HIỂU VỀ TẾT THANH MINH QUA TRUYỆN KIỀU

Loading

TẾT THANH MINH MỞ ĐẦU ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH CỦA ĐỜI KIỀU
Truyện Kiều có 2 phần
– Phần mở đầu giới thiệu chung Kiều và gia đình, cùng không thời gian của câu truyện đời Kiều
– Phần diễn biến câu truyện đánh số từ hồi 1 đến hồi 21
Đời Kiều nếu chia làm 3 giai đoạn thì truyện Kiều chỉ mô tả đoạn giữa mà được gọi là Đoạn trường tân thanh, đoạn tuổi thơ trước đó và đoạn đời sau đó không được mô tả. 3 giai đoạn đời Kiều là
– Thanh xuân ở với gia đình
– Đoạn trường tân thanh : được mô tả từ hồi 1 đến hồi 21 của truyện Kiều
– Trở về với gia đình và Kim Trọng sau lưu lạc
Hồi 1 mở đầu cho diễn biến Đoạn trường tân thanh kể về sự kiện Kiều đi chơi Tết Thanh Minh. Tết Thanh Minh mở đầu một năm Tiết Khí. Tết Thanh Minh cũng mở đầu cho mạch Truyện Kiều (bởi vì trước đó là phần giới thiệu chung về không thời gian và nhân vật của Truyện Kiều như đã nói). Từ sự kiện đi chơi Tết Thanh Minh này, lưu lạc trong Đoạn trường tân thanh của Kiều mới bắt đầu.
Tảo mộ viếng Đạm Tiên, bâng khuâng tình tứ;
Du xuân gặp Kim Trọng, bẽn lẽn duyên ta
Hồi 1 (Kiều đi chơi Tết Thanh Minh) chia làm 3 phần
– Phần mô tả chung về Tết Thanh Minh
– Phần hai mô tả hai sự kiện Tảo mộ và Đạp Thanh
– – – Tảo mộ : Kiều gặp Đạm Tiên
– – – Đạp thanh : Kiều gặp Kim Trọng
Kiều với các thông điệp nhắn nhủ bởi Đạm Tiên qua các giấc mơ và tình yêu với Kim Trọng đã trải qua Đoạn trường tân thanh từ Tết Thanh Minh cho đến lúc trẫm mình trên sông Tiền Đường.
CẢNH THANH MINH
Trong đoạn thơ 12 câu mô tả cảnh Thanh Minh
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh, trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Hai cầu đầu mô tả nhịp điệu và âm tần của Thanh Minh, chính là biểu tượng chữ S trong vòng tròn âm dương
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Hai câu sau mô tả cấu trúc và sắc thái của Thanh Minh, chính là biểu tượng Tứ tượng
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Hai câu sau nữa (câu 5, 6) nêu hai hoạt động chính của Tết Thanh Minh là Đạp thanh và Tảo mộ
Thanh minh, trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Hai câu tiếp theo (câu 7, 8) là trường năng lượng và cấu trúc cơ bản của Thanh Minh
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Hai câu 9, 10 của đoạn này là cảnh hội Đạp Thanh
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.
Hai câu cuối cùng (11, 12) là cảnh lễ Tảo Mộ
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
– NGÀY XUÂN CON ÉN ĐƯA THOI :
Chim én là biểu tượng của mùa xuân. Thấy cánh chim én chao trên bầu trời là biết xuân về. Thanh Minh là tiết khí thứ 5 của mùa xuân tính từ Xuân Phân và là tiết khí liền sau của Xuân Phân. Tết Thanh Minh thường đến khi mùa xuân đã đi được quá nửa nói cách khác là Thanh Minh xảy ra cánh én mùa xuân đã đưa thoi đưa được nhiều lần, mùa xuân chả mấy chốc nữa sắp kết thúc.
Nhịp cánh chim én chao liệng là biểu tượng của nhịp ngày mùa xuân.
