![]()
CHỮ “ĐÀO” CỦA QUỶ CỐC TIÊN SINH
Đang đọc truyện Kiều, ta ngủ mơ gặp Hội Chủ, là một vị Chúa Cát, Tiên Cát. Vị Mộng Thần này nói rằng ta cần gặp Thần Bói. Ta nghĩ ngay đến cặp đôi Người Cát & Lucifer trong phim Sandman, thầm nghĩ bụng vụ này có mơ vẫn là vượt quá sức.
Trong đêm Cốc Vũ đó, ta đang ngủ mê mệt, thì bỗng gặp Quỷ Cốc Tiên Sinh. Trong mơ, ta vội sụp xuống quỳ lậy : “Con nghe danh Quỷ Cốc Tiên Sinh từ lâu, con biết thầy vẫn luôn ẩn hiện, ngầm đứng đằng sau bao nhiêu tiên tri, thày bói và những người sự kiện xoay chuyển thế gian. Con xin thày chỉ dạy cách xem bói, để con tự biết phải làm gì trong đời, nhưng hôm nay con chỉ xin thầy cho con trước một chữ”.
Tỉnh dạy nhớ lại giấc mơ đêm qua, ta biết Quỷ Cốc Tiên Sinh cho chữ “Đào”.
Mấy năm vừa qua, ta đã “đào ao”, “đào giếng”, “đào hố”, “đào lỗ”, “đào củ” … chung quy đều là “đào đất”. Những thực hành “đào” đó đều có tính kiến tạo, cho cá nhân ta về đất, chạm vào đất, như về với lòng mẹ.
Khi tự mình đào đất, ta mới thấy “đào đất” là bản năng của tất cả vật nuôi trong nhà như chó, mèo, gà, và cả những con vật sống chui lủi trong nhà như chuột, rắn, kiến, mối, ve …. Bản năng đó cực kỳ mạnh mẽ liên quan đến kiếm ăn, lẩn trốn, làm tổ, sinh con.
Khi tự mình đào đất, ta mới hiểu sự vĩ đại mà bình dị của những người dân đã “đào hầm”, “đào địa đạo” ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam trong chiến tranh du kích.
Giấc mơ đêm qua cho nhắc ta về một trạng thái “đào” khác đối xứng mà vẫn liên quan đến sinh tồn là “đào tẩu”, “đào thoát”, “đào ngũ”. “Đào đất”, “đào ao”, “đào giếng”, “đào hầm” … là đào để trở về, đào để ở lại, đào để phát triển. “Đào tẩu”, “đào thoát”, “đào ngũ” là đào để trốn, đào để chuồn “trong 36 chước, chước chuồn là hơn” của Binh pháp Tôn Tử (Tôn Tử là một học trò của thày Quỷ Cốc Tiên Sinh).
“Đào chuồn” là để thoát khỏi biên, ra khỏi biên tổ chức/hệ thống áp đặt lên một cá thể, mà vô tình hay cô ý, tự nguyện hay bắt buộc phải ở trong sự kiểm soát của tổ chức đó. Với tổ chức, “đào” là vận hành xấu xa của các cá thể hư hỗn thậm chí nguy hiểm, dám chạy trốn khỏi sự kiểm soát của hệ thống và đe doạ sự an toàn của hệ thống. Với cá thể, đào là bản năng sinh tổn cơ bản khi cá thể bị nghiền nát và đóng khung trong hệ thống, buộc phải chạy trốn nếu không muốn bị chết cứng.
Câu hỏi quan trọng với ta là ta cần “đào tẩu”, “đào thoát”, “đào ngũ” như thế nào và khỏi cái gì; và ngược lại ta cần “đào tổ” của mình như thế nào và ở đâu ?
“Đào tường”, “đào ngạch”, “đào khoét”, “đào ngạch khoét vách”, “cha đào ngạch, con xách nồi” mô tả thói quen trộm cắp, mà có thể truyền theo dòng máu từ cha đến con. Trạng thái “đào” này cũng liên quan đến phá biên của người khác, mà đã bị khoá, ta cần vào để rồi lại ra ngay. Giả sử thân ta, nhà ta, đất ta có của quý, liệu ta có biết ai đang “đào khoét” ăn cắp đồ của ta. Giả sử đồ quý của ta đang bị cất giấu đâu đó, liệu ta có biết cách “đào ngạch khoét vách” của người để lấy lại đồ của ta, mà nếu lấy lại về rồi, liệu chúng có lại bị kẻ khác “đào tường” lấy đi hay không ?
“Đào mồ”, “đào mả” là đào lên cái đã được lấp lại để bảo vệ, phá cũng là phá biên ăn trộm nhưng là phá biên và ăn trộm của người đã mất.
