![]()
MẠT LÀ GÌ ?
Mạt là cái vỡ vụn, rơi ra từ một cái nguyên vẹn.
– Mạt sắt rơi ra trong quá trình cưa sắt
– Mạt gỉ là vụn sắt bị gỉ
– Mạt cưa là vụn gỗ rơi ra trong quá trình cưa gỗ
– Mạt bào là vụn gỗ rơi ra trong quá trình bào gỗ
Cám là mạt của Tấm, rơi ra từ cái gốc của Tấm hay từ Tấm gốc; Tấm và Cám nếu vỡ vụn rời nhau ra là mạt của gạo, gạo và trấu nếu vỡ vụn rời nhau ra là mạt của thóc.
Mạt vận là vận hành của một cái mạt mà tách rời ra khỏi cái gốc của nó, tách rời ra khỏi tiến trình tự nhiên của cái tổng thể sinh ra nó.
Mạt kiếp là kiếp sống của mạt, mà là kết quả của mạt vận.
Mạt sát là ma sát bằng lời nói làm người khác vỡ vụn như mạt.
MẠT PHÁP
Mạt pháp là cái pháp của mạt, cái pháp một chiều, cái pháp đơn lẻ, cái pháp vụn vỡ, cái pháp lặt vặt.
Có câu “Vạn pháp quy tâm”. Trong thời mạt pháp, vạn pháp được quy được chiếu về một cái tâm “mạt”, kiểu một việc đơn lẻ giải quyết đợi cả một hệ thống vấn đề, ví dụ niệm Phật giải mọi nghiệp, ngày nào cũng uống chanh muối chữa được mọi bệnh…. Niệm Phật và nước chanh muối rất tốt nhưng nó không phải là pháp trung tâm của vạn vật, chỉ là cái tâm mạt rất thích các giải pháp đơn lẻ, đưa nó vào trung tâm rồi cho rằng cả vũ trụ, cả thế giới, cả sinh mệnh, cả nghiệp quả phải xoay chuyển theo nó. Ngon ăn dễ dàng thế ai chả thích, kiểu như Cám cứ giết nghéo Tấm đi đóng giả Tấm cưới hoàng tử là mọi việc xong xuôi.
“Tâm quy về vạn pháp” là lấy mình làm trung tâm của hiểu cái pháp của vạn vật. Tâm phóng chiếu suy nghĩ của nó ra bên ngoài để lý luận rằng cái này phải thế này, cái kia phải thế kia, và đưa lý luận này lên thành pháp. Cái tâm mạt không có năng lực thu nhận vạn pháp vào trong nó và cũng chẳng có năng lực quán chiếu về vạn pháp bên ngoài nó. Nói cách khác “Vạn pháp không thể quy về tâm mạt” và ngược lại “Tâm mạt không thể quán chiếu ra vạn pháp”
Hiện thực như nó chính là, chứ hiện thực không như lý tưởng, hiện thực không như mình muốn nó là, vụn vặt và cứng nhắc, như mạt cưa, mạt sắt, mà không ra hình hài ban đầu cũng như hình hài về sau của gỗ và sắt.
CỔ PHÁP
Vua Lý Nam Đế của nhà Tiền Lý được cho là sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (tức ngày 17 tháng 10 năm 503) tại thôn Cổ Pháp xã Tiên Phong huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên.
dinh-lang-giang-xa-noi-tho-ly-nam-de-1708492123.jpg
Nhà Lý của vua Lý Công Uẩn khai sinh từ hương Cổ Pháp (thuộc huyện Đông Ngàn), nay thuộc phường Đình Bảng, TP. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sử sách và nhân gian cho rằng bà Phạm Thị làm sãi ở chùa Tiêu (khi đó Tổ sư Vạn Hạnh đang trụ trì), khi đau đẻ thì về đến chùa chùa Dận (ý là dặn đẻ) nhưng cố về chùa Cổ Pháp thì mới sinh vua Lý Công Uẩn. Chùa Cổ Pháp là nơi vua Lý Công Uẩn lớn lên (Tổ sư Vạn Hạnh giao cho Tổ sư Khánh Văn nuôi).
Lý là sự diễn giải của pháp trong một tình huống cụ thể, vì pháp mang tính bao trùm. Lý sinh ra pháp, cổ lý sinh ra từ cổ pháp, mạt lý sinh ra từ mạt pháp. Cổ pháp là bước chuyển hoá, biểu đạt pháp gốc, pháp cổ ra hiện thực qua lý.
Lý trong thời mạt là lý lẽ xuất phát từ một quan điểm nào đó và lý tưởng trên mây xuất phát từ thiên kiến nào đó. Pháp trong thời mạt càng ngày càng cứng nhắc, hà khắc, vụn vặt.
Những giai đoạn biến động và xung đột như thế giới hiện nay, xã hội tràn ngập các lý tưởng một chiều trên mây. Người ta đặt ra tiêu chí cứng nhắc và phiến diện cho mọi thứ trên đời, kết quả là các tiêu chí mâu thuẫn với nhau và với hiện thực, thế là đánh nhau. Đây là đặc điểm của mạt pháp, khi các cổ pháp mô tả thế giới vạn vật đa chiều phức hợp vỡ vụn.
TRUYỀN THỪA PHẬT GIÁO THỜI MẠT PHÁP
Hình dung quá trình mạt pháp qua việc truyền thừa y bát của đức Phật Thích Ca.
Y Bát của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền cho Ma Ha Ca Diếp, là tổ thứ nhất của thiền tông Ấn Độ. Y Bát được truyền qua 28 đời đến Bồ Đề Đạt Ma. Ngài đi từ Ấn Độ qua Tây Tạng sang Trung Quốc và trở thành tổ thứ 1 của Thiền tông Trung Hoa. Y bát từ ngài Bồ Đề Đạt Ma (Tổ 28 ở Ấn Độ, Tổ 1 Trung Hoa) truyền được 6 đời nữa, đến ngài Lục Tổ Huệ Năng (Tổ 33 Ấn Độ, Tổ 6 Trung Hoa).
Các tổ sau Bồ Đề Đạt Ma trước Lục Tổ chỉ tìm được một người để truyền y bát đi tiếp mà không phát triển được thiền. Ngược lại Lục Tổ Huệ Năng có rất nhiều học trò, mở ra rất nhiều truyền phái thiền nhưng không ai được nhân truyền thừa y bát nữa.
Việc truyền y bát là để minh định sự đắc đạo, như một lời chứng cho sự truyền thừa chân lý. Kết thúc truyền thừa: Bồ Đề Đạt Ma đã dặn dò rằng sau 200 năm, khi đạo pháp bị lạm dụng, y bát sẽ không được truyền nữa, điều này đã ứng nghiệm ở đời Lục Tổ Huệ Năng.
Lý do là bởi vì cái pháp mà Lục Tổ Huệ Năng nhận từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc này bị vỡ vụn ra, mỗi học trò của ông chỉ nhận được một phần của pháp này, tạo ra một dòng thiền riêng, không ai có thể nhận trọn vẹn được y bát nữa.
Tất cả các dòng truyền thừa thiền đều kết thúc ở giai đoạn Mạt pháp khi mà không ai nhận được truyền thừa gốc nữa mà chỉ nhận được một phần của nó.
Mạt Pháp càng sau này càng nặng nề khiến thiền tông hiện tại gần như suy vong, những người thực sự đắc đạo nhận được truyền thừa đều là mật truyền.
