TRUYỆN KIỀU : KIỀU THỀ NGUYỀN VỚI KIM TRỌNG

Loading

“Lưỡng ý kiên Lam Kiều hữu lộ;
Thông tiêu lạc bạch bích vô hà”
Dịch
Hai bên ý hợp tâm đầu, cầu Lam nối mở;
Một tốt chén thề quạt ước, ngọc trắng giá trong.
hoặc
Đây đó đồng tâm, cầu Lam đà tiện nẻo;
Vui cười đúng mực, ngọc bích vẫn nguyên mầu.
Truyện Kiều không khó hiểu, cái khó là hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu hết nghĩa. 2 câu thơ đề cho chương/hồi Kiều thề nguyền với Kim Trọng chính là như vậy.
– Lưỡng ý kiên Lam Kiều hữu lộ : Đôi bên nguyện ý thống nhất, Cầu Lam có đường. Cầu Lam là một loại cầu đặc biệt liên quan đến tình duyên, và nó chỉ mở ra khi hai người yêu nhau nguyện thề cam kết. Các loại cầu xứ sở đặc biệt trong huyền sử và các tích dân gian phải kể đến là cầu Kiều, cầu Lam, cầu Ô Thước, cầu Nại Hà. Bốn cây cầu trên đều là cầu xứ sở, nghĩa là về vật lý không nhìn thấy. Cầu Ô Thước xuất hiện vào Thất tịch, nối Ngưu Lang với Chức Nữ. Cầu Nại Hà ở Hoàng Tuyền, nối đường vào thế giới âm từ thế giới dương và ra thế giới dương từ thế giới âm, nói cách khác nó liên quan đến chết và siêu thoát, tái đầu thai. Cầu Kiều là chiếc cầu mẹ bồng con kỳ ảo vượt qua được mọi ngăn trở ngang dọc, xuất hiện trong ca dao. Cầu Lam là nơi có tiên, ngọc quỷ và những mối duyên kỳ ngộ tốt đẹp. Cầu Ô Thước là cầu nối nam nữ âm dương, cầu Nại Hà cũng là cầu nối 2 thế giới âm dương. Cầu Ô Thước và câu Nại Hà đối xứng với nhau, cùng mở vào tháng Bảy âm. Cầu Lam là cầu nối dương sang âm và cầu Kiều là cầu âm nối sang dương. Cầu Lam mang tính dương đối xứng với cầu Kiều, mang tính âm. Trong truyện Kiều, cầu Lam liên quan đến Kim Trọng, cầu Kiều liên quan đến Kiều, đều liên quan đến trang thái cam kết tình yêu nam nữ. Ví dụ đứa con muốn ra đời, thì cha phải mở cầu Lam và mẹ phải mở cầu Kiều cho nó, tức nhiên cha mẹ phải đồng ý và phối hợp với nhau.
– Thông tiêu lạc, bạch bích vô hà : Bạch bích là trạng thái của nữ, đối xứng với cầu Lam, là trạng thái của nam. “Bạch bích vô hà” là ngọc trắng chưa bị vấy bùn, người con gái chưa vấy bùn, dù đã thông tiêu lạc. Bạch bích ở nữ là trứng, tiêu lạc hay cầu Lam là đường dẫn cho tinh trùng ở nam. “Thông tiêu lạc” là đường đã thông sẵn cho tinh trùng vào lễ xe tơ kết tóc, nhưng mà bạch bích vẫn còn chưa vấy bùn, nghĩa là trứng vẫn còn nguyên vẹn, tức nhiên là vì đợi tinh trùng đi qua cầu Lam vào ngày động phòng.
Sau khi gặp Kiều trong Tết Thanh Minh, Kim Trọng rơi vào tương tư, tự hỏi với Kiều phải chăng là duyên nợ ba sinh.
Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong!
Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng khắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!
Mây Tần khoá kín song the,
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi lạnh như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
Mành Tương phơn phớt gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình:
“Ví chăng duyên nợ ba sinh,
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi?”
Kim Trọng quay lại nơi hai người đã gặp nhau, nhưng cảnh còn đó mà không thấy người.
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu.
Kim Trọng bèn tìm tới nhà Kiều, nhưng cổng kín, tường cao, không cách nào tìm thấy Kiều.
Nghề riêng nhớ ít, tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm, kín cổng, cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
Dẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?
Loanh quanh mãi quanh nơi ở của Kiều, Kim Trọng mới thấy ở mái sau nhà Kiều có một nhà thương gia có buồng để không, nên tìm cớ hỏi thuê, rồi dọn đồ cá nhân sang ở.
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó, người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn, cặp sách, đề huề dọn sang.
Có được nơi ở ngay gần nhà Kiều, Kim Trọng mừng lắm cho rằng giữa hai người ắt rằng phải có duyên nợ ba sinh.
Có cây, có đá sẵn sàng,
Có hiên Lãm Thuý, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây!
Kim Trọng từ nhà thuê, hàng ngày trông sang nhà Kiều, mong thấy người thương, nhưng đã qua một hai tuần mà không thấy ai cả.
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
Tấc gang đồng toả nguyên phong,
Tịt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.
