GIANG TÔ

Loading

GIANG TÔ
Giang Tô (江苏) là một tỉnh ven biển của Trung Quốc. Giản xưng của Giang Tô là “Tô”.
Những điều đặc biệt của Giang Tô
– Là tỉnh giữ biên giới sông tự nhiên giữa Hoa Bắc và Hoa Nam. Sông Hoài-dãy núi Tần Lĩnh được coi như là đường phân chia tự nhiên của Hoa Bắc và Hoa Nam, mà đi từ Thiểm Tây (nơi có dãy Tần Lĩnh) sang Giang Tô (nơi có sông Hoài Hà) qua Hà Nam và An Huy.
– Là tỉnh trải qua nhiều chiến tranh, chuyển giao và xung đột khi có sự thay đổi triều đại Bắc và Nam, ngược với Thiểm Tây là nơi có nhiều chiến tranh, chuyển giao và xung đột giữa các triều đại Đông và Tây. Nam Kinh của Giang Tô đối xứng với Bắc Kinh, tương tự như Tây An của Thiểm Tây đối xứng với Lạc Dương của Hà Nam.
– Là tỉnh ở đại lục bé nhất của Trung Quốc (chỉ lớn hơn đảo Hải Nam), nhưng có mật độ dân số cao nhất Trung Quốc
– Là tỉnh thấp và bằng phẳng nhất tại Trung Quốc. Đỉnh Ngọc Nữ trên Hoa Quả Sơn thuộc Liên Vân Cảng là điểm cao nhất Giang Tô với cao độ 624,4 mét trên mực nước biển.
– Là tỉnh có truyền thống làm vườn, với hệ thống lâm viên là di sản thế giới, đặc biệt ở Tô Châu
– Là tỉnh có nhiều hồ nhất Trung Quốc, đồng thời là tỉnh có nhiều sông, kênh rạch và các cổ trấn xây dựng trên hệ thống kênh rạch chằng chịt nhất Trung Quốc, đặc biệt ở Tô Châu. Vừa có nhiều hồ, vừa có nhiều sông, nên dân Giang Tô có truyền thống giang hồ. 🙂
– Trong lịch sử, nếu kinh đô không đặt ở Nam Kinh, thì tỉnh này (cùng các tỉnh phía Nam) vẫn luôn có các lực lượng ly khai chống triều đình, đủ mạnh thì xưng vương, mà yếu thì làm giặc hoặc đem theo gia quyến chuyển ra xa hơn, thậm chí ra luôn nước ngoài sinh sống. Văn hoá, tín ngưỡng, ngôn ngữ đều khác biệt với nhà văn minh Hoàng Hà ở phương Bắc, rất coi trong sự đa dạng, phân tán và các trung tâm quyền lực địa phương. Là hậu duệ của nhà Hạ, nhưng lại không thuần phục cái gọi là Hoa, hay tập quyền Trung Hoa.
– Là đất cũ của Hạ (thời cổ đại), Sở (thời tiền Hán) và Ngô (thời Hậu Hán). Còn tồn tại các ngôn ngữ cổ như tiếng Ngô và tiếng Mân Nam.
Về vị tri địa lý, Giang Tô
– đông giáp Hoàng Hải
– tây giáp An Huy,
– nam giáp Chiết Giang,
– bắc giáp Sơn Đông.
– đông nam giáp Thượng Hải
Giang Tô & Chiết Giang
– Thái Hồ là một hồ ở đồng bằng châu thổ Dương Tử, nằm giữa ranh giới 2 tỉnh Giang Tô (ở phía bắc) và Chiết Giang (ở phía nam) là một trong bốn hồ nước ngọt có diện tích bề mặt lớn nhất ở Trung Quốc, cùng các hồ như: Bà Dương, Động Đình và Hô Luân. Thái Hồ được nối với Đại Vận Hà nổi tiếng. Một số sông nhỏ, như sông Tô Châu, bắt nguồn từ đây.
– Cối Kê là vùng đất cổ ở Chiết Giang và Giang Tô, Trung Quốc, nơi Hạ Vũ từng mở đại hội chư hầu và qua đời. Năm 222 TCN, Tần Thủy Hoàng đã lấy khu vực hai nước Ngô và Việt thời Xuân Thu để thành lập quận Cối Kê, lấy Ngô huyện (ngày nay là Tô Châu) làm quận lỵ. Cối Kê (Kuaiji) là một trong các khu vực do nhà Tần chiếm được của các nhóm tộc Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử sau năm 210 TCN.
– Thượng Hải là thành phố cửa sông Dương Tử, tách ra khỏi Giang Tô vào thời thực dân từ một làng chèo nghèo chuyển thành thương cảng quốc tế. Thượng Hải nay án ngữ vùng ven biển phía Đông giữa Giang Tô và Chiết Giang
Giang Tô & An Huy
– Vào đầu thời Nhà Thanh, Giang Tô thuộc tỉnh Giang Nam, đến năm Khang Hi thứ 6 (1667), triều đình đã tách tỉnh Giang Nam thành Giang Tô và An Huy.
