![]()
Nếu Thăng Long có thầy Chu Văn An, được mệnh danh là thày giáo của muôn đời, được thờ ở Quốc Tử Giám, gắn với truyền thuyết về người học trò thuỷ thần, vâng lời thầy hy sinh tính mạng làm mưa cứu dân, thì ở Gia Định bậc “Vạn thế sư biểu” có thầy Võ Trường Toản.
Nếu phía Bắc có Nguyễn Bình Khiêm, người sinh ra giữa thời kỳ phân tranh giữa nhà Lê Mạc chúa Trịnh Nguyễn, thì phía Nam có thày Võ Trường Toản, người sinh ra giữa thời phân tranh Tây Sơn Nguyễn Ánh, Chămpa Chân lạp.
Đây không chỉ là những nhà giáo giỏi mà là các vị đạo sỹ, các vị chân tu giữa đời thường, đã tạo lập nên cả một nền tảng nhân sự và văn hoá cho nhiều thế hệ sau.
Xử sĩ thời Nguyễn sơ, hiệu là Sùng Đức, sinh tại làng Thanh Kệ (nay là Thanh Lương, phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, thành phố Huế). Thời loạn lạc, ông phiêu bạt vào Nam, ngụ ở làng Hòa Hưng, huyện Bình Dương.
Võ tiên sinh là người ẩn dật, không làm quan với cả Tây Sơn lẫn chúa Nguyễn, chỉ chuyên tâm mở trường dạy học.
Ông đã đào tạo hàng trăm học sinh, nhiều người đỗ đạt làm quan lớn, nhiều người chỉ học để sống cho có đạo lý, song tất cả đều là bậc anh tài, mang hào khí đất nước dân tộc, trong đó có
– Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất, cùng với Võ Tánh tử thủ giữ thành Quy Nhơn, là công thần hàng đầu sáng lập nên nhà Nguyễn
– Trịnh Hoài Đức,
– – – Trong bộ Tam Gia Gia Định, Trịnh Hoài Đức là chủ soái
– – – Trong Hội Sơn Sài Gòn, Trịnh Hoài Đức là Chỉ Sơn
– Lê Quang Định,
– – – Trong bộ Tam Gia Gia Định
– Ngô Nhân Tịnh
– – – Trong bộ Tam Gia Gia Định,
– – – Trong Hội Sơn Sài Gòn, Ngô Nhơn Tĩnh là Nhữ Sơn
– – – Trong Bình Dương thi xã, Ngô Nhơn Tĩnh lại đứng đầu, nổi danh phong nhã, được biết đến là người “viết đẹp, vẽ tài” nhất đương thời.
– Hoàng Ngọc Uẩn
– – – Trong Hội Sơn Sài Gòn, Hoàng Ngọc Uẩn là Hối Sơn
– Diệp Minh Phụng
– – – Trong Hội Sơn Sài Gòn, Diệp Minh Phụng là Kỳ Sơn
– Lê Bá Phẩm
– Phạm Ngọc Uẩn
Các nơi thờ ông
– Đình Chí Hoà, hẻm số 475 đường CMT8, TP HCM (đây là nhà và nơi ông dạy học)
– Lăng mộ đền thờ cụ Võ Trường Toản, 3MJ4+5VR, ĐH16, Bảo Thạnh, Ba Tri, Bến Tre, Việt Nam
—o—o—o—
Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh
Võ Trường Toản chưa rõ năm sinh, mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7 năm 1792).
Võ Trường Toản hiệu Sùng Đức do chúa Nguyễn Phúc Ánh phong tặng (sau đổi thành Tố Đức); là một nhà giáo Việt Nam nổi tiếng “học rộng, có tài thao lược và đức hạnh hơn người” ở Gia Định vào thế kỷ XVIII.
Theo GS. Trịnh Vân Thanh, thì tổ tiên Võ Trường Toản vốn là người Hoa lánh nạn Mãn Thanh sang cư trú ở Đàng Trong. Đến khi xảy ra cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, con gái thứ hai của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên với vua Chân Lạp Chey Chetta (1576-1628), thì họ cũng từ miền Trung vào miền Nam lập nghiệp.
