhận người dự đoán về cái tên Việt Nam đầu tiên chính là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các nhà sử học liệt kê được rằng ông đã có 4 lần sử dụng danh xưng Việt Nam khi nhắc về đất nước.
– Trong phần đầu của tập “Sấm ký” có tựa đề “Trình tiên sinh quốc ngữ”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mở đầu bằng câu: “Việt Nam khởi tổ xây nền…”.
– Trong bài thơ chữ Hán “Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh” (Vịnh về non sông đất nước Việt Nam), ông đã thể hiện rõ tên hiệu của nước ta trên điêu đề bài thơ.
– Trong hai bài thơ chữ Hán được chép trong “Bạch Vân am thi tập”, ông cũng nhắc đến hai chữ Việt Nam, cụ thể:
– – Trong bài thơ gửi Trạng nguyên, Thư Quốc công Nguyễn Thiến, hai câu cuối Trạng Trình viết: “Tiền trình vĩ đại quân tu ký/ Thùy thị phương danh trọng Việt Nam” (Tiền đề rộng lớn ông nên ghi nhớ/ Ai sẽ là kẻ có tiếng thơm được coi trọng ở Việt Nam?).
– – Trong bài thơ gửi Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải, ông cũng kết bằng 2 câu thơ: “Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại/ Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam” (Cùng ngửa trông ngôi sao sáng trên bầu trời, Trước sau soi ánh sáng rực rỡ vào nước Việt Nam).
CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG.
Trong bài thơ Cự Ngao Đới Sơn, thuộc tập thơ Bạch Vân am thi tập, ông viết: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình/ Chí những phù nguy xin gắng sức/ Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình”. Với con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.
CHIẾN LƯỢC NHÂN SỰ TRÊN CÁC VÙNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM TỪ THỜI MẠC
– Nhà Mạc : Lúc triều nhà Mạc suy vong sau nhiều năm nội chiến với quân Trịnh, thế cùng, vua Mạc sai người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đã nói rằng: Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời). Nhà Mạc nghe theo lời ông, dời đô về đất Cao Bằng, truyền được thêm hơn 80 năm nữa.
– Vua Lê : Trước khi qua đời, ông còn dâng sớ lên vua Mạc: “… Thần tính độ số thấy vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo. Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng được thỏa lòng”.
– Chúa Nguyễn : Giúp chúa Nguyễn cát cứ ở Thuận Hóa (Hoành Sơn) để phát triển sự nghiệp. Năm 1545, Nguyễn Hoàng khi đó thấy anh trai là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm hại chết, nên lo lắng cho tính mạng của mình, liền sai người đến xin ý kiến Trạng Trình. Trạng Trình dắt sứ giả của Nguyễn Hoàng ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và bảo: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời. Hiểu được ngầm ý ấy, Nguyễn Hoàng bèn nhờ chị gái xin anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa (từ đèo Ngang trở vào). Nhờ đó, Nguyễn Hoàng không chỉ thoát được họa diệt thân, mà còn tạo dựng nên được nền móng cho cơ đồ hàng trăm năm của nhà Nguyễn ở Đàng Trong.
– Chúa Trịnh : Bấy giờ, tại Thăng Long, chúa Trịnh sau khi nắm hết quyền bính trong tay, đánh dẹp các thế lực đối kháng, cũng ra sức ức hiếp vua Lê, muốn ngồi lên ngôi báu. Tuy nhiên, chúa sợ lòng dân không theo sẽ dẫn tới diệt vong như nhà Mạc nên cho người hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình lẳng lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư “giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”, ngụ ý khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền hành sẽ giữ được, nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh đao. Câu nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giúp cơ nghiệp nhà Hậu Lê tiếp tục được giữ vững đến tận năm 1788. Nhà Trịnh dù không chính thức ngồi lên báu nhưng nắm được thực quyền trong tay, làm chủ Đàng Ngoài tới hơn 300 năm. Nhân dân cũng tránh khỏi những đợt can qua “nồi da nấu thịt”, chiến tranh chia lìa.
