![]()
ĐIỂN TÍCH : LAM KIỀU ĐẤT CÓ TIÊN Ở, ĐẤT CÓ NGỌC QUÝ
Lam Kiều (hay Cầu Lam) là một địa danh nổi tiếng tại Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Đất Lam Kiều tương truyền là nơi tiên ở, vì liên quan đến điển tích Bùi Hàng gặp tiên nữ ở Lam Kiều.
“Lam Kiều” sau này là ẩn dụ cho nơi tiên ở, nơi gặp người đẹp ở, hoặc nơi có duyên gặp gỡ nhưng điều tốt đẹp. “Lam Kiều” cũng là ẩn dụ cho vùng đất tìm được ngọc quý.
“Mua ngọc đến Lam Kiều” : Lam Kiều là đất có ngọc quý, nên muốn mua ngọc, phải đến Lam Kiều. Muốn tìm kiếm những điều quý giá và những thứ có giá trị đích thực như ngọc, phải tìm đến đúng chỗ, là Lam Kiều.
Đời nhà Đường, triều Mục Tông (821-825), có một chàng nho sĩ tên Bùi Hàng, lều chõng đi thi bao lần đều hỏng. Một hôm, Bùi thuê đò đi Tương Hán định sang ghé Ngọc Kinh để xem phong cảnh. Cùng đáp một chuyến đò có một mỹ nhân tên Vân Kiều, sắc nước hương trời, con người đoan trang, thùy mị. Bùi sinh cảm mến, mong được giao duyên, mới mượn thơ thay lời, nhờ con nữ tỳ của giai nhân đưa hộ:
Kẻ Hồ, người Việt còn thương nhớ,
Huống cách người tiên chỉ bức mành.
Ví được Ngọc Kinh cùng nối gót,
Xin theo loan hạc đến mây xanh.
(Bản dịch của Phan Như Xuyên)
Nguyên văn:
Đồng vi Hồ Việt do hoài tưởng,
Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.
Thắng nhược Ngọc Kinh triều hội khứ,
Nguyện tùy loan hạc nhập thành vân.
Vân Kiều xem thơ, vui vẻ mỉm cười, nhưng thơ đi mà tin chẳng lại, Bùi rất lo lắng, băn khoăn. Khi đò sắp ghé bến, Bùi bỗng tiếp được thơ do con nữ tỳ của giai nhân đưa đến:
Uống rượu Quỳnh Tương trăm cảnh sinh,
Huyền Sương giã thuốc thấy Vân Anh.
Lam Kiều vốn thật nơi tiên ở,
Hà tất nhọc nhằn đến Ngọc Kinh.
Nguyên văn:
Nhất ẩm Quỳnh Tương bách cảnh sinh,
Huyền Sương đảo tận kiến Vân Anh.
Lam Kiều tự hữu thần tiên quật,
Hà tất khí khu thượng Ngọc Kinh.
Bùi không hiểu ý nghĩa ra sao, định hỏi; nhưng thuyền vừa ghé bến thì Vân Kiều đã thoáng mất. Nghiền ngẫm hai câu thơ cuối, Bùi không đến Ngọc Kinh, mà hỏi dò người, tìm đến Lam Kiều. Trời trưa nắng gắt, Bùi mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại. Ghé vào hàng nước, nghỉ chân, hỏi nước uống. Bà lão chủ quán bảo người con gái đem nước ra. Nàng rất đẹp, trông dáng vẻ tựa Vân Kiều. Bùi hỏi, thì ra nàng là em của Vân Kiều, tên Vân Anh. Bùi Hàng mừng rỡ, cho là gặp duyên trời định, mới thuật lại cả hai bài thơ. Bà lão cười, bảo:
– Hẳn là con Vân Kiều muốn xe duyên em nó cho cậu đó.
