![]()
CHIÊM LÀ GÌ ?
Chiêm
– Chiêm bao : tạm hiểu là cái bao mơ, một trạng thái mơ chồng chập trạng thái vật lý hiện tại và các tầng tinh thần ở các tầng cảnh giới khác của trạng thái vật lý hiện tại
Người làm sao, của chiêm bao làm vậy : Người chủ sở hữu là trung tâm so với đồ vật, của cải do người đó sở hữu, và trường bao của chủ sở hữu với vật sở hữu là chiêm bao. Cho nên người làm sao, của chiêm bao làm vậy.
Người yêu ta để trên cơi
Nắp vàng đậy lại, để nơi giường thờ
Đêm qua ba bốn lần mơ
Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không!
Mơ giấc điệp chiêm bao thấy bạn
Thức dậy rồi xuất hạn mồ hôi
Trách Ông Tơ sao nay dời mai đổi, cho lạc duyên tôi làm vầy
Ngó lên trời, trời cao lồng lộng
Ngó xuống biển, biển rộng chơi vơi
Rạng ngày mai mỗi đứa một nơi
Bưng chén cơm lên để xuống, không vơi hạt nào
Đêm nằm mộng mị chiêm bao
Tiếc vườn hồng én liệng, để vườn đào quạnh hiu
Chiêm : Chiêm là trạng thái quan sát được trọn vẹn được bao, thành, biên, phạm vi của đối tượng. Có hai dạng chiêm chính là chiêm từ biên về tâm, và chiêm từ tâm ra biên.
– Chiêm bái : Chiêm bái là hành động của người quan sát ở rìa quan sát một đối tượng ở trung tâm, vào được trường năng lượng bao toả ra trung tâm này. Ví dụ chiêm bái tượng Phật ở vị trí trung tâm, từ vị trí quan sát ngoài rìa, và qua đó, người quan sát vào được bên trong trường năng lượng Phật bao trùm lấy mình, khép kín trạng thái điểm rìa thành trạng thái bao biên
– Chiêm ngưỡng : Từ điểm tâm quan sát, hướng về biên, ví dụ quan sát mặt trăng và rơi vào được trạng thái cung trăng bao trùm
Chiêm : tiếng gà con gọi mẹ, ríu rít râm ran mà không rõ tiếng, để kích lên trường bao bọc của gà mẹ, mà ử các con dưới cánh và dưới trường năng lượng bao giống như đôi cánh năng lượng với đàn gà con
– Chiêm chiếp
Chiêm
– Lúa chiêm : Lúa chiêm gieo cấy vào đầu mùa lạnh/khô (đầu mùa đông) và thu hoạch vào đầu mùa nóng/mưa (đầu mùa hạ). Lúa chiêm cấy mất nửa năm. Lúa mùa là lúa theo mùa, chứ không vắt mùa như lúa chiêm, và thường ngắn ngày hơn. Lúa chiêm có nhiều loại, tương tự như lúa mùa có nhiều loại. Lúa chiêm là lúa xứ sở, đi biên bao của các giống lúa cụ thể mà là lúa mùa.
– – – chiêm di,
– – – chiêm dự,
– – – chiêm vàng,
– – – chiêm bầu ….,
Lúa chiêm là lúa vô nghì
Cấy trước trổ trước không kì đợi ai : Thời vụ lúa chiêm khá tự do, linh hoạt
Lúa chiêm là lúa chiêm bao
Một đêm đến sáng thì nào thấy chiêm
Lúa đồng chiêm lấy liềm mà cắt
Hàng tôi bán đắt ai ngặt thì mua
Mạ chiêm không có bèo dâu
Khác nào như thể ăn trầu không vôi
Tháng tư mua nứa đan thuyền
Tháng năm tháng sáu gặt miền ruộng chiêm.
Mẹ đần lại đẻ con đần
Gạo chiêm dù giã mấy lần cũng chiêm
Lúa chiêm mà thả kín bèo,
Như con nhà nghèo trời để của cho
Tỏ trăng mười bốn được tằm
Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm.
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên
Đố ai tát bể Đông Khê
Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm
Trời mưa cho ướt lá cau
Vợ chồng hí hửng rủ nhau đi bừa
Bừa xong thì cũng là vừa
Gieo mạ chuẩn bị cho mùa cấy chiêm
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò
Mùa đông tháng giá bò dò làm sao
Dưa gang một chạp thì trồng
Chiêm cấy trước Tết thì lòng đỡ lo
Tháng hai đi tậu trâu bò
Cày đất cho ải, mạ mùa ta gieo.