Các địa cấp của Giang Tô và thủ phủ
1. Nam Kinh Huyền Vũ
2. Thường Châu Chung Lâu
3 Hoài An Thanh Hà
4 Liên Vân Cảng Tân Phố
5 Nam Thông Sùng Xuyên
6 Túc Thiên Túc Thành
7 Tô Châu Kim Xương
8 Thái Châu Hải Lăng
9 Vô Tích Sùng An
10 Từ Châu Vân Long
11 Diêm Thành Đình Hồ
12 Dương Châu Quảng Lăng
13 Trấn Giang Kinh Khẩu
DU LỊCH GIANG TÔ
Nam Kinh
– Sông Tần Hoài : Sông Tần Hoài là một nhánh của sông Dương Tử , có tổng chiều dài 110 km. Sông Tần Hoài, trước đây có tên là sông Hoài và được đổi tên thành Tần Hoài theo truyền thuyết rằng Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của triều đại Tần (221–206 TCN), đã ra lệnh dẫn nước Hoài vào thành phố bằng cách đào một ngọn núi. Sông chảy qua trung tâm thành phố Nam Kinh và được gọi là “dòng sông mẹ của Nam Kinh”. Nó là “máu huyết” của thành phố. Sông Tần Hoài được chia thành sông nội lưu và sông ngoại lưu. Vành đai cảnh quan dọc sông Tần Hoài gặp nhau tại đền Khổng Tử ở trung tâm và dòng sông đóng vai trò là cầu nối. Vành đai này, với các điểm tham quan như Vườn Trấn Nguyên, đền Khổng Tử, đảo Cò, cổng Trung Hoa cũng như những chiếc thuyền buồm trên sông và các đình, tháp trên bờ sông, là sự pha trộn của các di tích lịch sử, vườn tược, thuyền bè, đường phố, đình, tháp, văn hóa dân gian và phong tục.
– Tường thành Nam Kinh được xem là một trong những công trình phòng thủ cổ lớn nhất và còn được bảo tồn tốt nhất thế giới. Được xây dựng từ triều đại nhà Minh, bức tường có chiều dài nguyên bản khoảng 35 km, kết cấu kiên cố từ gạch và đá. Ngày nay, du khách có thể tản bộ hoặc đạp xe trên một số đoạn thành để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Nam Kinh từ trên cao.
– Trung Hoa Môn là cổng thành phía nam, đồng thời cũng là cổng lớn nhất trong hệ thống tường thành Nam Kinh. Công trình được thiết kế kiên cố như một pháo đài quân sự, nổi bật với cấu trúc phức tạp gồm 27 đường hầm bên trong, đủ sức chứa khoảng 3.000 binh sĩ.
– Đền Kê Minh (Jiming Temple). Đây là một trong những ngôi đền Phật giáo cổ kính và linh thiêng bậc nhất ở Nam Kinh. Ngôi đền tọa lạc trên ngọn đồi hướng ra Tường thành Nam Kinh và Hồ Huyền Vũ, nổi bật với tòa tháp cao vút cùng kiến trúc trang nhã, tạo nên không gian vừa thanh tịnh vừa uy nghiêm.
– Tê Hà tự tại Nam Kinh,
– Minh Hiếu lăng (明孝陵) tại Nam Kinh là một phần của quần thể Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh, một di sản thế giới của UNESCO. Minh Hiếu Lăng là lăng mộ của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, vị hoàng đế khai sáng triều Minh.
– Núi Tử Kim & Lăng Tôn Trung Sơn là nơi an nghỉ của nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại Trung Quốc, tọa lạc trên sườn núi Tử Kim.
– Thái Hồ, hồ Huyền Vũ và hồ Mạc Sầu ở Nam Kinh,
– Chung Sơn ở Nam Kinh
Tô Châu : thành phố của cổ trấn nước, lâm viên và tơ lụa
– Sông Tô Châu
– Hồ Dương Trừng ở Tô Châu
– 9 viên lâm cổ điển tại Tô Châu hình thành một quần thể di sản thế giới của UNESCO.
– – – Chuyết Chính Viên nằm ở trung tâm Tô Châu là viên ngọc trong Tứ đại danh viên và được xem là khu vườn cổ điển quy mô lớn nhất thành phố. Vườn mở ra ba khu vực chính – Đông, Trung tâm và Tây – mỗi khu vực đều khéo léo kết hợp hồ nước, cây cầu cong uốn lượn, và cảnh vật sắp xếp hài hòa, tạo cảm giác vừa trầm lắng vừa thơ mộng.
