![]()
Bạn có biết năm 1965, Ất Tỵ, mệnh Phú Đăng Hoả là năm đỉnh cao của địa đạo. Nhiều địa đạo lớn đồng loạt được đào mới, khôi phục hoặc hoàn thành vào năm này, như Củ Chi, Vĩnh Mốc…. Lý do là vì địa đạo là đường đi trong lòng đất, mà ngoằn nghèo y như con rắn và mệnh Phú Đăng Hoả rất hợp với địa đạo chiến đấu.
Ngoài ra, đến hơn một nửa địa đạo có tên là An hoặc được đặt trên các thôn xã, núi đồi, rừng biển có tên là An, như An Xuân, An Phú, An Lộc, An Vĩnh, An Nhơn, An Thới, Tuy An, Ba Làng An … Lý do cũng vẫn bởi vì âm “an” có tính đất, an cư, an giường, an ban thờ, an mộ … đều là an trong đất, an trên đất cả.
Ất Tỵ Phú Đăng Hoả 2025 vẫn rất hợp với địa đạo, về cả vật chất, thân thể và tinh thần. Chúng ta hãy cùng nhìn lại các việc đã làm trong năm Ất Tỵ mà có năng lượng này
– An đất, mua đất, làm hàng rào đất, làm lễ đất
– An cư : mua nhà, xây nhà hoặc sửa nhà
– An bếp, đặc biệt bếp lửa
– An giường, cho người sông trong gia đình
– An nôi, cho ca sinh
– An ban thờ, an bát hương
– An mộ
– An cây dòng họ
– Đào hố phân
– Đào ao
– Đào mương
– Đào giếng hoặc khoan giếng
– Đào xới đất trồng cây
– Chôn nhau cắt rốn hoặc xem lại các vấn đề về nhau rốn
– Làm vườn
– Làm đồng
– Đi rừng
– Chăm sóc thân thể
Rắn, mệnh hoả mộc đất rất nhẫn nại, bền bỉ, trực tiếp, đơn giản.
Có việc nào trong các việc trên mà trong năm 2025, mà
– bạn dự định, bạn vẽ ra, bạn nghĩ đến … mà bạn không làm ?
– bạn làm rồi bỏ dở ?
Có việc nào trong năm Ất Ty khiên bạn bị kéo xuống đất, tỉnh mộng hay không ?
Danh sách địa đạo sử dụng trong kháng chiến chống Pháp (hầu như đào năm 1947, 1948) và chống Mỹ (hầu như đào trong vài từ năm 1965) và nay trở thành di tích lịch sử
– Địa đạo Tằng My, Nam Hồng, thôn Đoài, Đông Anh, Hà Nội :
– – – Khoảng 11km địa đạo với 465 hầm bí mật, hơn 2.600 hố chiến đấu
– – – Đào từ năm 1947 nối thông các nhà dân của Tằng My và Nam Hồng, và chạy bên dưới cũng như ra một số địa điểm như đường làng, bụi tre của làng.
– – – Bờ nam sông Cà Lồ
– Địa đạo Vịnh Mốc, Vĩnh Linh, Quảng Trị
– – – Khoảng 2km địa đạo
– – – Đào năm 1965-1967, trước đó có một số hệ thống địa đạo khác tại Vĩnh Linh như Đơn Duệ, Tân Lý, Xóm Bợc, Bình Minh mà đã bị đánh sập
– – – Bờ bắc sông Bến Hải
– Địa đạo Kỳ An, Tam Kỳ, Quảng Nam
– Địa Đạo Phú An Phú Xuân, R3GC+J3X, Phú An, Đại Lộc, Quảng Nam, Việt Nam
– – – Địa đạo nằm sâu trong lòng đất, chiều dài gần 2.000m với 21 ngõ ngách phức tạp xuyên qua nhà dân, bụi cây, lũy tre, cùng với đó là hệ thống giao thông hào chằng chịt xung quanh. Độ rộng, hẹp của lòng địa đạo được xây dựng khác nhau tùy vào địa hình, địa chất khu vực đó với chỗ sâu nhất khoảng 2m.
– – – Sông Thu Bồn & sông Vu Gia
– Địa đạo A Nông, A Xan, Tây Giang, Quảng Nam
– – – Cụm địa đạo A Nông gồm 5 địa đạo Tâm Abóc, Ch’run, Abuôl, Bh’nơm và L’bơơi (thuộc địa phận thôn A Xòo, xã A Nông) với chiều dài tổng cộng trên 2km cửa hầm cao chừng 1,8m, rộng 1,5m.