Trâu năm sáu tuổi còn nhanh
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao
Gió đông là chồng lúa chiêm
Gió bắc là duyên lúa mùa
Được mùa kén những tám xoan
Đến lúc cơ hàn ré cũng như chiêm
Chiêm chấp chới, mùa đợi nhau/Chiêm cập cợi, mùa đợi nhau
Chiêm Nam, mùa Bắc
Chiêm khôn hơn mùa dại: Câu này so sánh giống lúa chiêm chịu rét, chịu hạn tốt hơn so với lúa mùa.
Chiêm thối cỏ, mùa nỏ đất : Để chuẩn bị vụ chiêm, cần phải cày bừa rồi tháo nước vào ruộng cho tơi đất, thối cỏ. Để chuẩn bị vụ mùa, cần phải cày phơi cho đất ải.
Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con
Chiêm nam, mùa bắc : Chiêm (Lúa hay hoa màu) gieo cấy ở miền Bắc vào đầu mùa lạnh, khô (tháng mười, tháng mười một) và thu hoạch vào đầu mùa nóng, mưa nhiều (tháng năm, tháng sáu), phân biệt với mùa. Đây cũng là cách gọi tắt của “lúa chiêm.” Theo sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn, người Việt trước đây đã học cách trồng một số giống lúa gieo vào mùa đông, thu hoạch vào mùa hạ từ người Chiêm Thành, nên gọi là lúa chiêm hay lúa chăm.
Mạ chiêm ba tháng chưa già
Mạ mùa tháng rưỡi ắt là chẳng non
Mùa nứt nanh
Chiêm xanh đầu
Mùa đứt trối
Chiêm bối rễ
Ré thừa cấy nỏ
Chiêm thừa bỏ đi
Lúa chiêm thì cấy cho sâu
Lúa mùa thì gẩy cành dâu mới vừa
Chiêm
– Chiêm Thành : Chiêm Thành hay còn gọi Chăm Pa hoặc Champa, bắt nguồn từ tiếng Phạn là campaka, là tên của loài hoa mộc lan (Magnolia champaca), hay còn gọi là hoa sứ hay hoa đại.
– Oản chiêm
Bụt Nam Xang còn chê oản chiêm
– Chiêm Sơn : Chiêm Sơn Tên một làng nay thuộc xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, là một trong những làng xã hình thành từ rất sớm vào thế kỷ 15 ở Quảng Nam khi những cư dân Thanh – Nghệ di dân vào khai phá mở mang bờ cõi với tiền hiền là tộc Nguyễn Công, Nguyễn Văn và Nguyễn Đình. Vào thời kỳ đầu các chúa Nguyễn (thế kỷ 17), làng Chiêm Sơn là nơi trù phú, nổi tiếng về nông nghiệp, dệt lụa tơ tằm. Qua nhiều thế hệ phát triển, đến những năm cuối thế kỷ 19, Chiêm Sơn trở thành làng quê nông nghiệp phồn thịnh điển hình nhất của Phủ Duy Xuyên với “số ruộng đất của làng đã lên đến 800 mẫu kể cả công tư điền thổ, nhân khẩu trên 1500 người; thổ sản của làng là lúa, khoai, đậu phụng; nhiều nhất là sắn, mỗi năm tiêu thụ không hết phải bán ra ngoài” (theo Quảng Nam xã chí).
Chiêm Sơn là lụa mĩ miều
Sớm mai mắc cửi, chiều chiều bán tơ
—o—o—o—
CHĂM LÀ GÌ ?
Trăm/chăm : Là một trường bao không gian, thời gian có tính đa dạng và trọn vẹn thống nhất
– Trăm nhánh cùng cội
– Trăm người như một
– Trăm sông đổ về biển
– Trăm hoa đua nở (vào mùa xuân)
– Trăm dâu đổ đầu tằm
– Trăm mối tơ vò
– Trăm sự nhờ thày
– Trăm năm hạnh phúc, Hẹn ước trăm năm, “Trăm năm bia đá cũng mòn”, “Trăm năm trong cõi người ta”,
– Trăm là số mũ hai của 10, 10×10, mười là lưỡng nghi (2) của ngũ hành (5) (5×2, 5 người 10 ý)
“Chăm” liên quan đến Chiêm, là một trường bao và Chăm không đối xứng với Bách mà đối xứng với Bọc trăm trứng, cái tạo ra và dưỡng nuôi Bách Việt
Cây trăm nhánh cùng về một cội
Nước nghìn sông chảy hội một dòng
Ai dầu lánh đục tìm trong
Em đây vẫn giữ một lòng với anh.