Bùi nghe nói lấy làm hớn hở. Nhưng bà lão cho biết là hiện bà có cái cối, song thiếu chiếc chày ngọc để giã thuốc Huyền Sương, nếu Bùi tìm được chày thì bà sẽ gả Vân Anh cho.
Bùi Hàng bằng lòng. Nhưng đi tìm mãi khắp nơi mà không biết ở đâu có chày ngọc. Lòng buồn tha thiết. Tưởng hoàn toàn thất vọng, chàng đi lang thang. May mắn, một hôm, chàng gặp được tiên cho chiếc chày ngọc. Thế là duyên thành.
Sau cả hai vợ chồng Bùi Hàng đều tu thành tiên cả.
—o—o—o—
LAM KIỀU TRONG CA DAO
Đất Lam Kiều ngỡ ngàng khó bước
Động Đào Nguyên lạch nước quanh co
Trách mình không đắn nỏ đo
Rã rời duyên nợ, oan chưa, hỡi trời!
Đất Lam Kiều và Động Đào Nguyên đều là nơi có tiên ở, và nơi người thường đến đó gặp được tiên.
Nhưng những chốn tiên cảnh không dễ đến, tiên không dễ gặp, người có cốt cách tiên, người hữu duyên, người có nỗ lực mới gặp được tiên.
—o—o—o—
XỨ LAM KIỀU – CẦU CHÀM CỦA CHIÊM THÀNH
Ở đất Chàm/Chăm, địa danh Lam Kiều không được chuyển thành Cầu Lam, mà chuyển thành Cầu Chàm.
Muốn ăn đi xuống,
Muốn uống đi lên
Quán Ngỗng, Gò Chim,
Cầu Chàm, Đập Đá
Vũng Nồm nhiều cá,
Vũng Bấc nhiều tôm
Chợ chiều bán cơm,
Chợ mai bán gạo.
Cầu Chàm : Cầu Chàm tên chữ là Lam Kiều, một địa danh nằm ở phía Bắc Bình Định ngày trước. Tại đây có trồng nhiều cây chàm để nhuộm nên gọi là Cầu Chàm, sau đọc trại ra thành Gò Chàm.
Anh nguyền cùng em Chợ Giã cho chí cầu Đôi
Nguyền lên Cây Cốc, vạn Gò Bồi giao long
Anh nguyền cùng em thành Cựu cho chí thành Tân
Cầu Chàm, Đập Đá, giao lân kết nguyền
Trung Dinh, Trung Thuận cho chí Trung Liên
Trung Định, Trung Lý cũng nguyền giao ca
Bớ chị em ơi! Đi chợ
Chợ nào bằng chợ Gò Chàm
Tôm tươi cá trụng thịt bò thịt heo
Còn thêm bánh đúc bánh xèo
Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên u
Những con cá chép cá thu
Cá ngừ cá nục cá chù thiệt ngon
Chợ Gò Chàm Tên một phiên chợ ở Bình Định. Trước đây chợ ở cách thị trấn Bình Định khoảng hai cây số về phía Bắc. Vùng này có tên là xứ Lam Kiều vì trồng nhiều cây chàm để nhuộm vải, vì vậy chợ có tên chữ là Lam Kiều thị. Đúng ra phải gọi là chợ Cầu Chàm, nhưng dân chúng lại quen gọi là chợ Gò Chàm. Bởi đó, có người còn cho rằng chợ được lập trên vùng đất gò có nhiều mồ mả người Chàm. Năm 1940, chợ Gò Chàm dời vào khu đất phía đông bắc bên ngoài thành Bình Ðịnh, sát với khu phố của thị trấn và đổi tên là chợ Bình Ðịnh, hay chợ Thành, nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên cũ. Chợ mới vẫn giữ vai trò lớn nhất tỉnh, nhóm chợ mỗi ngày và mỗi tháng có sáu phiên vào các ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23, 28. Ngoài ra, xưa nay vẫn giữ lệ phiên chợ 23, 28 tháng chạp âm lịch nhóm suốt ngày đêm và đông hơn các phiên chợ khác trong năm.
