![]()
NÂU
Nâu : sắc màu
– Màu nâu : Nâu nằm trong bộ 7 màu Xanh, Đỏ, Tím, Vàng, Hồng, Nâu, Trắng trong đó Xanh Đỏ là 2 đơn sắc, Tím Vàng Hồng Nâu, Trắng đều có sắc xanh và sắc đỏ, là Tím xanh (chàm), Tím đỏ, Vàng xanh (lục), Vàng đỏ (cam), Hồng xanh (tím), Hồng đỏ, Nâu xanh, Nâu đỏ, Trắng xanh (lam), Trắng đỏ (hồng). Nâu là màu duy nhất không nằm trong bộ 7 màu quang phổ của ánh sáng trắng là Đỏ, Cam (vàng đỏ), Vàng, Lục (vàng xanh), Lam (trắng xanh), Chàm (tím xanh), Tím. Nâu là màu dầm mưa, dãi nắng, làm việc đều sạch và bền.
Em là con gái đồng chiêm
Lấy dao cắt cỏ, lấy liềm bổ cau
Quần màu nâu, áo màu nâu
Cái thắt lưng láng đứng đâu cũng giòn
Ở chợ năm bảy hàng nâu
Sao anh mặc trắng cho rầu lòng em!
Vải hồng dãi nắng mau phai
Vải nâu dãi nắng thì mài chẳng đi
Khăn chàm dãi nắng thì phai
Bồ nâu dãi nắng thì mài chẳng ra
Đào thắm thì đào lại phai
Bồ nâu dãi nắng thì mài chẳng đi
– Nâu sồng : Nâu sồng là màu nâu sẫm, trầm, ngả sang màu đất hoặc đỏ sẫm, được tạo ra bằng cách nhuộm vải thô với củ nâu và lá sồng. Đây là màu sắc đặc trưng của trang phục người nông dân xưa hoặc nhà chùa (nâu sòng).
Nâu sồng nào quản khen chê
Khó thì cho sạch, rách thì cho thơm
Thương ai mặc áo nâu sồng
Chít khăn mỏ quạ lạnh lùng nắng mưa
Phận già cơm hẩm rau dưa
Già quen việc nặng, già ưa nâu sồng
Giời mưa ướt áo nâu sồng
Công em đi cấy quăng đồng đồng xa
Mùa này trời giúp cho ta
Mùa này lúa tốt bằng ba mọi mùa
– Nâu non : Nâu nhạt
Con gái làng nào không đẹp bằng con gái làng này
Cái đít nom gầy, cái cổ bong gân
Cái yếm nâu non nó thủng tày giần
Răng đen hạt nhót, má hồng trôn niêu
Đồng Lầm có vải nâu non,
Có hồ cá rộng, có con sông dài
– Nâu bùn
– Nâu đất
Chợ nào chợ chẳng có quà
Người nào chả biết một và bốn câu
Ở đâu đất đỏ như nâu
Sao cô không hát vài câu huê tình
Hỏi cô cô cứ làm thinh
Để ta hát mãi một mình sao đang
– Áo nâu, quần nâu
Đi đâu mà chẳng thấy về
Hay là quần tía dựa kề áo nâu
Áo nâu ai mặc nên xinh
Cho duyên em lịch, cho tình anh say
– Vải nâu
Mẹ em đẻ em trong chum
Lấy nắp đậy lại, ngoài trùm vải nâu
– Hàng nâu
Áo trắng em tưởng là tiên
Hóa ra áo trắng không tiền mua nâu
Ở chợ năm bảy hàng nâu
Sao anh mặc trắng cho rầu lòng em
Nâu
– Củ nâu
Nhà giàu trồng lau ra mía
Nhà nghèo trồng củ tía ra củ nâu
Nhà người ta trồng lau ra mía
Nhà mình trồng củ tía ra củ nâu
Vận đỏ trồng lau ra mía
Vận đen trồng củ tía hóa bồ nâu
Mẹ em đẻ em trong chum
Nắp vàng đậy lại, khăn vuông trùm ngoài
Khăn vuông phải nắng thì phai
Củ nâu phải nắng thì mài chẳng ra
– Củ bồ nâu
Vận đỏ trồng lau ra mía
Vận đen trồng củ tía hóa bồ nâu
Đào thắm thì đào lại phai
Bồ nâu dãi nắng thì mài chẳng đi
Người khôn như miếng thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu
Người dại như củ bồ nâu
Đến khi khốn khó cơ cầu phải ăn
Người khôn ăn miếng thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu
Người dại ăn trái bồ nâu
Ăn no phình bầu, chẳng thấy mùi ngon
– Nhuộm nâu
Hỡi cô áo trắng lòa lòa
Sao cô không bớt tiền quà nhuộm nâu
Chợ Phúc ba dãy hàng nâu
Sao cô mặc trắng cho sầu lòng anh
Đôi ta ăn một quả cau
Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng
Bao giờ cho gạo bén sàng
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh
Hỡi người mặc áo nhuộm nâu
Tay bưng cơi trầu đi dạm gái choa
Nâu
– Sáo nâu
– Chim bồ nâu
Khăn chàm dãi nắng thì phai
Bồ nâu dãi nắng thì mài chẳng ra
Mưa khắp đâu đâu
Bồ Nâu cơ cầu, trời chửa mưa cho
Nâu (địa danh)
Gạo Bồ Nâu
Trâu Đồng Đám
—o—o—o—
NẦU
—o—o—o—
NẤU
Nấu
– Nấu cơm
Đố ai dệt vải đừng go
Nấu cơm đừng lửa, anh cho nén vàng
Ngồi buồn nghĩ giận con dâu
Nấu cơm bằng trã vung đâu đậy vừa
Công danh chi nữa mà chờ
Nấu cơm cho vợ đặng nhờ tấm thân
Tiếng đồn con gái Phú Trung
Nấu cơm không chín mở vung xem hoài
Tiếng đồn con gái Phú Tài
Nấu cơm không chín đốt hoài cơm khê
Nấu cơm trên sống dưới khê
Đủ cả tứ bề như thể cháo hoa
Hôm nay có đám giỗ gần
Trong bụng bần thần chẳng muốn nấu cơm
Ai nuôi con gà trống con gà vàng
Nửa đêm dậy gáy cho nàng nấu cơm
Chim bay về núi tối rồi
Chị em toan liệu xách nồi nấu cơm
Con gà bươi rác, bươi rơm
Con em chèo chẹo đói cơm tối ngày
Cái bống đi chợ Cầu Cần
Thấy ba ông bụt cởi trần nấu cơm
Ông thì xới xới, đơm đơm
Ông thì ứ hự, nồi cơm không còn
Chiều chiều ngó ngọn cây bần
Thấy ba ông Địa ở trần nấu cơm
Ông kia xách dĩa lại đơm
Ông nọ ứ hự nồi cơm mới vần
Mới vần mặc kệ mới vần
Bây giờ đói bụng xúc lần ra ăn
Em nấu cơm quên đơm vào rá
Em kho cá quên bỏ đồ màu
Ra lấy chồng sợ nỗi làm dâu
Em đây vụng đường nội trợ, e mai sau anh buồn
– Nấu cháo
Thương chồng nấu cháo nhơn ngôn
Nấu canh thạch tín, nấu cơm mã tiền
– Nấu chè
Con cộc mà lấy thằng què
Nấu cơm chẳng chín, nấu chè chẳng sôi
Têm trầu thì têm lạt vôi,
Bửa cau long hạt, cộc ơi là què!
– Nấu bánh
Khen ai khéo nấu bánh canh
Cọng ngắn, cọng dài, cọng thấp, cọng cao
– Nấu canh
Nấu canh suông ở truồng mà nấu
Con dâu tôi dại lại khờ
Nấu cơm trong bếp quên sơ, quên vần
Nấu canh như thể xà bần
Bữa mặn bữa lạt, không lần nào ngon
Ví dầu nàng có lòng yêu
Thì anh mua chín cái niêu để dành
Cái thời nấu cơm nấu canh
Cái vỡ đựng muối cái lành đựng tương
Bốn cái kê bốn chân giường
Còn một cái nữa thắp hương thờ trời
– Nấu thịt
Nồi da nấu thịt
– Nấu đậu
Việc đời gẫm lại thêm buồn
Củi đậu nấu đậu như tuồng người dưng
– Nấu khoai
Cô kia có tính dở người
Nấu cơm ra cháo, nấu khoai ra bù
– Nấu ăn
– Nấu nướng
– Nấu đông
Im thin thít như thịt nấu đông
– Nấu chín
—o—o—o—
NẪU
Nẫu (trạng từ)
– Chín nẫu
Nẫu (trạng từ)
– Buồn nẫu ruột
Nẫu : Người ta, họ (phương ngữ Bình Định-Phú Yên).
Nẫu giàu nẫu được sướng sang
Phần tôi nghèo khổ, lại nhàn tấm thân
Súng nẫu hay nẫu bắn lia lia
Còn tui súng dở bắn lìa cội cây
Nẫu giàu nẫu được sướng sang
Phần tôi nghèo khổ, lại nhàn tấm thân
Tiếc công anh lên đảnh xuống đèo
Cầm sào thọc chuột cho mèo nẫu ăn!
Nẫu giàu nẫu ngủ ban đêm
Còn tôi nghèo khổ ngủ thêm ban ngày
Tỉnh dài, huyện rộng, xã to
Nẫu lo việc nẫu, mình lo việc mình
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu dìa xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ
Thương chi cho uổng tấm tình
Bậu về xứ bậu bỏ mình bơ vơ
Đưa đây nút áo em khâu
Đặng anh qua bển kẻo lâu nẫu chờ.