Về tiểu sử của ông đã được đại thần Phan Thanh Giản tóm tắt trong một bài văn bia bằng chữ Hán soạn năm Đinh Mão (1867), tạm dịch ra như sau: “Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản. Đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Quảng Đức), hoặc nói người Bình Dương (Gia Định), trước thọ nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật có thuật nghiệp thâm uyên thông đạt. Xảy hồi loạn Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn mở trường dạy học, thường học trò đến mấy trăm. Ông Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Thứ đến là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tịnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc đều ẩn dật. Ngoài ra không kể hết được…Các ông ấy đều gặp hồi phong vận, thời trung hưng triều Gia Long đức bậc tôi hiền, có người hoặc sát thân để làm nên điều nhân, hoặc quên mình để trọng tiết nghĩa, thảy đều nên công nghiệp lớn…Lúc ngự vào Gia Định, đức Thế Tổ Cao Hoàng đế hằng triệu tiên sinh tới đối ứng…Tiên sinh không hứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận, trau dồi về sau”…
Hiện nay văn thơ của Võ Trường Toản chỉ còn lưu truyền một bài “Hoài cổ phú”, viết bằng chữ Nôm, dài 24 câu.
Hay tin ông mất, chúa Nguyễn cảm mến, tiếc thương, ban từ hiệu là “Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh” (nghĩa là bậc xử sĩ Võ tiên sinh, người Gia Định, sùng về đạo đức và là như cha của Vua) để ghi vào mộ. Để tưởng nhớ công đức của thầy (như cha), Vua Gia Long cũng có đôi liễn tưởng niệm:
Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử
Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong”
Dịch nghĩa:
Lúc sống, dạy dỗ được người, không con mà như có
Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn..
Hiện trong Tụy Văn lâu nằm trong khuôn viên Văn Thánh Miếu Vĩnh Long có đặt bài vị thờ ông.
Tên ông còn được đặt tên cho các công trình công cộng, như đường phố, trường học.
Hài cốt của nhà giáo Võ Trường Toản lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, là nơi ông từng ngồi dạy học (di tích hiện nay là đình Chí Hòa, ở hẻm số 475 đường Cách Mạng Tháng Tám, Thành phố Hồ Chí Minh). Theo Huỳnh Minh, chuẩn theo lời tâu của Phan Thanh Giản, năm 1852, vua Tự Đức đã ban chỉ “lập đền thờ, hiến ruộng để phụng sự, mỗi năm xuân thu cúng tế” cho ông.
Theo Đại Nam thực lục, năm 1852, Nguyễn Tri Phương có lời tâu xin lập nhà thờ cho ông ở Gia Định.
Sau khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông (đốc học Vĩnh Long), Phạm Hữu Chánh (hiệp trấn An Giang), hiệp cùng nhiều sĩ phu khác đã cải táng di cốt của Võ Trường Toản (cùng vợ và con) về xã Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre), với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng cai quản của quân xâm lược. Ngày cải táng (28 tháng 3 âm lịch năm 1867), Nguyễn Thông đã thay mặt các nho sĩ đứng làm chủ lễ.
Theo Đại Nam thực lục, năm 1867, nhà Nguyễn cho xây mộ và nhà treo biển cho ông.
Khu mộ của Võ Trường Toản được người ở xã Bảo Thạnh (trước đây gọi là làng Mù U) gọi là “khu mộ ông Hậu Tổ”, vì ông là người có công truyền dạy luân lý Khổng Mạnh ở vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Ở đây, ngoài ngôi mộ ông, còn có mộ vợ và con gái (vợ chồng ông chỉ sinh được 1 gái, bị bệnh mất từ nhỏ). Cả ba đều được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng. Ở ngoài khu mộ, phía bên phải là một nhà thờ nhỏ đẹp với mái cong, hai tầng, và bên trong có đặt tượng của ông.
—o—o—o—
HOÀI CỔ PHÚ
1.
Rỡ rỡ cúc ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo;
Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời.
2.
Cho hay vực thẳm nên cồn; khá biết gò cao hóa bể.
3.
Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy mươi năm;
Đò tạo hóa đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.
4.
Nhấp nháy ngọn đèn trong kiếng, lênh đênh bóng nguyệt dòng sông.