“Đào mỏ” theo nghĩa đen là đào đất lấy ra than và quặng kim loại quý như vàng, bạc, đồng, thiếc. “Đào mỏ” vẫn giống với đào ao, đào giếng, chỉ có điều cái lấy ra là chất rắn chứ không phải chất lòng. “Đào mỏ” theo nghĩa bóng vẫn là chui vào biên, phá hầu bao của người khác, để rút tiền bạc ra cho chảy vào hầu bao của mình, biên của mình, thân của mình. Nếu chúng ta tự nhận thức mình là những kẻ cắp của Trái đất, thì việc đào mỏ này vẫn là đào ngạch, đào khoét mà thôi.
“Đào hoa” theo nghĩa đen phá biên của bông hoa. Bông hoa bình thường mong manh vậy làm sao mà phải đào, làm sao mà cần đào ? Bông hoa cần phá biên, cần chui vào bên trong với một người đàn ông là người đàn bà, nhất là đàn bà đẹp. Người đàn ông đào hoa là người đàn ông có bản năng, có khả năng phá huỷ biên, chui vào cái biên của người con gái đẹp, để rút cái gì đó ra, cho cái gì ở lại, hoặc làm cho người con gái đẹp mà hỏng biên ấy rơi vào biên của mình, dính mắc vào biên của mình, bị kiểm soát trong biên của mình. Đấy là nghĩa gốc của “đào hoa”.
Thuý Vân Thuý Kiều là hai bông hoa, lại giả vờ nép dưới hoa khi gặp chàng Kim Trọng
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Kim Trọng có thể chính là một chàng đào hoa, chàng tìm hoa, mà thấy Kiều và Vân, người là hoa lan xuân, người là hoa cúc thu, đều mặn mà xứng đáng để đào cả.
Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm dấu, thầm yêu chốc mòng.
May thay giải cấu tương phùng,
Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc, mặn mà cả hai.
“Đào nguyên” thường được hiểu nước suối nguồn, nước nguyên thuỷ, nước nguyên gốc, nước nguyên vẹn, đào ra từ xứ sở, từ mẹ Trái đất. Nước đào nguyên là nước đi qua biên xứ sở, mà vẫn giữ được sự nguyên vẹn. Nước này thường gắn với sự khởi đầu của một chu kỳ.
Đào Nguyên còn được cho là một cảnh thượng giới, tiên cảnh, mà gắn với hoa đào.
“Hoa đào” là hoa xuân, hoa Tết, hoa rơi rụng cánh lả tả, hoa phá biên, để đưa một vận hành xuyên qua biên cũ của một chu kỳ cũ, mở ra một biên mới của một chu kỳ mới. Hoa đào là hoa rất đời, với nghĩa đời là bể khổ, với bể là phá, khổ là biên. Linh hồn đi vào đầu thai, đi vào đời là để phá hết cái biên này đến cái biên khác, bể hết cái khổ này đến cái khổ khác, trên con đường hoặc là trưởng thành, hoặc là suy chết.
“Đào tiên” là đào của Tây Vương Mẫu.
Đào là màu hồng. Thủa hồng hoang là thủa quần cư ban đầu, theo sau hỗn mang, hư vô. Nếu coi hỗn mang và hư vô là trạng thái biên khởi phát, thì đào là vận hành xuất phát, đi ra từ cái bao hỗn mang, hư vô này.
Vậy tất cả các nghĩa của “đào” đều là tạo ra một vận hành đi biên, xuyên biên, phá biên, để đưa cái gì đó bao gồm chính mình vào trong biên hoặc ra ngoài biên.
Câu hỏi với ta vẫn là cái biên, cái khổ, đoạn trường đời nào cần giữ để trụ vững, cái biên nào, cái khổ, đoạn trường đời nào cấn phá để trưởng thành.
—o—o—o—
ĐÀO NGUYÊN & CỐC VŨ
Câu hỏi là “Đào” liên quan gì đến Mùa xuân, đến Cát, đến Cốc, đến Quỷ, đến Cốc Vũ và Quỷ Cốc Tiên Sinh ?
Đào liên quan gì đến mùa xuân ? Hoa đào nở vào mùa xuân, hoa đào là một biểu tượng của mùa xuân. Đây là hoa Tết mà trạng thái đặc trưng là các cánh hoa rơi rụng lả tả, ly tâm, phân tán, phá biên, khác hẳn cánh hoa cúc khi tàn vẫn ở trong biên và thu về tâm như hoa cúc. Đó chính là trạng thái khởi phát, bung lụa của mùa xuân, của sự khởi đầu chu kỳ.