– – – Lưu Viên nổi bật với sự tinh xảo, hài hòa trong thiết kế, xây dựng từ thời nhà Thanh. Diện tích khoảng 23.000m², chia làm bốn khu phong cách riêng, nối liền qua hành lang dài, mang đến cảm giác lạc vào không gian vô tận.
– – – Sư Tử Lâm là viên vườn tiêu biểu của nghệ thuật cổ điển thời nhà Nguyên, nổi bật với cấu trúc đá độc đáo mô phỏng hình sư tử. Khu vườn được thiết kế như một mê cung đá, với các khối đá xếp chồng tạo thành những hang động nhân tạo ấn tượng, mang đến trải nghiệm vừa khám phá vừa chiêm ngưỡng.
– – – Võng Sư Viên là minh chứng cho thiết kế vườn tinh tế và hài hòa của Tô Châu, tái hiện sống động cảnh “núi non sông nước”. Khu vườn còn tổ chức các chương trình nghệ thuật truyền thống vào buổi tối từ tháng 5 đến tháng 11, mang đến trải nghiệm văn hóa đặc sắc.
– Cổ trấn
– – – Cổ Trấn Chu Trang là thị trấn nước đầu tiên của Trung Quốc, với lịch sử hơn 900 năm, nổi bật trong bức tranh văn hóa Giang Nam. Kiến trúc thời Minh – Thanh ở đây gần như được giữ nguyên vẹn, mang đến cảm giác như đang bước ngược dòng thời gian. Nổi bật nhất là Cầu Đôi (Shuang Qiao) – biểu tượng đặc trưng của Chu Trang, uốn mình qua các con kênh tĩnh lặng, phản chiếu mái nhà cổ trên mặt nước, tạo nên khung cảnh thơ mộng và đầy chất nghệ thuật.
– – – Cổ Trấn Đồng Lý : Được biết đến với danh xưng “Venice Phương Đông”, Cổ Trấn Đồng Lý sở hữu mạng lưới kênh rạch chằng chịt, được nối với nhau bằng 49 cây cầu đá cổ. Vườn Thoái Tư, kiệt tác vườn Trung Hoa tại đây, đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, thể hiện sự hòa quyện tinh tế giữa thiên nhiên và kiến trúc.
– – – Cổ Trấn Jinxi giữ được vẻ tĩnh lặng và cổ kính hiếm có, không bị thương mại hóa quá mức. Hơn 238 con sông nhỏ chảy quanh các ngôi nhà cổ, tạo ra khung cảnh thanh bình, lý tưởng cho những ai tìm kiếm sự yên ả và trải nghiệm nhịp sống chậm rãi của một thị trấn truyền thống.
– Phố cổ
– – – Phố Cổ Tây Đường là nơi thu hút du khách bởi 104 cây cầu vòm bắc ngang các kênh đào, kết hợp với những con hẻm nhỏ và hành lang mái che dọc bờ nước.
– – – Phố Cổ Sơn Đường là con phố đi bộ lịch sử hơn 1.200 năm tuổi, nối Cổng Trường Môn với Đồi Hổ. Nơi đây từng là trung tâm thương mại tơ lụa sầm uất. Du khách có thể đi thuyền dọc kênh, ngắm phố cổ lung linh dưới ánh đèn đêm và hòa mình vào nhịp sống truyền thống – một trải nghiệm vừa thi vị vừa đậm chất văn hóa Giang Nam.
– – – Phố Cổ Bình Giang Đồ nổi bật với cấu trúc kênh đào và kiến trúc cổ từ thời Tống gần như được bảo tồn nguyên vẹn. 7 con kênh chạy dài theo hướng Bắc – Nam cùng 14 con kênh dọc Đông – Tây tạo ra không gian yên tĩnh, mang đến trải nghiệm lý tưởng cho việc thưởng trà, tản bộ và khám phá văn hóa địa phương.
– Hàn Sơn Tự là ngôi chùa Phật giáo hơn 1.300 năm tuổi, nổi tiếng nhờ bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Ngôi chùa tỏa ra vẻ trầm mặc, với tiếng chuông ngân vang được cho là xua tan 108 nỗi khổ của con người, tạo nên không gian linh thiêng và thanh tịnh giữa thiên nhiên.
– Chùa Đồi Hổ là biểu tượng kiến trúc hàng đầu của Tô Châu, nổi bật với Tháp Đồi Hổ (Yunyan Pagoda) – ngọn tháp gạch 7 tầng nghiêng, được ví như “Tháp nghiêng Pisa của Trung Quốc”. Đồi Hổ còn lưu giữ nhiều truyền thuyết nổi tiếng như “Ao kiếm” và “Đá thử kiếm”, tạo nên sự kết hợp độc đáo giữa kiến trúc và lịch sử.
Trấn Giang
– Suối Trung Linh được gọi là “Thiên hạ đệ nhất tuyền”
– Tam Sơn (Bắc Cố Sơn, Kim Sơn, Tiêu Sơn) ở Trấn Giang với màu xanh tươi.