5.
Đường Ngu ấp tổn rượu ba chung, đường say đường tỉnh;
Thang Võ chinh tru cờ một cuộc, thoạt đặng thoạt thua.
6.
Của có không nào khác đóm mây; người tan hiệp dường như bọt nước.
7.
Lánh non Thú cam bề ngạ tử hai con Cô Trúc đã về đâu?
Luyện linh đan lo chước trường sinh, bốn lão Thương san đà bặt dấu!
8.
Mộng tà nửa gối, bướm Trang Chu giấc hởi mơ màng;
Xuân lụn mấy canh, quyên Thục Đế tiếng còn khấp khởi.
9.
Tha thiết bấy một gò hoàng nhưỡng, ngọc lấp hương chôn;
Áo não thay! mấy cụm bạch vân, mưa sầu gió thảm.
10.
Ngựa trấn ải một may một rủi; hươu dưới Tần bên có bên không.
11.
Hán Võ ngọc đường người ngọc nọ xưa đà theo gió;
Thạch Sùng kim ốc của tiền xưa nay đã lấp sương.
12.
Lao xao cõi trần ai, trường hoan lạc gẫm không mấy lúc;
Thắm thiết cơn mộng ảo, đoạn biệt li há dễ bao lâu.
13.
Nghìn năm hồn phách Hán anh hùng, hồn phách mất người kia cũng mất,
Muôn dặm nước non, đường thế võ, nước non còn đời ấy đâu còn.
14.
Thương hỡi thương! huyền quản cung Tần, chim làm tổ biếng kêu văng vẳng,
Tiếc ỷ tiếc! y quan đời Tấn, biến nên cồn cỏ mọc xanh xanh.
15.
Cung Tùy xưa chim nói líu lo, mấy độ xuân về hoa sái lụy,
Đài Ngô trước hươu nằm ngả ngớn, đổi ngàn sương ngọn cỏ đeo sầu.
16.
Ô Giang đêm thẳm há trăng mành, quạnh quẽ vó chùng họ Hạng; Cai Hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu.
17.
Đài vắng Nghiêm Lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết; thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken mù.
18.
Cho hay dời đổi ấy lẽ thường, mới biết thảo ngay là nghĩa cả.
19.
Lụy rơi non Lịch, Đại Thuấn từng dời tính hai thân;
Sương lọt áo bô, Tử Khiên lại trọn niềm một thảo.
20.
Tôn khóc măng, Tường nằm giá, nằn nằn lo giữ đạo con;
Tích dấu quít, Cự chôn con, nắm nắm đua đền nghĩa mẹ.
21.
Trước đèn Trụ mổ gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia;
Dưới thành Ngô treo mắt đôi tròng, nghìn năm hãy người đều nhởm gáy.
22.
Tám trăm dặm xông pha ải Bắc, thương họ Hàn chói lói lòng dân;
Mười chín năm giữ một niềm Tây, cảm ông Võ phơ phơ đầu bạc.
23.
Cật Võ Mục nhuộm thanh bốn chữ, tấm trung thành đã thấu trời xanh;
Áo Thiên Tường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đỏ.
24.
Trời món đất già danh hỡi rạng, lụy non Ngưu nghĩ cũng sụt sùi; biển khô đá rả tiết nào phai, sử họ Tư Mã chép còn tỏ rõ.
—o—o—
NGÔ TÙNG CHÂU
Ngô Tùng Châu hay Ngô Tòng Chu sinh năm 1752 mất ngày 5 tháng 7, 1801, là khai quốc công thần của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Cùng với Võ Tánh, ông đã ra sức cố thủ thành Bình Định trong nhiều tháng dài, cầm chân được đội quân hùng mạnh của nhà Tây Sơn, tạo cơ hội cho chúa Nguyễn vượt biển đánh lấy được kinh đô Phú Xuân, hoàn thành công cuộc thống nhất Việt Nam.