Đào liên quan gì đến cát ? Mùa xuân cắm hoa đào, cùng lời chúc “vạn sự cát tường”. “Đào” chính là vận hành của “cát”, “đào” chính là “đạo” của “cát”, “cát” chính là “hạnh” của “đào”. “Đào” là vận hành tạo nên sự “cát tường”, với “cát” là trường hạt, trường cá thể, độc lập về cấu trúc và vận hành, mà tạo nên trạng thái gốc của vũ trụ vạn vật gọi là “hỗn mang” hoặc “hư vô”. Hư vô và hỗn mang tiếng Anh là Chaos, và trong Hy Lạp Thần Chaos được cho là Thần Sáng tạo, mà sinh ra mẹ Trái đất, Chaos có trước các vị thần Olympic, đại diện một trật tự rất muộn mằn và rất phiến diện so với Chaos. “Hư vô”, “hỗn mang” thường được hiểu là không có trật tự, là vô trật tự (disorder). Một đứa trẻ không có trật tự là đứa trẻ hư, đứa trẻ hỗn. Sự hư hỗn của một đứa trẻ có thể được quan sát, đánh giá từ một vị thế cực kỳ thấp kém và phiến diện trong trật tự sáng tạo của Thượng đế. Vũ trụ ở điểm khởi đầu chính là đứa trẻ hư, đứa trẻ hỗn, và hư hỗn chính đối với hệ thống lại chính là động lực của sáng tạo cá nhân.
Đào liên quan gì đến cốc ? Cốc là cái am tu hành của một cá nhân, cốc là một dụng cụ nhỏ đựng nước hoặc các dạng hạt có thể chảy được như nước, cốc là hạt giống ngũ hành (ngũ cốc). “Cốc” là một hạt cát mà cũng là một trường cát. Cốc là trường hạt ở trạng thái hư, nói cách khác chính là hư không.
Đào nguyên liên quan gì đến Cốc Vũ ? Đào nguyên là dòng chảy từ nguồn, mà luôn mang theo hai thứ là nước và cát. Đào nguyên là dòng vận hành nguyên thuỷ, nước cát đầu tiên, tạo ra từ hư vô và hỗn mang. Cốc Vũ có thể hiểu là vũ điệu hư không, vũ điệu hỗn mang, vũ điệu mùa xuân của Đấng sáng tạo, vũ điệu đào nguyên. Cốc Vũ chính là trật tự của hư vô, của hỗn mang, của Đấng Sáng tạo. Cốc Vũ là Bigbang của vũ trụ. Cốc thường được hiểu là hạt giống, trong nghĩa ngũ cốc. Cốc là hạt giống mà Thượng đế tung ra vào mùa xuân, với vũ điệu phá biên, bể khổ để bắt đầu (ngược với mùa đông là thời khắc khép biên, đóng khổ để kết thúc).
Đào liên quan gì đến quỷ ? Có câu xuất quỷ, nhập thần. Thần Phật mạnh về nhập đinh, nhập diệt. Quỷ mạnh về xuất bao gồm xuất biên, xuất sinh. Đào chính là vận hành xuất biên, phá biên, để bắt đầu sinh trưởng.
Đào liên quan gì đến Quỷ Cốc Tiên Sinh ? Quỷ Cốc là một vị Quỷ Thần bảo vệ Cốc, một tiểu xứ sở cát, giống như Thần Tài và Thổ Địa của một mảnh đất của mẹ Trái đất. Quỷ Cốc Tiên Sinh là vị Quỷ Cốc, vị Thần Tiên đầu tiên và đứng đầu trong các vị Quỷ Cốc.
—o—o—o—
QUỶ CỐC TIÊN SINH
Quỷ Cốc Tử (tiếng Trung: 鬼谷子), tự là Hủ (诩), đạo hiệu Huyền Vi Tử (玄微子), hay Quỷ Cốc tiên sinh, Vương Thiền lão tổ, là một chính trị gia, nhà ngoại giao, âm dương gia, nhà tiên tri và nhà giáo dục có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn giữa thời Chiến Quốc. Ông được xem là ông tổ của Tung Hoành gia và là một trong những “bách gia chư tử”.
Quỷ Cốc Tử sinh ra vào thế kỷ 4 TCN. Tương truyền, ông tên thật là Vương Hủ (王诩). Có tài liệu còn gọi ông là Vương Thiền (王禅), Vương Lợi (王利) hay Vương Thông (王通).
Có nhiều giả thuyết về xuất thân của Quỷ Cốc Tử. Có thuyết nói ông là người nước Vệ (huyện Kỳ, Hà Nam); có thuyết lại nói là người đất Nghiệp nước Ngụy (Lâm Chương, Hà Bắc); hoặc là người Đan Thành nước Trần (huyện Đan Thành, Hà Nam); hoặc là người Vân Dương quan nội giáp Hán Thủy (huyện Thạch Tuyền, Thiểm Tây).