—o—o—o—
LAM CẦU : ĐỊA DANH Ở CÁC VÙNG MIỀN
Lam Cầu là địa danh thôn, xã của tỉnh Hà Tĩnh)
– Xã Lam Kiều là tên xã thời đầu kháng chiến chống Pháp gồm 3 xã Trường Lộc, Song Lộc và Phú Lộc, thuộc huyện Trường Lộc – Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ở đây có bệnh viện Lam Kiều (hay nhà thương Lam Kiều).
– Thôn Lam Kiều
Lam Cầu là địa danh cổ của tình Hà Nam
Nhất xinh con gái Lam Cầu
Đói nghèo cay đắng đổ đầu Quan Nha
Cầu Lam là cầu bắc qua sông Lam, tỉnh Nghệ An
—o—o—o—
LAM KIỀU – CẦU LAM TRONG TRUYỆN KIỀU
Truyện Kiều không khó hiểu, cái khó là hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu hết nghĩa, ví dụ các câu có nhắc đến Lam Kiều – Cầu Lam trong truyện Kiều.
Truyện Kiều hai lần nhắc đến Lam Kiều và một lần nhắc đến Cầu Lam, tập trung vào chương Thuý Kiều và Kim Trọng thề nguyền
Lưỡng ý kiên Lam Kiều hữu lộ;
Thông tiêu lạc bạch bích vô hà
Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Chầy sương chưa nên cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?
“Lam Kiều”, “bạch bích”, “chầy sương”, là các đối tượng được nhắc đến trong điển tích Bùi Hằng đến Lam Kiều tìm tiên nữ.
– LƯỠNG Ý KIÊN LAM KIỀU HỮU LỘ
“Lưỡng ý kiên Lam Kiều hữu lộ;
Thông tiêu lạc bạch bích vô hà”
Đây là hai câu mở đầu chương Kiều và Kim Trọng thề nguyền, thường được dịch là
Hai bên ý hợp tâm đầu, cầu Lam nối mở;
Một tốt chén thề quạt ước, ngọc trắng giá trong.
hoặc
Đây đó đồng tâm, cầu Lam đà tiện nẻo;
Vui cười đúng mực, ngọc bích vẫn nguyên mầu.
“Lưỡng ý kiên Lam Kiều hữu lộ” : Đôi bên nguyện ý thống nhất, Cầu Lam có đường.
Cầu Lam là một loại cầu đặc biệt liên quan đến tình duyên và nó chỉ mở ra khi hai người yêu nhau tâm hợp ý đầu hoặc có nguyện thề cam kết.
Các loại cầu xứ sở đặc biệt trong huyền sử và các tích dân gian phải kể đến là cầu Kiều, cầu Lam, cầu Ô Thước, cầu Nại Hà.
– Cầu Ô Thước xuất hiện vào Thất tịch, nối Ngưu Lang với Chức Nữ.
– Cầu Nại Hà ở Hoàng Tuyền, nối đường vào thế giới âm từ thế giới dương và đường ra thế giới dương từ thế giới âm, nói cách khác nó liên quan đến người dương chết và người âm siêu thoát, tái đầu thai.
– Cầu Kiều là chiếc cầu kỳ ảo vượt qua được mọi ngăn trở ngang dọc, xuất hiện trong bài ca dao : Bồng bồng mẹ bế con sang. Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo. Muốn sang thì bắc cầu kiều. Muốn con hãy chữ thì yêu lấy thầy.
– Cầu Lam thì nổi tiếng như một địa danh có tiên và có ngọc quý hơn là một cây cầu.
Bốn cây cầu này có các điểm chung sau
– Đều là cầu xứ sở, nghĩa là về vật lý không nhìn thấy.