Cầm cụ trong thành Quy Nhơn tới, sức cùng lực kiệt, lương thảo hết, quân cứu viện của Nguyễn Ánh chắc chắn không đến được nơi, mà quân Tây Sơn quá mạnh, Võ Tánh quyết định tư tử, với ý định giao nộp thành cho quân Tây Sơn, với mong muốn bao toàn tính mạng cho quân sỹ ra hàng, biết ý định này của Võ Tánh, Ngô Tùng Châu uống thuốc độc chết, sau đó Võ Tánh cũng tự thiêu mà chết ở lầu Bát Giác. Trước đó, hai ông đều có cơ hội trốn thoát nhưng đã không làm.
Ngô Tùng Châu là người thôn Thái Thuận, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, trấn Quy Nhơn. Thi hài Ngô Tùng Châu sau khi tự vẫn đã được đưa về chôn ở Phù Cát.
Mộ Ngô Tùng Châu do Nguyễn Ánh lập hình chữ nhật (đây là mộ giả, nằm kề bên mộ Võ Tánh hình tròn trên có đắp biểu tượng một con dơi). Vì thân thể Võ Tánh đã bị cháy hết nên mộ ở thành Bình Định và mộ ở Phú Nhuận, đều chôn hình nhơn bằng sáp. Lăng nằm trên nền cũ của nội cung thành Hoàng Đế của Nguyễn Nhạc, cũng là thành Đồ Bàn của vua Chăm xưa. Lấy lầu Bát Giác (nơi Võ Tánh tự thiêu) làm nơi hương hỏa cho họ Võ, họ Ngô.
—o—o—
TAM GIA GIA ĐỊNH
1. Trịnh Hoài Đức, chủ soái
2. Ngô Nhân Tịnh
3. Lê Quang Định
Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825), còn có tên là An (安), tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai; là một công thần của triều Nguyễn, là một nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 18-19. Sinh thời, ông từng được vua nhà Nguyễn ban tước An Toàn hầu.
Trịnh Hoài Đức quan văn, nhiều lần giữ các chứ vụ quan trọng, và hai lần giữ chức Hiệp trấn Gia Định Thành và quyền Tổng trấn, mà thường chỉ dành cho nhóm Ngũ hổ tướng Gia Định.
– Năm 1808, ông được bổ làm Hiệp trấn Gia Định Thành, phụ tá cho Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn (hay Nhân).
– Năm 1812, ông được bổ nhiệm làm Lễ bộ Thượng thư, kiêm quản Khâm thiên giám.
– Năm 1813 lại đổi làm Lại bộ Thượng thư.
– Năm 1816 ông lại được bổ nhiệm làm Hiệp Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ hai.
– Sau khi, Tổng trấn Nhơn về kinh, ông tạm giữ quyền Tổng trấn (1820).
Ông nổi tiếng với cuốn Gia Định thành thông chí, được xem là một trong những sử liệu quan trọng nhất cho các nhà nghiên cứu sử học và địa lý của Nam Bộ.
Lăng mộ Trịnh Hoài Đức hay còn gọi là Lăng Ông, toạ lạc tại số 28 đường Trịnh Hoài Đức, Khu phố 3, Phường Trung Dũng, Thành Phố Biên Hoà (bài vị được thờ ở chùa Minh Hương Gia Thạnh – Chợ Lớn).
Tam Gia Gia Định đứng đầu ngành ngoại giao của nhà Nguyễn
– Năm 1801, chánh sứ Trịnh Hoài Đức cùng hai phó sứ Ngô Nhơn Tĩnh và Hoàng Ngọc Ẩn đi sứ Trung Quốc để báo tin thắng thế;
– Năm 1802, chánh sứ Lê Quang Định cũng đi Trung Quốc để cầu phong và xin đổi quốc hiệu (bỏ tên An Nam, lấy tên Nam Việt, nhưng vua Thanh chỉ nhận đổi là Việt Nam);
– Năm 1807, chánh sứ Ngô Nhơn Tĩnh đi La Bích để phong vương cho vua Chân Lạp.
Tam Gia Gia Định trước tác các công trình “khoa học sử địa”:
– Trịnh Hoài Đức với Gia Định thành thông chí,
– Lê Quang Định với Đại Việt thống nhất dư địa chí.
– Ngô Nhơn Tĩnh (và chủ biên Bùi Dương Lịch) với Nghệ An phong thổ ký.