Tương truyền, trong số học trò của Quỷ Cốc Tử có bốn người Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Tô Tần, Trương Nghi.
– Bàng Quyên, nhà quân sự hoạt động vào giữa thời Chiến Quốc (thế kỷ 4 TCN), danh tướng nước Ngụy, một trong những nhân vật chính trong câu chuyện Tôn – Bàng đấu trí. Bàng Quyên từng vì đố kị mà hãm hại bạn đồng môn là Tôn Tẫn, chặt xương đầu gối, thích lên mặt, khiến ông (Tôn Tẫn) phải trốn sang nước Tề. Năm 354 TCN trong trận Quế Lăng bị Tôn Tẫn bắt rồi được thả, năm 342 TCN, tại trận Mã Lăng bị Tôn Tẫn đánh bại mà tử trận.
– Tôn Tẫn, nhà quân sự hoạt động vào giữa thời Chiến Quốc (thế kỷ 4 TCN), nhân vật tiêu biểu của binh gia, tác giả cuốn “Binh pháp Tôn Tẫn”. Năm 354 TCN trong trận Quế Lăng bắt được Bàng Quyên rồi thả, năm 342 TCN tại trận Mã Lăng đánh bại và giết chết Bàng Quyên.
– Tô Tần, người Thừa Hiên Lý, Lạc Ấp (nay ở phía đông Lạc Dương, Hà Nam), Tung Hoành gia nổi danh thời Chiến Quốc, đề xướng hợp tung (liên hợp sáu nước đối phó nước Tần).
– Trương Nghi, người An Ấp nước Ngụy (nay là huyện Hạ, Sơn Tây), Tung Hoành gia nổi danh thời Chiến Quốc. Ông đã đề xướng liên hoành, (nước Tần liên hợp các nước chư hầu chống lại các nước chư hầu khác), nhiều lần phá hoại hợp tung của Tô Tần (liên hợp sáu nước đối phó nước Tần), được Tần Huệ vương trọng dụng, sau này làm thừa tướng nước Tần, tướng quốc nước Ngụy. “Chiến Quốc tung hoành gia thư” ghi lại cuộc đối đầu của Trương Nghi với Công Tôn Diễn, người đề xướng hợp tung thời bấy giờ.
Giả thuyết sư phụ Tôn Tẫn và Bàng Quyên là Quỷ Cốc Tử bắt nguồn từ tiểu thuyết lịch sử như “Đông Chu liệt quốc chí” và “Tôn Bàng đấu chí diễn nghĩa”, chính sử không có ghi chép; còn giả thuyết sư phụ Trương Nghi và Tô Tần là Quỷ Cốc Tử căn cứ theo ghi chép tại “Sử ký – Tô Tần liệt truyện” và Sử ký – Trương Nghi liệt truyện. Căn cứ năm hoạt động và năm tử vong của bốn học trò, năm sống của Quỷ Cốc Tử trong khoảng thế kỷ 4 TCN.
Theo “Chiến Quốc tung hoành gia thư” được khai quật trong mộ Hán ở Mã Vương Đôi, Trường Sa năm 1973, Tô Tần chết năm 284 TCN, Trương Nghị chết năm 310 TCN, có khả năng sách lược liên hoành của Trương Nghi là để đối phó với sách lược hợp tung của Công Tôn Diễn, chứ không phải hợp tung của Tô Tần, Tô Tần cũng không dùng kế để Trương Nghi sang Tần, những ghi chép này bất đồng với “Sử ký” và “Tư trị thông giám”.
Cũng có sử gia cho rằng Quỷ Cốc Tử không dùng để chỉ một người cụ thể, mà là tên gọi chung cho một nhóm phần tử trí thức né tránh loạn lạc và không muốn ra làm quan mà ẩn cư tại Quỷ Cốc, vì thế mà mới thông thạo bách gia chư tử.
Quỷ Cốc Tiên Sinh được coi là thày bói của thày bói, tiên trí của tiên tri. Trong dân gian, Quỷ Cốc Tiên Sinh được cho là người thày bí ẩn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người đạo sỹ bí ẩn của ba anh em Nguyễn Nhạc Nguyễn Lữ Nguyễn Huệ đã tiên tri về cuộc đời đế vương của họ, người đứng sau ông thày bói của Nguyễn Văn Thiệu … Quỷ Cốc Tiên Sinh được cho là thày của chúa bói Nguyệt Hồ. Quỷ Cốc Tiên Sinh còn đứng sau nhiều nhân vật xoay chuyển thế cục khác, và biết đâu đứng sau cả Nguyễn Du, để ông viết nên truyện Kiều, một thi ca về số mệnh và bói toán.