– Kim Sơn tự tại Trấn Giang,
Vô Tích
– Suối Huệ Sơn được gọi là “Thiên hạ đệ nhị tuyền”.
– Linh Sơn Đại Phật ở Vô Tích,
– Thái Hồ, công viên Tích Huệ, tháp Long Quang
Dương Châu
– Hồ Sấu Tây ở Dương Châu,
– Đại Danh tự (大名寺) tại Dương Châu,
Liên Vân Cảng
– Hoa Quả Sơn tại Liên Vân Cảng nhờ kết duyên với “Tây du ký” mà nổi danh khắp trong và ngoài nước.
Từ Châu
– Hồ Vân Long ở Từ Châu,
Lật Dương
– Hồ Thiên Mục ở Lật Dương.
Cú Dung
– Mao Sơn ở nơi giáp giới giữa Cú Dung và Kim Đàn là trung tâm Đạo giáo ở Đông Nam Trung Quốc, còn được gọi là “Đệ nhất phúc địa” và “Đệ bát động thiên” của Đạo giáo.
– Long Xương tự tại Cú Dung là các đền chùa cổ trứ danh
HOÀI HÀ : BIÊN GIỚI BẮC NAM & CÁC ĐẠI HỒ ĐIỀU TIẾT NƯỚC
Giang Tô có Trường Giang chảy qua ở phía nam và Hoài Hà ở phía bắc.
Hoài Hà – nằm giữa Dương Tử Giang và Hoàng Hà – là con sông đứng hàng thứ ba trong số 7 con sông lớn của TQ; dài hơn 1.000 km và nếu tính luôn các sông nhánh thì tổng cộng chiều dài lên đến 5.500 km.
Sông Hoài-dãy núi Tần Lĩnh được coi như là đường phân chia tự nhiên của Hoa Bắc và Hoa Nam.
– Nhà Hạ có khả năng nằm ở phía Nam sông Hạ hoặc ít nhất là nằm ở 2 bờ sông Hoài Hà
– Thời Đông Hán : Khởi nghĩa Hai Bà Trưng lên đến hồ Động Đình
– Thời Tam Quốc : Đoạn Hoài Hà chảy qua Giang Tô trở thành giới tuyến giữa Đông Ngô và Tào Ngụy.
– Thời Nam-Bắc triều : Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô lại một lần nữa trở thành giới tuyến phân chia giữa Bắc và Nam, là tiền tuyến trong các cuộc chiến tranh giữa hai bên.
– Thời Tuỳ : Từ ăm 605, kéo dài Đại Vận Hà để có thể nối liền Trác Quận (nay là Bắc Kinh) với Hàng Châu. Công việc này kéo dài trong 6 năm và đoạn kênh nằm giữa Trường Giang và Hàng Châu được đặt tên là Giang Nam Vận Hà, nhằm phá thế chia cắt Nam Bắc của Hoài Hà, nhà Tuỳ đàn áp di dân miền Nam.
– Thời Đường, bộ phận phía nam Trường Giang của Giang Tô thuộc Giang Nam Đông đạo, bộ phận ở phía bắc Trường Giang và phía nam Hoài Hà thuộc Hoài Nam đạo, bộ phận ở phía bắc Hoài Hà thuộc Hà Nam đạo.
– Thời Nam Tống & Triều Kim : Năm 1127, nhà Kim của người Nữ Chân sau khi chinh phục Hoa Bắc đã tiến đến vùng Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô, Hoài Hà sau đó trở thành biên giới giữa triều Kim ở phía bắc và triều Nam Tống ở phía nam.
– Quốc dân Đảng đặt kinh đô ở Nam Kinh trước khi rút ra Đoài Loan
Hoài Hà có hai hồ nổi tiếng là Thái Hồ và Hồng Trạch
– Hồ Hồng Trạch là một trong 5 hồ nước ngọt lớn nhất tại Trung Quốc, cùng các hồ lớn khác như hồ Bà Dương, hồ Động Đình, hồ Hô Luân và Thái Hồ. Hồ Hồng Trạch nằm trên dòng chảy của sông Hoài Hà như Thái Hồ. Diện tích hồ Hồng Trạch đã tăng gấp bốn lần kể từ năm 1100 mỗi khi sông Hoàng Hà chuyển dòng đổ vào sông Hoài Hà. Với lượng phù sa lớn từ sông Hoàng Hà đổ sang, lòng sông Hoài bị lấp nghẽn khiến mực nước dâng cao và tràn về hồ Hồng Trạch. Hiện tại diện tích hồ là khoảng 1.500-1.600 km², tầm sâu trung bình 1,9 m; chỗ sâu nhất 4,5 m và dung tích khoảng 3,0 km³.