– Nhà Sơn Tây :
– Nhà Nguyễn
– Nam Đàn sinh Thánh : Đã từ lâu, ở nhiều địa phương trên cả nước, nhất là vùng Nghệ Tĩnh, người ta đã lưu truyền những câu sấm của Trạng Trình như sau: Đụn Sơn phân giải/Bò Đái thất thanh/Thủy đáo Lam thành/Nam Đàn sinh thánh”. Tạm dịch nghĩa là: “Khi núi Đụn chẻ đôi, khe Bò Đái mất tiếng, sông Lam khoét vào chân núi Lam Thành, đất Nam Đàn sẽ sinh ra bậc thánh nhân”. Trong một cuộc gặp giữa cụ Phan Bội Châu, học giả Đào Duy Anh, và nhà nho Trần Lê Hữu, nội dung cuộc đối thoại chỉ xoay quanh tình thế nước nhà và tương lai sẽ ra sao, Trần Lê Hữu có hỏi: “Thưa cụ Phan, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!”. Phan Bội Châu đáp: “Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ra thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác”.
—o—o—o—
NGUYỄN BỈNH KHIÊM & CÁC ĐỊA DANH AM
BẠCH VÂN AM CƯ SỸ
Ca dao có câu
Trồng một cây, xây một am
Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu là Bạch Vân am cư sĩ, có cuộc đời gắn với các địa danh Am.
AM BẠCH VÂN
Trường dạy học đầu tiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm lập ở Cổ Am tên là Am Bạch Vân.
CỔ AM
Cổ Am là đất sinh danh nhân, đây là nơi sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đông có Cổ Am
Nam có Hành Thiện
Gà Tò, lợn Tó, vó Vạn Đồn, lồn Cổ Am, cặc Hành Thiện
Trai làng Ngái gái Cổ Am
Thà rằng chẳng biết cho cam
Biết rồi kẻ Bắc ngưới Nam thêm rầu.
Lồn Cổ Am
Cam Đồng Dụ
Vú Đồ Sơn
TRUNG AM
Đền thờ Trạng Trình còn gọi là đền Trung Am
Lăng mộ cha của Trạng Trình
CÁC ĐỊA DANH AM Ở HUYỆN VĨNH BẢO
– Cổ Am : Đây là xã nổi tiếng về khoa bảng. Đình Phần (Di tích kiến trúc nghệ thuật), Đền Cổ Am thờ Tô Hiến Thành. Đây là nơi sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm
– Liên Am : Xã Liên Am, Xã Vĩnh Tiến xưa có làng Tiên Am, nơi có Chùa Tiên Am (Đông Pha Tự) là di tích cách mạng.
– Thượng Am – Trung Am – Hạ Am
– Hội Am (thuộc Cao Minh) : Xã Cao Minh có khu vực Hội Am, nơi có đền thờ Danh y Đào Công Chính.
– Bào Am (thuộc Ngãi Am)
– Tiên Am (xã Vĩnh Tiến)
– Dương Am
– Tiền Am – Hậu Am
– Lãng Am,
– Đông Am, Tây Am… tạo nên một nét văn hóa độc đáo, gắn liền với truyền thống khoa bảng và các di tích lịch sử như Đình Phần (Cổ Am), Chùa Tiên Am (Vĩnh Tiến), Đền thờ Tô Hiến Thành (Cổ Am).