– Địa đạo ở Bình Hải, Bình Sơn, Quảng Ngãi (sông Trà Bồng)
– – – Địa đạo Đàm Toái, Ba Làng An, thôn Phú Quý, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, cách TP. Quảng Ngãi 25 km về hướng Đông Bắc. Địa đạo Đám Toái được nhân dân địa phương đào từ năm 1945 để tránh các cuộc càn quét của dân Pháp. Đầu năm 1965, địa đạo được tu bổ, đào thêm làm nơi sơ cứu thương binh và dân chúng ở chiến trường Đông Bình Sơn. Địa đạo có tổng chiều dài trên 100m, chiều cao 1,6 – 1,9m, rộng 0,9m, uốn lượn hình chữ z. Sáng ngày 09/9/1965, sau thất bại ở trận Vạn Tường, quân Mỹ đã đổ bộ xuống bản đảo Ba Làng An càn quét và phát hiện được địa đạo. Chúng dùng mìn đánh sập địa đạo, giết hại khoảng 60 cán bộ, y bác sĩ, y tá, thương bệnh binh và nhân dân đang điều trị tại đây.
– – – Địa đạo Phú Quý (xã Bình Châu)
– – – Địa đạo An Thới : nay thuộc khu dân cư Hải An, thôn Vạn Tường, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi.
– – – Địa đạo An Vĩnh, núi An Vĩnh thuộc thôn An Vĩnh, xã Tịnh Kỳ, thành phố Quảng Ngãi : tổng chiều dài đường hầm 450m, rộng 1,8m và cao 2,5m, được nhân dân xã Tịnh Kỳ và một số cán bộ, lực lượng dân quân vùng Đông Sơn Tịnh xưa kia tham gia đào, đắp từ năm 1947 đến năm 1951.
– – – Địa đạo Vạn Tường (xã Bình Hải)
– – – Địa đạo An Lộc (xã Bình Hoà)
– – – Địa đạo Tuyết Diêm (xã Bình Thuận)…
– – – Địa đạo Hải Nam
– – – Hầm Thanh Thủy (Bình Hải)
– Địa đạo Gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
– – – Xây năm 1964, hoàn thành năm 1965
– – – Địa đạo Gò Thì Thùng có độ cao khoảng 400m so với mực nước biển, có đường hầm dài 1.948m, sâu 4,5m, rộng 0,8m và có 486 giếng đào cùng với các hệ thống hầm chỉ huy, hầm chứa lương thực, vũ khí, nước uống dự trữ… có thể chống được đạn pháo và bom loại nhỏ.Ngoài đường hầm chính và những đường nhánh dưới mặt đất, xung quanh địa đạo Gò Thì Thùng có nhiều lớp chiến hào chằng chịt thông với nhau và thông với địa đạo; dọc theo chiến hào được bố trí nhiều công sự chiến đấu. Giữa những lớp giao thông hào ở phía trước và phía sau địa đạo ta cắm những bãi chông thấp chống bộ binh hành quân và cọc cao chống máy bay hạ cánh đổ quân. Ngoài ra, địa đạo được che phủ bởi một rừng hoa sim mọc tự nhiên, bên trên là tán rừng rợp mát.
– Địa đạo Nhơn Trạch, Trần Phú, Nhơn Trạch, Đồng Nai
– Địa đạo Long Phước, Đường 85 ĐT52, Long Phước, Bà Rịa, Bà Rịa – Vũng Tàu :
– – – Khởi đầu từ phong trào đào hầm bí mật tại nhà ông Năm Hồi năm 1948, chi bộ Long Phước đã vận động nhân dân phát triển thành hệ thống địa đạo ở cả 5 ấp trong xã: ấp Đông, ấp Tây, ấp Nam, ấp Bắc và ấp Phước Hữu. Các cụm địa đạo được nối liền với nhau bởi đường xương sống, có hầm bí mật chứa lương thực dự trữ, các công sự chiến đấu để đánh trả địch. Đường địa đạo xương sống cách mặt đất 2-3m, lòng địa đạo cao 1,5-1,6m, rộng 0,6-0,7m, bảo đảm đi lại vận động khá dễ dàng. Tuyến địa đạo ấp Đông dài 360m có nhiều công sự chiến đấu, trạm cứu thương, kho vũ khí và lương thực.
– – – Trong kháng chiến chống Mỹ, hệ thống địa đạo Long Phước được khôi phục và phát triển thành hệ thống liên hoàn vững chắc. Địa đạo được đào sâu xuống lòng đất tới 6m, đường xương sống mở rộng 0,7-0,8m, cao 1,6-1,8m, có nhiều cửa ngăn và lỗ thông hơi, nhiều ụ chiến đấu. Khu địa đạo ấp Bắc, ấp Tây dài tổng cộng 3,6km, hai bên phía trên mặt đất có giao thông hào, công sự chiến đấu, hầm chông, bãi mìn… là các bẫy tử địa với quân giặc.