Cánh chim én không chỉ là biểu tượng của mùa xuân đến mà còn là biểu tượng của nhịp điệu rất nhanh của mùa xuân, mà mùa xuân là biểu tượng cho thời thanh xuân và giai đoạn mở đầu cho một chu kỳ sống. Nhịp nhanh của mùa xuân được mô tả trong dân gian ” Ngày xuân ngắn chẳng tày gang” hoặc “ngày xuân thấm thoắt thoi đưa”. Cái thoi thường được làm hình con chim én và cách đưa thoi cũng giống như cách bay nhanh của chim én. Cánh én nhịp cánh thoi đưa, cứ từ trái qua phải rồi từ phải qua trái, như nhịp điệu của ngày xuân, cứ từ sáng đến đêm, rồi lại từ sáng đến đêm, trôi qua rất nhanh.
Để hiểu nhịp đưa thoi, hãy so sánh nó với là nhịp đưa nôi, từ điểm cân bằng ở chính giữa chiếc nôi được đưa sang phải rồi sang trái, Nhịp thoi khác hẳn, chuyển từ cực biên phải sang cực biên trái, chỉ đi qua điểm ở giữa. Nhịp đưa thoi là nhịp thái cực, trong khi nhịp đưa nôi là nhịp bình hoà. Nhịp đưa thoi là nhịp nhanh, mạnh, dứt khoát, sôi động, có tính kim, nhịp thức, nhịp ban ngày; trong khi nhịp đưa nôi là nhịp chậm, nhẹ nhàng, mềm mại, có tính mộc, của giấc ngủ ban đêm.
Thuyền én hay thuyền đuôi én là một loại thuyền độc mộc mảnh mai thuôn dài với phần đuôi vút nhọn lên như đuôi chim én. Đây là loại thuyền truyền thống của người dân tộc Thái Trắng sống vùng ven sông Đà ở các tỉnh Tây Bắc như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La. Thuyền én nhỏ nhẹ nhưng lại chịu được lực va đập, nên có thể luồn lách trong dòng nước dữ, giữa các tảng đá nhô lên giữa lòng sông và xuyên qua các thác ghềnh và lốc xoáy đáy sông.
Thuyền én là loại thuyền đi dọc, xuôi và ngược dòng. Khi đi ngược dòng, các tay chèo phải hò nhau cùng chèo để thuyền ngược dòng chảy vượt lên phía trước. Lúc đi xuôi, thuyền én lướt sóng lao như bay, nhưng vẫn nhanh nhẹn tránh được các vật cản và lốc xoáy cùng sóng dữ.
Đến các đoạn lắm thác ghềnh, hoặc có đá lớn chặn dòng, người đi thuyền có thể đưa thuyền lên bờ, mang thuyền trèo đèo lội suối cho đến khi gặp dòng nước sâu hơn, bằng phẳng hơn, thuyền én lại được thả xuống nước đi tiếp. Như vậy thuyền én là loại thuyền đi được cả trên cạn và dưới nước, có lúc thuyền chở người, có lúc người vác thuyền, nương tựa vào nhau để cùng vượt dòng sông dữ.
Thuyền én là một biểu tượng văn hoá, đi vào các lễ hội dân gian vùng sông Đà và liên quan đến thuyền đuôi chim mô tả trên trống đồng Đông Sơn.
Thuyền én là biểu tượng của tinh thần vượt thác ghềnh, ba chìm bảy nổi qua sóng to gió lớn, thậm chí phải vượt cạn, để đi xuyên suốt từ đầu đến cuối một vận hành trọng yếu nhưng cực kỳ trắc trở, mà theo ngôn ngữ truyện Kiều là Đoạn trường tân thanh.
Cánh chim én, mảnh mai nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn, dũng cảm và bền bỉ không ngừng, để làm nên không chỉ mùa xuân mà cả một chu kỳ sống không chỉ có tân thanh mà còn có cả đoạn trường trong truyện Kiều không phải là ai khác mà chính là nàng Kiều.