– Đều là cầu âm dương và chỉ mở ra khi có đối xứng và tương tác âm dương
– – – Cầu Ô Thước là cầu nối nam nữ âm dương. Cầu Nại Hà cũng là cầu nối 2 thế giới âm dương. Cầu Ô Thước và câu Nại Hà đối xứng với nhau, cùng mở vào tháng Bảy âm.
– – – Cầu Lam là cầu nối dương sang âm hoặc nối giữa 2 âm. Cầu Kiều là cầu âm nối sang dương hoặc nối giữa 2 dương. Cầu Lam mang tính dương đối xứng với cầu Kiều, mang tính âm.
Trong truyện Kiều, cầu Lam liên quan đến Kim Trọng, cầu Kiều liên quan đến Kiều, dù để mở cầu Lam thì cả Thuý Kiều và Kim Trọng đều phải thề nguyền. Ví dụ đứa con muốn ra đời ở cấp xứ sở, thì cha phải mở cầu Lam và mẹ phải mở cầu Kiều cho nó, tức nhiên cha mẹ phải đồng ý và phối hợp với nhau.
“Thông tiêu lạc, bạch bích vô hà” : Bạch bích là trạng thái của nữ, đối xứng với cầu Lam, là trạng thái của nam. Bạch bích được dịch là ngọc trắng. “Bạch bích vô hà” là ngọc trắng chưa bị vấy bùn.
“Thông tiêu lạc” là đường đã thông sẵn, đến tận cùng, đến tận biên, nhưng mà bạch bích vẫn còn chưa vấy bùn, vẫn còn nguyên vẹn, tức nhiên vì chưa có “đối tượng” đi qua cầu để vào bạch bích.
Trạng thái bạch bích tiêu biểu nhất ở nữ là trứng, lúc này cầu Lam là đường dẫn cho tinh trùng đến gặp trứng, nói đúng hơn là Lam Kiều là trường xứ sở để trứng và tinh trùng liên lạc được với nhau. Trường xứ sở này mở ra vào lễ xe tơ kết tóc hoặc khi bên nam nữ có cam kết.
Đặt vào nôi dung chương này là lễ xe tơ kết tóc của Kiều và Kim Trọng, hai cầu này nghĩa là hai bên đã là thề nguyền (lễ xe tơ kết tóc), thì về tinh thần đã là vợ chồng, đã tạo nên một gia đình, dù chưa bái đường (lễ cưới), chưa ngủ với nhau (lễ động phòng).
– XĂM XĂM ĐÈ NẺO LAM KIỀU LẦN SANG
Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Từ khi gặp Kiều vào ngày Tết Thanh Minh, Kim Trọng rơi vào trạng thái tương tư, nhớ nhung người đẹp, rồi tưởng ra duyên nợ ba sinh giữa hai người.
Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong!
Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng khắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!
Mây Tần khoá kín song the,
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi lạnh như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
Mành Tương phơn phớt gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình:
“Ví chăng duyên nợ ba sinh,
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi?”
Nhớ đến khung cảnh lúc gặp Kiều ở bên cầu, Kim Trọng vội tìm đến đó, nhưng chỉ thấy cỏ cây và dòng nước chảy, không có ai ở đó.
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu.
Kim Trọng quyết tự mở đường, chủ động đi tìm đến tận nhà Kiều
Nghề riêng nhớ ít, tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Lam Kiều có thể hiểu là con đường, hành trình người nam đi tìm người nữ, tiên nữ trong tư tưởng chứ người thật thì không biết hiện đang ở đâu, y như lúc Bùi Hàng đi Lam Kiều để mong tìm nàng tiên nữ Vân Kiều mà chàng chỉ thoáng gặp trên chuyến đò, chứ chẳng biết nàng là ai và ở đâu.
Thâm nghiêm, kín cổng, cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
Dẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?
Cuối cùng thì Kim Trọng cũng đến được nhà Kiều, nhưng cổng đóng kin, tường bao cao, không có cách nào để vào bên trong.
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó, người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn, cặp sách, đề huề dọn sang.