– Địa đạo Phú Thọ Hòa ở 139 đường Phú Thọ Hòa, phường Phú Thọ Hòa (quận Tân Bình cũ), TP HCM
– – – Đào năm 1947 https://vi.wikipedia.org/…/%C4%90%E1%BB%8Ba_%C4%91%E1…
– Địa đạo Củ Chi, TP HCM chạy theo sông Sài Gòn
– – – Bắt đầu đào từ 1948, sau đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào. Về quy mô, hệ thống địa đạo có tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng 3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 5–8 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m. Lúc này, địa đạo không chỉ còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí,…
– – – Khu địa đạo Bến Dược (thuộc ấp Phú Hiệp, xã An Nhơn Tây)
– – – Khu địa đạo Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức – căn cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến)
– – – Khu địa đạo Tân Phú Trung (còn gọi là địa đạo Cây Da tại ấp Cây Da, xã Củ Chi) cũng đã được chuẩn bị xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa.
– – – Sông Sài Gòn
– Địa đạo An Tây, Bến Cát, Bình Dương (địa đạo Tam Giác Sắt, địa đạo Tây Nam Bến Cát)
– – – Địa đạo chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, từ đường chính tỏa ra vô số nhánh dài ngắn ăn thông hoặc độc lập với nhau tùy theo địa hình, có một số nhánh trổ ra sông Sài Gòn. Tuyến chính của địa đạo cách mặt đất 4m, chiều cao địa đạo 1,2m, rộng 0,8m. Có những đoạn được thiết kế 2–3 tầng. Chỗ lên xuống có nắp hầm bí mật. Trong địa đạo có nút thắt ở những điểm cần thiết, có những đoạn hẹp, người phải thật gọn nhẹ mới chui qua được.
– – – Sông Thị Tính & sông Sài Gòn
– Địa đạo An Thới, An Tịnh, Trảng Bàng, Tây Ninh
– Địa đạo Lợi Thuận thuộc địa phận ấp Thuận Hoà, (xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu củ), nay là xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. cách cửa khẩu quốc tế Mộc Bài 6km. Được xây dựng vào tháng 7/1963, cứ ba người đào một hố sâu. Khoảng cách giữa hai hố là 10m. Đào hang mái vòm cao 1.30m, rộng 0.80m. Trên tuyến địa đạo cứ 30m có một công sự chiến đấu cá nhân và xen kẽ có công sự chiến đấu cho một tổ được đắp đất cùng tre gỗ kiểu hình tam giác cao 0.60m, hai đầu địa đạo có giao thông hào chạy ra các hướng phòng thủ chủ yếu của địa đạo.
Một số điạ đạo cổ nằm trong nhà dân hoặc ẩn trong các di tích đình chùa
– Địa đạo ở đình Quán La, Xuân La, Tây Hà, Hà Nội
– Hầm nối với địa đạo tại chùa Võng Thị (Vĩnh Khánh Tự), quận Tây Hồ, Hà Nội
Các tỉnh có địa đạo
– Hà Nội
– Quảng Trị
– Quảng Nam – Đà Nẵng
– Quảng Ngãi
– Phú Yên
– Vũng Tàu
– Đồng Nai
– Bình Dương
– TP HCM
– Tây Ninh
Các năm gắn với địa đạo
– Địa đạo chống Pháp : hầu hết được đào vào năm 1947, 1948 (Củ Chi, Long Phước, Nam Hồng…)
– Địa đạo chống Mỹ : hầu hết được đào trong giai đoạn 1964-1967, đỉnh cao là 1965, có thể vì 1965 là năm Ất Tỵ, mệnh Phú Đăng Hoả, là Hoả Mộc Đất, rất hợp với việc đào hầm chiến đấu
Các tên gắn với địa đạo : An là cái tên gắn với nhiều địa đạo nhất, như An Thới, An Vĩnh, An Lộc, An Xuân, An Tây, An Tịnh, An Nhơn, An Phú, Kỳ An, Phú An, Ba Làng An, Tuy An, Phước An. Lý do là vì An có tính đất.
Vị thần gắn với các vùng đất có địa đạo : Vua cha Diêm Vương, mà có nhiều hiện thân và nhiêu tên gọi trong các văn minh khác nhau như Thánh Gióng, Vishnu…. Lý do dễ hiểu là vi Diêm Vương là vua cha địa phủ
Địa đạo chia ba nhóm theo cách hình thành
– Tự nhiên
– Đào
– Bán tự nhiên, bán nhân tạo
Địa đạo chia hai nhóm theo năng lượng
– Nhóm địa đạo kim hoả thổ, ở vùng đất cát pha đất sét hoặc đá ong, thì vừa dễ đào vừa dễ giữ cấu trúc, ví dụ địa đạo ở Quảng Ngãi
– Nhóm địa đạo mộc thuỷ khí, đi theo các đường ngoằn nghèo trong lòng đất và thông với hang ngầm hoặc các hang nổi trong lòng, ví dụ Sơn Đoòng