Chăm (tính từ)
– Chăm chỉ : Chỉ là sợi dệt để làm nên tấm nên món, làm việc thường xuyên, làm việc đều đặn như dệt chỉ. Chỉ là tơ duyên trời định, chăm chỉ là làm đủ các duyên cớ, làm đủ nhân quả của việc. Chỉ là hướng về chỗ khác, chăm chỉ là làm việc mà phát sinh nguyên nhân kết quả, tương tác thì cũng làm tiếp. Như vậy chăm chỉ ngược với chộp giật, nhăm nhăm chỉ làm một việc, làm chỉ nhằm mục tiêu gì đó, xong là bỏ, làm chỉ để thoả mãn một điều gì đó xong rồi dừng, làm chi vì cái bản thân mình hay làm chỉ vì bị bắt buộc.
– Chăm làm : Làm đủ bộ, làm hết không bỏ sót chu kỳ thời gian không bỏ sót đầu việc, làm đa dạng, làm trọn vẹn
Chăm lam, chăm làm
Chăm làm là đống vàng mười
Ai chăm gánh nặng, ai lười trắng tay
Chăm (động từ)
– Chăm con, chăm cha, chăm mẹ
– Chăm sóc
– Chăm nom
– Chăm bẵm
– Chăm chút
Con chăm cha không bằng bà chăm ông
Ước gì anh biến thành hoa
Nhờ em cô gái Ngọc Hà chăm nom
Nghỉ việc không gạo bỏ nồi
Ốm no bò dậy, không người chăm nom
Sáng ngày vác cuốc trèo non
Tối về mới biết mình còn sống đây
Lầm than cực khổ thế này
Xúc than cuốc đất, tối ngày lọ lem
Chăm (trạng từ)
– Chăm chú : xem chăm chú
– Chăm chăm : nhìn chăm chăm
Chăm (Chămpa) : Chiêm, Chàm
– Người Chăm
– Dân tộc Chăm
– Tiếng Chăm
– Phong tục Chăm
– Múa Chăm
– Lúa Chăm – Lúa Chiêm
Một bông lúa chăm
Một trăm hạt thóc
– Cơm Chăm
Tua rua bằng mặt cất bát cơm chăm,
Tua rua đi nằm, cơm chăm đã cạn
Muốn ăn cơm chăm
Ném mạ rằm tháng chín
Lúa cấy tháng chạp
Đạp gốc mà gặt
—o—o—o—
CHÀM/TRÀM LÀ GÌ ?
Chàm
– Màu chàm : Xanh đỏ vàng lục lam chàm tím
– Xanh chàm
– Áo chàm
– Nhuộm chàm
Không xanh cũng tựa màu chàm
Chàm (danh từ)
– Vết chàm : thường là một vết dấu trên da, sinh ra đã có
– Bớt chàm
– Nổi chàm
Chưa từng, dạ hãy còn ham
Từng rồi, như áo phủ chàm mau phai
Tay con đã lỡ nhúng chàm
Bụng làm dạ chịu, chớ than trách trời
Lỡ tay nhúng phải thùng chàm
Chẳng xanh cũng phải cố làm cho xanh
Tiếng đồn cô Bảy hò lanh
Ngày nay mới biết mặt xanh như chàm
Chàm
– Nhúng chàm : Vào được bên trong một trạng thái gốc nền tảng cho trạng thái hiện tại, từ một trải nghiệm trực tiếp đơn lẻ, ví dụ nhúng tay vào nước hô mà chìm được vào trong trường năng lượng gốc của nước của toàn bộ cái hồ
Tay đã nhúng chàm : Làm vườn, và vào được trong năng lượng gốc của hệ sinh thái cây con
Tràm/chàm
– Cây tràm
– Hương tràm
Mắm trước, đước sau, tràm theo sát
Sau hàng dừa nước mái nhà ai
Cho dù cạn nước biển Ðông
Hết tràm Ðồng Tháp vẫn không phai lời.