Kim Trọng lại tìm cách tiếp cận Kiều ở trong ngôi nhà kín công cao tường đó, nên sau khi đứng cả giờ ở trước cửa, thì đi loanh quanh và tìm được nhà phía sau nhà Kiều có phòng trống. Kim Trong lấy lý do đi học xa, hỏi thuê, rồi dọn đồ sang ở.
Cả một chuỗi hành động tìm cách tiếp cận Kiều, cho đến lúc này vẫn chỉ là người đẹp trong mộng, chưa từng được gặp gỡ trực tiếp như vậy đều là các hành trình, các bước đi của Kim Trong trên Lam Kiều.
– CHẦY SƯƠNG CHƯA NÊN CẦU LAM
Chầy sương chưa nên cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?
“Chầy sương chưa nên cầu Lam” : Chầy sương là ghép “Chày ngọc” với thuốc “Huyền Sương”. Trong điển tích Bùi Hàng đi tìm tiên nữ ở Lam Kiều, bà lão đã yêu cầu Bùi Hàng tìm chày ngọc để giã thuốc Huyền Sương, thì mới được cưới con gái bà. Chầy sương chưa nên cầu Lam, ứng với sự kiện Bùi Hàng chưa tìm được chày ngọc, cho nên cầu Lam chưa mở, chưa được phép cưới con gái của bà lão. Ứng vào hoàn cảnh của Kim Trọng thì lúc đó Kim Trọng chưa được phép của gia đình Kiều về chuyện tình cảm này, hai người vẫn đang hẹn hò bí mật.
“Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?” : Kim Trọng sợ việc níu kéo Kiều ở lại mình quá lâu vào đêm khuya lâu giống như một hành động sàm sỡ, vì chuyện tình yêu của hai người vẫn chưa được phép của gia đình.
Đến nhà vừa thấy tin nhà,
Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nghe tin cha mẹ còn đang dở tiệc hoa chưa về nhà, dù đã rất khuya, Kiều vẫn vội băng vườn sau đi tìm Kim Trọng
Nhặt thưa gương rọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.
Tiếng sen khẽ động giấc hoè,
Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Kim Trọng đang ngủ, nghe tiếng bước chân kiều, chợt tỉnh nhìn thấy Kiều tưởng rằng mình đang mơ.
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
Kiều nói bây giờ là đêm nhưng vẫn tìm Kim Trọng, để làm rõ hơn việc thề nguyện của cả hai, vì sợ rằng sau này lại ngỡ như chuyện hai người vẫn chỉ là giấc chiêm bao.
Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một trương,
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.
Kim Trọng vội mời Kiều vào nhà, lúc này hai người cắt tóc và thề nguyền cho lễ xe tơ kết tóc.
Sinh rằng: “Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam;
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?”
Kim Trọng nói rằng chàng muốn giữ Kiều ở lại thêm, vì lâu này có lòng mong nhớ mà chẳng được gặp, nhưng lại sợ rằng chuyện hai người chưa được cha mẹ cho phép, sợ việc níu kéo Kiều lần khân ở lại bên mình làm hành động sàm sỡ.
Nàng rằng: “Hồng diệp, xích thằng,
Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.
Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,
Ngoài ra, ai lại tiếc gì với ai.”
Kiều trả lời hai người đã thề nguyền thì coi như đã là tương tri, Kiều không ngại ở lại khuya bên Kim Trọng. Nếu Kim Trọng không có những hành động trăng hoa đi quá xa, thì Kiều không tiếc gì chút thời gian bên cạnh Kim Trọng.
Về tích “hồng diệp” : Vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ (hồng diệp) trôi trên ngòi nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngòi nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thị. Xích thằng là sợi dây của ông Tơ buộc các cặp nam nữ vào nhau, để họ trở thành vợ chồng. “Hồng diệp xích thằng” chỉ duyên phận vợ chồng do ông Tơ xe dây (xích thằng) cũng chính là tiền định lá hồng (hồng diệp).