Các địa danh tiêu biểu có chữ “Am”:
Xã Cổ Am: Nổi tiếng là đất “khoa bảng”, nơi có
Các làng, xã ở Vĩnh Bảo trước năm 1838 thuộc các huyện Vĩnh Lại (từ đời Trần về trước gọi là Đồng Lợi. Thời thuộc Minh, để châu Hạ Hồng quản lãnh, thuộc phủ Tân An. Đầu đời Lê đổi tên là Đồng Lại. Năm Quang Thuận, đổi tên thành Vĩnh Lại) và Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi phủ Hạ Hồng thành phủ Ninh Giang. Năm Minh Mạng 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, cả nước có 31 tỉnh, trấn Hải Dương đổi thành tỉnh Hải Dương, còn gọi là tỉnh Đông.
“Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Phủ Ninh Giang: ở cách tỉnh thành (tỉnh Hải Dương) 41 dặm về phía Đông Nam, Đông Tây cách nhau 46 dặm, Nam Bắc cách nhau hơn 23 dặm… Xưa gọi là Hồng Châu, cuối đời Trần gọi là châu Hạ Hồng; thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV) để như cũ, thuộc phủ Tân An, đời Lê Quang Thuận (1460-1469) đặt làm phủ; năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi thành Ninh Giang, lãnh 4 huyện. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đặt phân phủ. Năm thứ 19 (1838), tách huyện Thanh Miện cho đổi lệ vào phủ Bình Giang, đặt thêm huyện Vĩnh Bảo”. Cũng trong sách này viết: “Huyện Vĩnh Bảo: nằm ở phía Đông Nam; Đông Tây cách nhau 15 dặm, Nam Bắc cách nhau 30 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Tiên Minh phủ Nam Sách 5 dặm; phía Tây đến địa giới huyện Phụ Dực, tỉnh Nam Định 12 dặm; phía Nam đến cửa biển Thái Bình 20 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Tứ Kỳ 10 dặm. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), cắt 3 tổng Thượng Am, Đông Am, Ngãi Am thuộc huyện Vĩnh Lại và 5 tổng An Bồ, Viên Lang, Đông Tạ, Bắc Tạ, Can Trì thuộc huyện Tứ Kỳ thành lập huyện này và đặt chức Tri huyện. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) bỏ tri huyện, do phủ kiêm nhiếp. Lãnh 8 tổng, 67 xã, thôn, huyện lỵ ở tại xã Đông Tạ”.
Đến 21/3/1890, khi tỉnh Thái Bình được thành lập, phần đất từ sông Hoá đến sông Thái Bình của Vĩnh Lại được sáp nhập vào Vĩnh Bảo. Từ đó, Vĩnh Bảo được mở rộng tới 11 tổng, 92 xã, thôn:
1. Tổng Thượng Am gồm 6 xã: Thượng Am, Hậu Am, Liên Khê (Liêm Khê), Tiền Am, Trung Am, Lãng Am.
2. Tổng Đông Am gồm 7 xã: Đông Am, Hội Am, Tây Am, Vạn Tuyền (Vạn Hoạch), Đông Lại, Cổ Am, Liễu Điện.
3. Tổng Ngải Am (Ngãi Am) gồm 7 xã: Ngãi Am, Dương Am, Hàm Dương, Lôi Trạch, Tiên Am, Bào Am, Nam Am.
4. Tổng Kê Sơn gồm 10 xã, thôn: Kê Sơn, Nhân Mục, An Biên, Nhân Giả, Mai Sơn, Từ Đường, Cựu Điện, Tứ Duy, Hoàng Kênh, Kênh Trạch.
5. Tổng An Lạc gồm 7 xã: An Lạc, Linh Đông, Linh Động, Thâm Động, Quán Khái, Phần Thượng, Hà Cầu.
6. Tổng Hạ Am gồm 8 xã: Hạ Am, Lương Trạch, An Quý, Cúc Thuỷ, Hà Dương, Thanh Khê, Địch Lương, Cống Hiền.
7. Tổng Yên Bồ gồm 9 xã: Yên Bồ, Cự Lai, Đan Điền, Đồng Quan, Nội Thắng, Xuân Bồ, Kim Ngân, Quý Xuyên, Tranh Nguyên.
8. Tổng Bắc Tạ gồm 16 xã, thôn: Bắc Tạ, Trung Tạ, Nội Tạ, Lô Đông, Áng Dương, Áng Ngoại, Xuân Cốc, Nghĩa Lý, Phương Đường, Uy Nỗ, Hà Hương, Kênh Hữu, Nhân Lễ, Tường Vân, Trúc Hạp, thôn Thượng Đồng và Hạ Đồng thuộc sở Tây Tạ.