Chàm/Tràm
– Tháp Chàm
Ngó lên trên đỉnh tháp Chàm
Nhớ ai như nhớ bóng nàng năm xưa
Ai về chợ Huyện ăn nem
Ghé qua Hưng Thạnh mà xem tháp Chàm
Ai về Tuy Phước ăn nem
Ghé qua Hưng Thạnh mà xem tháp Chàm
– Gò Chàm : Chợ Gò Chàm Tên một phiên chợ ở Bình Định. Trước đây chợ ở cách thị trấn Bình Định khoảng hai cây số về phía Bắc. Vùng này có tên là xứ Lam Kiều vì trồng nhiều cây chàm để nhuộm vải, vì vậy chợ có tên chữ là Lam Kiều thị. Đúng ra phải gọi là chợ Cầu Chàm, nhưng dân chúng lại quen gọi là chợ Gò Chàm. Bởi đó, có người còn cho rằng chợ được lập trên vùng đất gò có nhiều mồ mả người Chàm. Năm 1940, chợ Gò Chàm dời vào khu đất phía đông bắc bên ngoài thành Bình Ðịnh, sát với khu phố của thị trấn và đổi tên là chợ Bình Ðịnh, hay chợ Thành, nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên cũ. Chợ mới vẫn giữ vai trò lớn nhất tỉnh, nhóm chợ mỗi ngày và mỗi tháng có sáu phiên vào các ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23, 28. Ngoài ra, xưa nay vẫn giữ lệ phiên chợ 23, 28 tháng chạp âm lịch nhóm suốt ngày đêm và đông hơn các phiên chợ khác trong năm.
Bớ chị em ơi! Đi chợ
Chợ nào bằng chợ Gò Chàm
Tôm tươi cá trụng thịt bò thịt heo
Còn thêm bánh đúc bánh xèo
Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên u
Những con cá chép cá thu
Cá ngừ cá nục cá chù thiệt ngon
– Cầu Chàm : Cầu Chàm tên chữ là Lam Kiều, một địa danh nằm ở phía Bắc Bình Định ngày trước. Tại đây có trồng nhiều cây chàm để nhuộm nên gọi là Cầu Chàm, sau đọc trại ra thành Gò Chàm.
Muốn ăn đi xuống,
Muốn uống đi lên
Quán Ngỗng, Gò Chim,
Cầu Chàm, Đập Đá
Vũng Nồm nhiều cá,
Vũng Bấc nhiều tôm
Chợ chiều bán cơm,
Chợ mai bán gạo.
—o—o—o—
LAM LÀ GÌ ?
Lam :
– Màu lam
– Gốm lam, men lam
– Ngọc lam
– Khói lam chiều : Khói màu lam bốc lên vào buổi chiều
Lam
– Tham lam
Lam
– Lam lũ
Lam : cái giỏ, cái sọt
– Cái lam
Lam
– Lam chướng : Lam Sơn chướng khí, khí độc miền núi
Lam
– Chè lam, bánh chè lam
Lam
– Cầu Lam : Cầu Chăm, Cầu Chàm
– – – Cầu Lam là cầu ở biên, Bắc Biên hoặc cầu đi từ A sang B rồi B sang C, vắt chéo nhau, song song hay chồng chập, chứ không đơn giản là một cái cầu có 2 đầu
– – – Cầu Lam là cầu đi để gặp tiên,
– – – Cầu Lam là đất có ngọc
– – – Cầu Lam là cầu nguyện, cầu mong, cầu trời …hướng ra bao từ tâm (cầu chiêm là chiêm bao, ở luôn trên bao, có thể mất tâm hoặc tâm ảo hoặc đa tâm)
– – – Cầu Lam có tính dương, đối xứng với Cầu Kiều có tính âm
Lam (địa danh)
– Sông Lam, Lam Giang : đối xứng với Hồng Lĩnh
Hồng Sơn cao ngất mấy trùng
Lam Giang mấy trượng thì lòng mấy nhiêu
—
Sông Lam một ngọn nông sờ
Nhớ người quân tử bơ vơ nổi chìm
—
Ai biết nước sông Lam răng là trong, là đục
Thì mới biết sống cuộc đời răng là nhục, là vinh.
Thuyền em lên thác xuống ghềnh
Nước non là nghĩa, là tình ai ơi.
– Lam Kiều, Cầu Lam, Lam Cầu
Nhất xinh con gái Lam Cầu
Đói nghèo cay đắng đổ đầu Quan Nha
– Núi Lam, Lam Sơn, Lam San
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam San
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