– Thái Hồ là một hồ ở đồng bằng châu thổ Dương Tử, nằm giữa ranh giới 2 tỉnh Giang Tô (ở phía bắc) và Chiết Giang (ở phía nam) của Trung Quốc. Hồ rộng 2.250 km² và sâu bình quân 1,94 m, là một trong bốn hồ nước ngọt có diện tích bề mặt lớn nhất ở Trung Quốc, cùng các hồ như: Bà Dương, Động Đình và Hô Luân. Thái Hồ được nối với Đại Vận Hà nổi tiếng. Một số sông nhỏ, như sông Tô Châu, bắt nguồn từ đây. Khu vực xung quanh là nơi sản xuất ngũ cốc nổi tiếng của Trung Quốc. Hồ này nổi tiếng với các loài cá và các tảng đá vôi hoành tráng không nơi nào có được. Các loại cung thạch độc đáo được dùng làm vật liệu trang trí cho các khu vườn Trung Hoa truyền thống, đặc biệt trong khu vực như Tô Châu. Trong hồ có khoảng 90 đảo, từ một số “đảo” nhỏ chỉ cỡ vài bước chân tới những hòn đảo lại khá lớn, diện tích khoảng vài km², nằm rải rác trong hồ. Hồ cũng là nơi tham quan và ngắm cảnh lý tưởng bằng những tàu đánh cá.
TRUYỀN THỐNG GIANG HỒ LY KHAI “LÀM GIẶC” PHƯƠNG NAM CHỐNG TẬP QUYỀN PHƯƠNG BẮC
Trong rất nhiều triều đại phong kiến tập quyền của Trung Quốc, Giang Tô nói riêng và vùng phía nam Trung Quốc từng của Bách Việt nói chung thường xuyên ở tình trạng có giặc “tự xưng vương” không theo triều đình trung ương. Một là “đám giặc” này bị triều đình đánh dẹp để lại xuất hiện “đám giặc” khác, hai là “đám giặc” này đem cả gia đình sang các nước khác, trong đó có nước Việt xin nhập cư.
Ly khai phương Bắc là truyền thống có từ thời nước Sở, mà bản chất chẳng hề quy phục nước Chu, lẫn Tần, và chính là nguồn gốc thành lập nên nước Hán. Truyền thống này của nước Sở lại xuất phát từ thời nhà Hạ, thời Đại Vũ.
Thời Hạ : Cối Kê là nơi Hạ Vũ mở đại hội chư hầu và qua đời
Quan hệ với nước ta : Thời kỳ Hùng Vương. Nhà Hạ có khả năng là một nhà nước của Bách Việt, vào thời kỳ Hùng Vương, mà năm ở phía nam sông Hoài Hà.
Thời Ân Thương : Sở Tử
– Tổ tiên của Sở là Dục Hùng, được cử đi cai quản khu vực ở phía Nam Triều Ca, giữ chức quan trong triều Thương. Dục Hùng đổi thành họ Hùng. Dục Hùng từng là thầy dạy học của Chu Văn Vương, có công trong việc tiêu diệt nhà Thương, nên con ông là Hùng Lệ và cháu ông là Hùng Cuồng đều được phong quan trong triều Chu. Đến đời Hùng Dịch thì được Chu Thành Vương phong cho đất Kinh, làm chư hầu kiến quốc, tước hiệu là Sở tử
Thời Chu : Sở Vương
– Đến năm 706 TCN, vua Sở là Hùng Thông (741 TCN-690 TCN) nhận thấy tổ tiên mình là thầy của Chu Văn vương, mà thế lực của mình hơn hẳn các nước Trung Nguyên nên không hài lòng với tược vị tử nữa. Năm 704 TCN, Hùng Thông tự làm lễ xưng vương hiệu, tức Sở Vũ vương bất chấp sự phản đối của vua nhà Chu. Từ đấy, nước Sở duy trì tước vương đến tận lúc diệt vong.
Quan hệ với nước ta
– Thục Phán (257 – 208 TCN/208 – 179 TCN) đánh thắng Hùng Vương thứ 18, lên làm vua nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa, xưng là An Dương Vương
Thời Tần :
– Nước Sở vẫn xưng vương ở Đông Nam bất chấp nhà Tần ở phía Tây Bắc
Quan hệ với nước ta
– Triệu Đà (235 TCN – 137 TCN), là tướng nhà Tần ly khai, đánh thắng An Dương Vương, thành lập nước Nam Việt, thành vua đầu tiên của nhà Triệu (204 TCN–111 TCN)
Thời Xuân Thu Chiến Quốc & Hán Sở tranh hùng
– Sở Nghĩa Đế (?-206 TCN) tuyên bố “Ai vào bình định Quan Trung trước thì sẽ cho người ấy làm vua”, kết quả Lưu Bang vào được Quan Trung trước, nhưng Hạng Vũ lại xưng Tây Sở Bá Vương
Thời Hán :
– Thời thượng cổ, nam bộ Giang Tô nằm cách xa trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ cổ (Thiểm Tây, Hà Nam và Sơn Tây), cho nên trong khi nhà Chu (1046 TCN – 256 TCN) chuyển sang nhà Tần (221 TCN – 206 TCN) thì ở Đông Nam, nước Sở vẫn cứ là … nước Sở. Dù qua thăng trầm, nước Sở (1030 TCN–223 TCN) vẫn giữ được các đời vua liên tục cho đến khi nhà Hán (202 TCN – 9; 25 – 220) ra đời. Lịch sử ra đời của nhà Hán gắn với nước Sở, vì Lưu Bang, Hạng Vũ đều xuất phát từ nước Sở. Dù Hán Cao Tổ Lưu Bang thắng, Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ thua, và nước Sở chấm dứt tồn tại từ đó, nhưng vì cả hai đều là người nước Sở, nên có thể nói rằng dù ai thắng ai thua, thì kết quả vẫn là người nước Sở đã diệt nước Tần, nhưng lại định đô ở kinh đô cũ của Tần để xây dựng nên nhà Hán.