9. Tổng Viên Lang gồm 9 xã: Viên Lang, Cung Chúc, Đông Lôi, An Lạc, Nghiêu Quan, Tẩm Thượng, An Cầu, Lục Kênh, Thiết Tranh.
10. Tổng Đông Tạ gồm 6 xã: Đông Tạ, Cao Hải, Liễn Thâm, An Ngoại, Nội Đan, Nam Tạ.
11. Tổng Can Trì (Hu Trì) gồm 7 xã, thôn: Hu Trì, Kinh Trì, Cúc Bồ, Ngọc Đồng (Ngọc Đòng), An Trì, Đông Quất, Lễ Hiệp.
Các làng cổ thuộc các Tổng xưa:
– Tổng Thượng Am: Thượng Am, Hậu Am, Liên Khê (Liêm Khê), Trung Am, Lãng Am.
– Tổng Đông Am: Đông Am, Hội Am, Tây Am, Cổ Am, Liễu Điện.
– Tổng Ngãi Am: Ngãi Am, Dương Am, Hàm Dương, Lôi Trạch, Tiên Am, Bào Am, Nam Am.
– Tổng Hạ Am: Hạ Am, Lương Trạch, An Quý, Cúc Thủy, Hà Dương, Thanh Khê, Địch Lương, Cống Hiền.
VĨNH AM
Xã Vĩnh Am có vị trí địa lý:
– Phía bắc giáp xã Tân Minh với ranh giới tự nhiên là sông Thái Bình.
– Phía nam giáp tỉnh Hưng Yên.
– Phía đông giáp xã Nguyễn Bỉnh Khiêm.
– Phía tây giáp xã Vĩnh Bảo và xã Vĩnh Hải.
HOA AM – THANH AM (LÀNG ĐUỐNG) Ở ĐẦU SÔNG ĐUỐNG
Dương Đức Nhan, bố vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là người ở xã Hà Dương, tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Ông là học trò của Thám hoa Lương Nhữ Học. Năm Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, Dương Đức Nhan thi đỗ Tiến sĩ, làm quan trải đến chức Hữu thị lang bộ Hình, tước “Dương Xuyên hầu”. Vào năm 1501 ông về trí sỹ tại quê và hưng công Hoa Am (chùa Am). Bốn chục năm sau con rể ông là Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy tên Hoa Am đặt cho làng ven sông Đuống là Hoa Am. Đến thời Thiệu Trị đổi thành Thanh Am. Đây có thể coi là làng Am thứ 19 của lục tổng khu dưới Vĩnh Bảo. Làng Thanh Am nay thờ Trạng Trình là thành hoàng làng.
AM TRẠNG TRÌNH Ở THẬP TAM TRẠI
Am Trạng Trình ở Hoàng Hoa Thám, nằm ngay trước cửa đình Vĩnh Phúc, nơi ở và nơi mất của ông Hoàng Lệ Mật, người lập nên Thập Tam Trại, gần đó có núi Cung, là cung điện ngày xưa của Công chúa Cả, người đã mất trên sông Đuống và được ông hoàng Lệ Mật vớt lên, sau đó được vua ban thưởng đất để lập Thập Tam Trại.
Am Trạng Trình, còn gọi là đền Vĩnh Khánh, nằm trong cụm đình, chùa, đền Vĩnh Khánh ở ngõ 189 hoặc ngõ 267 phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chia sẻ:
Scroll to Top