LỄ ĐẤT

Loading

Trên một ngôi nhà, một vùng đất, lễ đất và lễ nước là hai lễ quan trọng nhất, nhưng lễ đất thường chỉ làm một lần, thường là kín đáo, chỉ trong nhà biết, trong khi lễ nước lặp lại theo chu kỳ của nước, và một số lễ rước nước đôi khi rất đông người tham gia.
Lễ nhận đất
Lễ đặt tên đất & lễ nhận tên đất
Lễ an đất (hoặc lễ định đất khi không thể an đất hoặc không nên an đất)
Lễ nối đất (khi đất có đủ hoặc không có đủ cấu trúc)
Lễ động thổ (lễ chuẩn bị xây dựng)
– Xây nhà
– Đào giếng
– Đào ao
– Đào hầm (địa đạo)
Lễ nhập trạch (về cúng về nhà mới)
Lễ trấn trạch (hoặc lễ trấn âm, hoặc lễ trấn âm trạch)
Lễ chuyển nhà (rời khỏi nhà cũ)
Lễ định cổng, chuyển cổng
Lễ hạ điền, trung điền, thượng điền
Lễ tịch điền
LỄ NHẬN ĐẤT
Lễ nhận đất là lễ đất quan trọng nhất, nền tảng nhất, cơ bản nhất, bởi vì phải có đất trước thì sau đó mới có quyền sống trên đất hay quyền sử dụng đất, và mới an ổn lâu dài trên đất.
Người làm lễ nhận đất thuộc hai nhóm chính
– Chủ sở hữu đất
– – – Là người có quyền sở hữu đất, do đã hoặc đang thực hiện việc mua bán đất
– – – Là người có quyền sở hữu đất, do được thừa kế, do được trao tặng …
– – – Là người có quyền sở hữu đất, do khai khẩn
– – – Là người có quyền sở hữu đất, do được uỷ quyền, ví dụ từ vua
– Chủ sử dụng đất
– – – Là người sở hữu hoặc đồng sở hữu đất
– – – Là người đã hoặc đang thực hiện quyền thuê hay mượn đất
– – – Là người được chủ đất cho phép sử dụng đất, ví dụ đất của cha mẹ, ông bà mà con cháu sử dụng
– – – Là người có quyền sử dụng đất, do được uỷ quyền hoặc trao quyền, ví dụ vua/người đứng đầu quốc gia lãnh thổ uỷ quyền cho quan/người đứng đầu phân vùng lãnh thổ, quan trao quyền cho trưởng làng/người đứng đầu một vùng của dân, trưởng làng uỷ quyền cho dân
Người trao quyền sở hữu và sử dụng đất cho người làm lễ
– Cha mẹ xứ sở : Khi chuyển quyền sở hữu và sử dụng đất thì, chủ sở hữu mới và chủ sử dụng đất mới sẽ tiếp nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng đất từ cha mẹ xứ sở với tư cách con của cha mẹ xứ sở.
– – – Cách nhận đất này dành cho đất của gia đình, dòng họ, dân tộc, đi theo truyền thừa và kế thừa của gia đình, dòng họ, dân tộc.
– – – Cách nhận đất này dành cho vua chúa và các vị được vua trao quyền đứng đầu một vùng đất. Vua, là thiên tử, là con trời hay con của cha mẹ xứ sở khi lên ngôi phải nhận đất từ cha mẹ xứ sở.
– Thần bản thổ : Thần bản thổ ở cấp độ Trái đẩt, lục địa, quốc gia, đất nước
– Thần đất, thổ công, Thần tài – Thổ địa và bộ đầu nhau của đất :
– – – Đất có sẵn thổ công, thổ địa thì thổ công, thổ địa sẽ dừng các quan hệ với chủ đất cũ và người sử dụng đất cũ, để chuyển sang chủ đất mới và người sử dụng đất mới
– – – Đất chưa có sẵn thổ, thổ địa sẽ được cấp thổ công, thổ địa phù hợp với cấp bậc đất và cấp bậc của chủ sở hữu đất
– Cấp cao hơn về quản lý lãnh thổ : Vua/người đứng đầu quốc gia lãnh thổ uỷ quyền cho quan/người đứng đầu phân vùng lãnh thổ, quan trao quyền cho trưởng làng/người đứng đầu một vùng của dân, trưởng làng uỷ quyền cho dân
Như vậy một lễ nhận đất có thể liên quan đến
– Nhận cha mẹ xứ sở của đất
– Nhận thần bản thổ của đất
– Nhận thổ công, thổ địa, thần tài và bộ đầu nhau của đất
– Nhận đất từ cấp cao hơn về quản lý lãnh thổ
Quyền sở hữu và sử dụng đất xác lập theo cấp độ của người làm lễ. Cùng một mảnh đất rơi vào những chủ đất khác nhau đưa đến những quyền sở hữu và sử dụng rất khác nhau.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì Kinh Dương Vương đã nhận đất từ cha Đế Minh và cha mẹ xứ sở : “Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi hỏi cưới Vụ Tiên Nữ (鶩僊女), sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục (祿續). Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王). Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Kinh Dương Vương làm vua và cai trị từ khoảng năm 2879 TCN trở đi. Địa bàn của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương Vương rộng lớn, phía Bắc tới Trường Giang, phía Nam tới nước Hồ Tôn, phía Đông là Biển Đông và phía Tây là Ba Thục.”
LỄ ĐẶT TÊN ĐẤT & LỄ NHẬN TÊN ĐẤT
Khi Kinh Dương Vương gọi tên nước Xích Quỷ kinh đô Hồng Lĩnh, Văn Lang kinh đô Phong Châu và Việt Thường (sau này có thành Cổ Loa) thì đó là kết quả của một lễ nhận tên đất có sẵn cho các mảnh đất, hơn là Kinh Dương Vương tạo lập ra các mảnh đất này và nghĩ ra các cái tên tương ứng.
Chia sẻ:
Scroll to Top