– Lưu Ty, quan của nhà Hán, ly khai ở Giang Tô chống lại nhà Hán
Quan hệ với nước ta
– Khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống Đông Hán, thời Hán Quang Vũ Đế
Thời Tam Quốc : Kiến Nghiệp (Nam Kinh) của Đông Ngô Tôn Quyền
– Năm 238, Tôn Quyền đã thiên đô từ Vũ Xương (Kinh Châu, Hồ Bắc) về Mạt Lăng (Dương Châu, Giang Tô) và đổi tên là Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay). Đoạn Hoài Hà chảy qua Giang Tô trở thành giới tuyến giữa Đông Ngô và Tào Ngụy. Thời Tôn Quyền là lúc Đông Ngô cường thịnh. Trước các cuộc tấn công mãnh liệt của quân Tấn, quân Đông Ngô tan rã và kinh đô Kiến Nghiệp đã thất thủ vào tháng 3 năm 280, Tôn Hạo đầu hàng nhà Tấn, Đông Ngô diệt vong.
Quan hệ với nước ta
– Sĩ Nhiếp (137 – 226) là Thái thú Giao Chỉ vào cuối đời nhà Hán. Qua giai đoạn Tam Quốc, ông cát cứ và cai trị Giao Châu như một quốc gia độc lập từ 187 đến 226. Sau khi Sĩ Nhiếp qua đời, Tôn Quyền quyết định chia Giao Châu thành hai châu: Quảng Châu (phía bắc) và Giao Châu (phía nam, bao gồm Giao Chỉ) để dễ bề kiểm soát và triệt tiêu thế lực họ Sĩ.
– Khởi nghĩa của Bà Triệu (năm 248)
Thời Đông Tấn : Kiến Khang (Nam Kinh)
– Bắt đầu từ năm 304, Tây Tấn diệt vong do loạn Vĩnh Gia khi các ngoại tộc tại Trung Nguyên nổi loạn, do chiến loạn, đã có một lượng lớn nhân khẩu, bao gồm cả các sĩ tộc đã di cư từ Trung Nguyên đến đồng bằng trung hạ du Trường Giang, sử gọi là “y quan nam độ” (衣冠南渡), việc này đã có tác động sâu sắc đến diện mạo chính trị thời Đông Tấn, đồng thời cũng giúp phát triển kinh tế trung hạ du Trường Giang, khiến trung tâm kinh tế của Trung Hoa chuyển xuống phương nam. Năm 317, Vương Đạo (王導) đã phụ tá Tư Mã Duệ kiến lập triều Đông Tấn tại Kiến Khang (Nam Kinh).
Thời Nam-Bắc triều : Kiến Khang (Nam Kinh)
– Từ năm 420 trở đi, bốn triều đại kế tục nhau tại phương Nam Trung Quốc là Lưu Tống, Nam Tề, Lương và Trần cũng định đô ở Kiến Khang, chấm dứt khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc vào năm 589. Trong thời gian này, Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô lại một lần nữa trở thành giới tuyến phân chia giữa Bắc và Nam, là tiền tuyến trong các cuộc chiến tranh giữa hai bên.
Quan hệ với nước ta
– Lý Nam Đế (503 – 548), húy là Lý Bí là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tiền Lý và nước Vạn Xuân, sau khi đánh đuổi thứ sử Giao Châu của nhà Lương
– Nhà Lương cử Trần Bá Tiên làm Thứ sử Giao Châu. Trần Bá Tiên đánh thắng Lý Bí, rồi quay về đánh thắng nhà Lương thành lập nhà Trần, xưng là Trần Vũ Đế (503 – 559).
– Triệu Quang Phục (524 – 571) đóng quân trong đầm Dạ Trạch cầm cự với Trần Bá Tiên, quân dân tôn xưng là Dạ Trạch Vương.