Mãn mùa vịt lội về Gieo
Em ơi ở lại, đững theo nẫu cười
Hai bên nẫu đứng tréo hèo
Phần tui đứng giữa quảy con mèo tòn ten
Tiếng đồn cặp mắt em lanh
Ai nẫu không ngó, chớ anh ngó hoài
Chàng đà rảnh nợ dương di
Hay còn mắc nợ bố vi nẫu đòi
Nẫu giàu nẫu ngủ ban đêm
Còn tôi nghèo khổ ngủ thêm ban ngày
Em là con gái nhà quê,
Ăn trưa, ngủ sớm ngồi lê nẫu cười
Chợ phiên nẫu họp buổi chiều
Cũng lắm kẻ bán, cũng nhiều người mua
Thò tay ngắt ngọn dưa leo
Để anh lo cưới, đững theo nẫu cười
Thương ai chăm bẵm đám bèo
Cắc ca cắc củm cho mèo nẫu ăn
Ai về sông núi Phú Yên
Cho nẫu nhắn gởi nỗi niềm nhớ quê
Cũng thì phát rẫy một bên
Bắp nẫu ra trái, bắp mình quên trổ cờ
Người ốm như con cò ma
Liệu chừng mà né, cà rà nẫu chi?
Ai mà thấy khó nẫu dông
Anh đây thấy khó, anh mong đạo hằng
Một ngày cũng nghĩa bướm hoa
Dầu tình, dầu nghĩa, dầu xa cũng tình
Bẻ bông mà cắm độc bình
Nẫu xa mặc nẫu, đôi đứa mình đừng xa
Một mình, mình một bơ thờ
Dựa cây cây ngả, dựa bờ bờ xiêu
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu về xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ
Một ngày cũng nghĩa bướm hoa
Dầu tình, dầu nghĩa, dầu xa cũng tình
Bẻ bông mà cắm độc bình
Nẫu xa mặc nẫu, đôi đứa mình đừng xa
Tai nghe nẫu đã sang nhà
Chờ ngày đi hỏi vậy, mà có không
Kẻ đồn có, người lại nói không
Có không nói thiệt, để anh trông mất lòng
Áo đen nẫu dị áo đen
Phần tui áo rách, tôi nhấp nhem ra ngoài
Mồ cha cái áo rách hoài
Nẫu khinh, nẫu dị cũng vì mày, áo ơi!
Nẫu
– Xứ nẫu : xứ người, xứ của họ
– Xứ Nẫu : Phú Yên, Hoa Anh
Một mình, mình một bơ thờ
Dựa cây cây ngả, dựa bờ bờ xiêu
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu về xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu dìa xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ
—o—o—o—
NẬU
Nậu : Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên-Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng,” “bả.” Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh,” “chỉ.” Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẩu” hoặc “Nẫu” do đặc điểm không phân biệt dấu hỏi/ngã khi phát âm của người miền Trung. Người dân ở những vùng này cũng gọi quê mình là “Xứ Nẫu.”
Nậu nghèo lỡ bước gieo neo
Hay là bạn thấy bộ hành nghèo không đưa?
Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ, chị kia mất chồng
Mất chồng như nậu mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chơm bơm
Nậu : Nghĩa gốc là một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, nên có từ
– “Đầu nậu” nghĩa là người đứng đầu.
– “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng,
– “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối,
– “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá,
– “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ,
– “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn,
– “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm…
– “Nậu đồng” chỉ nhóm người làm đồng
– Đầu nậu
– Nậu gần nậu xa
Nậu gần nói với nậu xa
Sớm mơi đừng cấy cho cái bà hãm công
Đừng chê nậu rổi tanh hôi,
Có nhờ nậu rổi mới rồi bữa cơm.
– Nậu nguồn
Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên
Ai về nhắn nẫu trên nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên
Rau ranh, ốc đá, canh cá nậu nguồn
Rau ranh, ốc đá, cơm cá nậu nguồn.
Rau ranh, ốc đá là cá nậu nguồn.
– Nậu đồng
Ruộng gò dài lối đau lưng
Không ai rước mối tôi gọi xưng bằng chồng
– Ngửa tay, khuyên hết nậu đồng
Xăn quần rước mối, tui làm chồng được chưa?
– Nậu nại : người làm nghề muối
Nậu nại tui dại như trâu
Trưa tròn con bóng vác đầu ra phơi
Nậu nại dại lắm ai ơi
Trời nắng không núp, lại phơi ra đồng
– Nậu rổi : Người làm nghề bán cá. Cũng được phát âm thành nậu rẩu, phương ngữ Bình Định-Phú Yên chỉ những người đàn bà chuyên bán cá ở các chợ.
Hỗn quá nậu rổi
—o—o—o—
NẨU
Nẩu : Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên-Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng,” “bả.” Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh,” “chỉ.” Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẩu” hoặc “Nẫu” do đặc điểm không phân biệt dấu hỏi/ngã khi phát âm của người miền Trung. Người dân ở những vùng này cũng gọi quê mình là “Xứ Nẫu.”