– THIỀU QUANG CHÍN CHỤC ĐÃ NGOÀI SÁU MƯƠI
Trong khoảng 90 ngày mùa xuân tính từ Xuân Phân (“thiều quang chín chục”), Tết Thanh Minh là ngày của tiết khí thứ 5, nghĩa là “ngoài sáu mươi” ngày tính từ Xuân Phân (15 ngày/tiết khí x 4 tiết khí).
“Thiều quang” thường được hiểu là ánh sáng tươi đẹp của mùa xuân, nhưng hiểu như vậy là chưa đi được cái gốc của “thiều”, mà liên quan đến năng lượng và thời kỳ có tính nền tảng trọng yếu của một chu kỳ sống. Thiều quang là trường năng lượng nền của mùa xuân, mà không kết thúc trong mùa xuân, chỉ chuyển hoá hay ẩn đi trong mùa hè, mùa thu, mùa đông, nói cách khác thiều quang của mùa xuân kéo dài cả năm. Thiều quang của mùa xuân có thể kéo dài theo những chu kỳ rất dài trải bao xuân hạ thu đông mà lấy mùa xuân ấy làm điểm khởi đầu.
Chữ “thiều” xuất hiện trong nhiều ngữ cảnh mô tả màu sắc và âm thanh tươi đẹp và tràn ngập tính tương tác âm dương, ví dụ
– “Thiều” : tóc trái đào, trẻ con để tóc trái đào, tuổi để tóc trái đào
– “Thiều” : màu hồng điều, màu hồng cam, màu đào, với đào nay là nghĩa đào nguyên (tương đương như nguyên thuỷ) và cam là máu nóng xuất ra ngoài
– “Thiều” : đối tượng cao tít (quan trọng), thời kỳ xa tít (cổ xưa) của một chu kỳ sự sống lớn, ví dụ với người Việt tự nhận nguồn gốc của mình là con rồng cháu tiên, thì thời kỳ rồng tiên đó gọi là “thiều”
– “Thùy thiều” là mái tóc trái đào buông xuông của trẻ con, mà phản ánh tần số của làn da và hào quang của đứa trẻ, phản ảnh tần số máu nền của đứa trẻ đó, nhạc nền của đứa trẻ đó, bởi vì thời đó tóc của đứa trẻ là tóc máu.
– “Thiều hoa” là cảnh hoa mùa xuân, hoặc thời tuổi trẻ nở hoa, tuổi hoa. Thiều hoa nói chung là giai đoạn dạy thì, bắt đầu từ sau lễ dứt căn (khoảng 12 tuổi) ở cả nam vừa nữ và giai đoạn thiều hoa dạy thì này có thể kéo dài vài năm đến 16 hoặc 18 tuổi.
– “Nhạc Thiều” là nhạc thời vua Thuấn, trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Trong sử Hồng Bàng, đây là giai đoạn Đế Minh sinh Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân và Lạc Long Quân sinh bọc trăm trứng, nghĩa là giai đoạn hình thành nên đất nước và dân tộc Việt. Thanh âm nền của giai đoạn “thiều hoa” này của đất nước và dân tộc Việt là “nhạc thiều”.
– “Quốc thiều” là nhạc thiều của quốc gia, cụ thể hơn đó là phần nhạc của một bài quốc ca, hay là một bài quốc ca không có lời. Quốc thiều thường được sử dụng để mở đầu các buổi nghi lễ của các cơ quan nhà nước; lễ kéo cờ ở các công sở, trường học; lễ đón nhận các nguyên thủ quốc gia nước khác đến thăm chính thức nước sở tại. Quốc thiều đại diện cho âm nền, nhạc nền của một quốc gia, mà liên quan đến dòng máu của những người dân của quốc gia ấy. Quốc thiều là thanh âm tổng hợp của các sắc tộc sống trên một quốc gia, nên có sự đối xứng với tên của quốc gia đó.