Tháng 3 năm 548, nghe tin Lý Nam Đế mất trong động Khuất Lão, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng hiệu Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương lấy lại được nước Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Biên.
– Lý Phật Tử (518 – 602) lên làm vua cả nước, đóng đô ở Phong Châu. Vì ông cũng xưng là Lý Nam Đế, nên đời sau gọi là Hậu Lý Nam Đế để phân biệt với Lý Bí. Năm 602, Tùy Văn Đế đánh thắng Lý Phật Tử.
Thời Tùy
– Năm 589, Tùy diệt Trần, một lần nữa thống nhất Nam-Bắc.
– Năm 605, Tùy Dạng Đế đã giao công việc mở rộng, kéo dài Đại Vận Hà cho Vũ Văn Khải, để có thể nối liền Trác Quận (nay là Bắc Kinh) với Hàng Châu. Công việc này kéo dài trong 6 năm và đoạn kênh nằm giữa Trường Giang và Hàng Châu được đặt tên là Giang Nam Vận Hà (江南运河).
– Thời nhà Tùy, triều đình đã có một chính sách cậy quyền đối với các di dân Nam triều, cảnh tượng tiêu điều bao trùm lên nhiều khu vực tại Tô Nam. Về sau, do sự đấu tranh của địa chủ phương Nam, triều đình nhà Tùy đã phải áp dụng một chính sách ôn hòa hơn đối với phương nam, khiến Tô Nam và các phần khác từng nằm dưới sự thống trị của Trần xuất hiện cảnh phục hồi. Thời đại loạn
– Tùy mạt, quân phiệt Thẩm Pháp Hưng (沈法兴) đầu tiên đã phá hủy Dương Châu thành, và sau đó công nhập Giang Nam, chiếm được khu vực nay là Chiết Giang và nam bộ Giang Tô, tự xưng Lương vương. Sự việc này đã khiến cho kinh tế Giang Nam chịu thiệt hại không nhỏ.
Thời Đường
– Việc cung cấp lương thực của hoàng thất thời Đường dựa vào Giang Nam, triều đình quy định vào tháng 2 mỗi năm, thuyền vận lương Giang Nam sẽ tập trung tại Dương Châu, từ đó Dương Châu trở thành thành thị thương nghiệp nổi tiếng nhất Trung Quốc. Thời Đường, bộ phận phía nam Trường Giang của Giang Tô thuộc Giang Nam Đông đạo, bộ phận ở phía bắc Trường Giang và phía nam Hoài Hà thuộc Hoài Nam đạo, bộ phận ở phía bắc Hoài Hà thuộc Hà Nam đạo.
– Cuối thời Nhà Đường, Trung Quốc xuất hiện tình trạng phiên trấn cát cứ nghiêm trọng, tại Giang Tô đã xuất hiện tình trạng đối đầu và xung đột trong một thời gian dài giữa Hoài Nam tiết độ sứ (trú địa Dương Châu) và Chiết Tây quan sát sứ (trú địa Trấn Giang).
– Đến thời cuối Nhà Đường, Kiến Khang nằm ở nơi giao giới giữa ba phiên trấn lớn là Hoài Nam, Chiết Tây và Tuyên Hấp, lại càng dễ bị phá hủy trong chiến tranh, đến tận khi Nam Đường lập quốc thì thành mới bắt đầu được khôi phục.
Quan hệ với nước ta
– Mai Hắc Đế (670 – 723)
– Phùng Hưng
Thời Ngũ Đại Thập Quốc
– Nước Ngô : Vào cuối thời Nhà Đường, tướng Dương Hành Mật đã cát cứ vùng Hoài Nam, sau đó ông được phong làm Hoài Nam tiết độ sứ năm 892. Năm 902, Dương Hành Mật được Đường Chiêu Tông phong làm Ngô vương. Sau khi nhà Hậu Lương thay thế Nhà Đường, trưởng nam của Dương Hành Mật là Dương Ác đã từ chối công nhận điều này và vẫn sử dụng niên hiệu của Nhà Đường. Từ thời điểm này, nước Ngô trở thành một chính thể độc lập và tự chủ. Ban đầu, Kinh đô nước Ngô đặt tại Quảng Lăng (nay là Dương Châu) và lãnh thổ bao gồm nam bộ An Huy, nam bộ Giang Tô, đại bộ phận Giang Tây, Hồ Nam cùng đông bộ Hồ Bắc. Kinh đô sau này được chuyển tới Kim Lăng (nay là Nam Kinh).
– Nước Ngô Việt : Trong lúc đó, cực nam của Giang Tô (khu vực Tô Châu ngày nay) thuộc quyền cai quản của Tiền Lưu. Sau khi Nhà Đường diệt vong, Tiền Lưu cũng tự xưng Ngô Việt vương, lập ra nước Ngô Việt, kinh đô nước này đặt tại tại Tây Phủ (nay là Hàng Châu). Lãnh thổ Ngô Việt gần như bao gồm toàn bộ lãnh thổ nước Việt thời Xuân Thu, chứ không bao gồm đất của nước Ngô thời đó – điều này dẫn tới những lời cáo buộc của Dương Ngô rằng Ngô Việt có mưu đồ đối với lãnh thổ của họ, và tên gọi này là nguồn gốc của các căng thẳng trong nhiều năm giữa hai quốc gia. Ngô Việt cuối cùng đã sáp nhập vào Tống một cách tương đối hòa bình.
– Nước Nam Đường : Từ Tri Cáo, tên thật Lý Biện, ban đầu là con nuôi Dương Hành Mật. Tuy nhiên đến năm 937, ông đã chính thức chiếm đoạt quyền hành của nước Ngô, cho rằng mình thuộc dòng dõi hoàng tộc Nhà Đường nên đã cải lại sang họ Lý, tự xưng Hoàng đế, lập nên nước Nam Đường. Kinh đô Nam Đường được đặt ở Kim Lăng (cũng gọi là Tây Đô), ngày nay là Nam Kinh. Nước Nam Đường nắm bắt thời cơ, diệt Ân (một chính quyền ly khai khỏi Mân) và cả Mân vào năm 945, thôn tính nước Sở năm 951. Sau khi nhà Hậu Chu thay nhà Hậu Hán, Hậu Chu Thế Tông (Sài Vinh) mang quân nam tiến, đánh cho Nam Đường đại bại. Sau hai cuộc chiến năm 956 và 958, Nam Đường bị mất phần đất Giang Bắc, chỉ co cụm về Giang Nam. Lý Cảnh phải xưng thần, làm chư hầu với Hậu Chu và từ bỏ niên hiệu riêng, dùng niên hiệu của Hậu Chu. Năm 976, Tống Thái Tổ cất quân đánh Nam Đường, bắt vua Nam Đường là Lý Dục về Biện Kinh. Nước Nam Đường diệt vong.
– Trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, đại bộ phận vùng Hoài Bắc của Giang Tô thuộc quyền cai quản của Ngũ Đại.
Thời Tống
– Tô Châu và Dương Châu đã phát triển thành các trung tâm thương nghiệp nổi bật.
– Năm 1127, nhà Kim của người Nữ Chân sau khi chinh phục Hoa Bắc đã tiến đến vùng Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô, Hoài Hà sau đó trở thành biên giới giữa triều Kim ở phía bắc và triều Nam Tống ở phía nam.
Thời Nguyên
– Năm 1279, người Mông Cổ chiếm lĩnh Trung Quốc.
Thời Minh
– Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã lập nên Nhà Minh, định đô ở Nam Kinh.
– Năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Minh Thái Tông Chu Đệ chuyển kinh đô đến Bắc Kinh
– Thời Minh, kinh tế và văn hóa của Giang Tô phát triển ở thời đỉnh cao: Tô Châu và Tùng Giang dựa trên ngành dệt phát triển vẫn tiếp tục nắm giữ vị thế là trung tâm kinh tế của toàn Trung Quốc. Trong một thời gian dài, Giang Tô là nơi sản sinh một tỷ lệ lớn trạng nguyên trong các kỳ thi khoa cử. Đối với toàn Trung Quốc, các phong cách văn hóa và quan điểm thẩm mỹ tại Giang Tô có ảnh hưởng sâu rộng. Dương Châu và Hoài An nằm trên tuyến Đại Vân Hà nối kinh thành và Hàng Châu (tuyến vận chuyển lương thực từ phương Nam lên kinh thành) và là điểm khống chế mậu dịch muối ăn, nằm trong số các thành thị phồn hoa nhất ở phía bắc Trường Giang tại Trung Quốc khi đó.
Thời Thanh
– Nam Kinh bị chính quyền phương Bắc tàn phá và thảm sát, đồng hoá về văn hoá
– Thời thực dân, Thượng Hải được thành lập, thành cảng quốc tế
– Cuối thời Nhà Thanh, nam bộ Giang Tô nằm dưới quyền kiểm soát của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Đến năm 1853, Thái Bình Thiên Quốc thiên đô đến Nam Kinh và đổi tên thành Thiên Kinh. Sau đó, các cư dân nói Quan thoại đã di cư đến Giang Tô, khiến cho Nam Kinh, Trấn Giang và Dương Châu không còn là vùng nói tiếng Ngô; vị thế trung tâm kinh tế Trung Quốc của Tô Châu cũng về tay Thượng Hải.
Thời dân quốc
– Năm 1927, Tưởng Giới Thạch đã thiết lập chính phủ trung ương tại Nam Kinh, rồi chuyển về Trùng Khánh, rồi lại về Nam Kinh. Năm 1949, quân Cộng sản vượt Trường Giang và chiếm Nam Kinh, chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Đài Loan.
Chia sẻ:
Scroll to Top