– “Vải thiều” là loại vải truyền thống ngon nhất của miền Bắc, với màu vỏ có sắc hồng vàng rất đẹp và thơm ngon. “Vải” liên quan đến ông bà ông vải. “Thiều” liên quan đến máu nguồn, máu gốc, hoặc cái biểu hiện ra của màu nền máu gốc.
– “Cá thiều” là một loại cá ngon, mang màu sắc và thanh âm nền của biển mùa cá sinh sôi nảy nở.
“Thiều quang chín chục” có thể hiểu là chín mươi ngày xuân, khi trăm hoa đua nở, bắt đầu một chu kỳ sống mới. Chín mươi ngày mùa xuân này có sự non trẻ của giai đoạn bắt đầu, vừa có sự chín chắn, tròn trịa và đủ đầy của con số “chín chục”. Có thể hiểu “thiều quang chín chục” là sự tròn trịa, đầy đầy đủ, chín chắn của giai đoạn đầu đời, tuổi thiều hoa. Ví dụ trường năng lượng gốc, của thời kỳ phôi dâu mà diễn ra trong khoảng 1 tuần sau thời điểm taọ hợp tử chính là “thiều quang chín chục” của thời kỳ bào thai mà kéo dài khoảng chín tháng, “chín tháng mười ngày” của thai kỳ lại là “thiều quang chín chục” của cả đời người.
“Thiều hoa” là giai đoan cuối của “Thiều quang chín chục” mà đạt đỉnh sau Thanh Minh. “Thiều quang chín chục”, đặc biệt là “thiều hoa” tuy ngắn ngủi như ngày xuân con én đưa thoi, và có thể rất ẩn, nhưng lại chứa đựng tất cả những nền tảng của toàn bộ chu kỳ sống.
Cùng đọc lại cả hai câu thơ
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Thiều hoa rực rõ của đời Kiều bắt đầu với sự kiện Thanh Minh mà Kiều gặp Đạm Tiên và Kim Trọng. Giai đoạn tươi đẹp của đời người thiếu nữ với những buổi hẹn hò bí mật với Kim Trọng nhanh chóng kết thúc như “ngày xuân con én đưa thoi”, khi nhà Kiều lâm nạn và Kiều phải bản mình chuộc cha. Người thiếu nữ Kiểu chưa kịp hưởng thụ tình yêu đã bắt buộc phải trở thành người đàn bà trầm luân.
Giai đoạn bắt buộc phải trở thành đàn bà với nhiều người đàn ông khác nhau, nhưng không phải người mình yêu ban đầu, cảm xúc và thân thể phải đau đớn chết đi sống lại nhiều lần đó của Kiều gọi là “đoạn trường tân thanh”.
Thanh âm cặp đôi trong giai đoạn “Đoạn trường tân thanh” nhiều lần (đoạn trường) thay đổi (tân thanh), nhưng âm nền ẩn của nó vẫn là “nhịp cánh én đưa thoi” và tần số “thiều quang”. Nói cách khác, Đạm Tiên và Kim Trọng, hai người Kiều gặp trong Đoạn trường tân thanh bằng tinh thần, bằng cảm xúc, bằng lý trí, bằng ý chí, bằng ký ức, vẫn đi suốt cùng kiều qua những năm thăng thăng trầm, bởi vì họ mới là bộ tịnh đế, bộ đôi gốc của Kiều.
Giai đoạn sau Thanh Minh trước Đoạn trường tân thanh của đời Kiều ứng với ba mươi ngày xuân sau Tết Thanh Minh và trước mùa hạ. Nhịp nền của giai đoạn này vẫn là “ngày xuân con én đưa thoi”, nghĩa là cực kỳ nhanh và dứt khoát.
Giai đoạn sau Thanh Minh trước Đoạn trường Tân Thanh này trong đời Kiều được mô tả trong Hồi 2 (Kiều mơ gặp Đạm Tiên) và Hổi 3 (Kiều thề nguyền với Kim Trọng), sau Hồi 1 (Kiều đi chơi Tết Thanh Minh).
Chia sẻ:
Scroll to Top