Một hôm, bỗng thoáng thấy bóng người, Kim Trọng vội bỏ đàn, xốc áo chạy ra, thì người đã đi mất, chỉ còn hương thơm ở lại.
Cách tường phải buổi êm trời,
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm, xốc áo, vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo bức tường giữa hai nhà, Kim Trọng lại thấy một cành kim thoa, vội cầm lấy. Kim Trọng cho rằng sự trùng hợp hiếm hoi này chắc chắn là do duyên.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
Giơ tay với lấy về nhà:
“Này trong khuê các, đâu mà đến đây?
Gẫm âu người ấy, báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!”
Về nhà, Kim Trọng ngắm nghía chiếc kim thoa, cảm giác mùi hương của người con gái vẫn còn.
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Sáng sớm hôm sau, Kim Trọng thấy bên tường có bóng người tìm kiếm cái gì đó, Kim Trọng bèn ướm hỏi về chiếc kim thoa mình cầm được
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
“Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”
Kiều lên tiếng nhận rằng kim thoa ấy là đồ của mình đang tìm
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi.
Chiếc thoa nào của mấy mươi,
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”
Kim Trọng bèn nói về việc mình chờ đợi bấy lâu mới đến ngày hôm nay được gặp Kiều, chàng mong Kiều dừng chân nán lại cùng chàng thêm để chàng giãi bày lòng mình với Kiều.
Sinh rằng: “Lân lý ra vào,
Gần đây, nào phải người nào xa xôi.
Được rày nhờ chút thơm rơi,
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!
Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân, gạn chút niềm tây gọi là.”
Nói xong, Kim Trọng vội về nhà lấy tín vật chuẩn bị sẵn dự định sẽ đưa cho Kiều khi có dịp. Đó là “xuyên vàng đôi chiếc, khăn là một vuông”.
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.
Kim Trọng lúc này mới bước lên bậc cao, kiễng chân, nhìn qua ngọn tường để trông rõ ràng Thuý Kiều, người mà chàng gặp và đem lòng tương tư từ hôm Thanh Minh.
Bậc mây rón bước ngọn tường,
Phải người hôm nọ, rõ ràng chăng nhe!
Sượng sùng giữ ý rụt rè,
Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.
Kim Trọng bèn thổ lộ nỗi nhớ thương và sự chờ đợi của mình với Kiều cho đến hôm nay.
Rằng: “Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
Thầm trông, trộm nhớ, bấy lâu đã chồn.
Xương mai tính đã rũ mòn,
Lần lừa, ai biết hãy còn hôm nay!
Kim Trọng nói rằng tháng tròn (từ lúc gặp Kiều trong Tết Thanh Minh), lòng tương tư như gửi cung mây, hôm nay muốn liều hỏi Kiều có quan tâm đến tình cảm mà chàng dành cho nàng hay không.
Tháng tròn như gửi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đã liều!
Tiện đây xin một hai điều,
Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng!”
Kiều ngập ngừng trả lời rằng chuyện tình duyên của mình do cha mẹ quyết, bản thân không dám nói chắc điều gì với Kim Trọng.
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
“Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong.
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Nặng lòng xót liễu vì hoa,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!“
Kim Trọng cố thuyết phục thêm rằng chuyện gặp gỡ tình cờ như thế này là rất khó khăn, mong nàng xét đến tấm tình si của chàng, mà cho chàng một lời gắn bó.
Sinh rằng: “Rày gió, mai mưa,
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
Dù chăng xét tấm tình si,
Thiệt đây mà có ích gì đến ai?
Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Cha trời (Khuôn Thiêng) dầu có phụ tấm lòng, Kim Trọng cũng quyết liều bỏ xuân xanh một đời theo đuổi Thuý Kiều. Mẹ đất (Lượng Xuân) dù có quyết không mở lòng, Kim Trọng vẫn cố công theo đuổi.
Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!”
Nghe Kim Trọng, Thuý Kiều đáp lại bằng lời hứa “Một lời, vâng tạc đá vàng thuỷ chung” với Kim Trọng.
Lặng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến, nét thu ngại ngùng.
Rằng: “Trong buổi mới lạ lùng,
Nể lòng có nhẽ cầm lòng cho đang!
Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời, vâng tạc đá vàng thuỷ chung.”
Nhận được lời hứa này của Kiều, Kim Trọng vội giở kim thoa và khăn hồng trao sang cho Kiều, gọi là tín vật định tình kết duyên trăm năm tính từ lúc này.
Được lời như cởi tấm lòng,
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.
Rằng: “Trăm năm cũng từ đây,
Của tin, gọi một chút này làm ghi.”
Bên Kiều đang cầm sắn khăn gấm và quạt quỳ, bèn đem gửi cho Kim Trọng, để đổi lấy chiếc thoa mà Kim Trọng trao lại cho Kiều.
Sẵn tay khăn gấm, quạt quỳ,
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.
Như vậy, Kim Trọng cầm khăn gấm và quạt quỳ của Thuý Kiều, Thuý Kiều cầm lại kim thoa, và hai vật làm tin của Kim Trọng là xuyến vàng một đôi, khăn hồng một vuông.
Một lời gắn bó tất giao,
Mái sau dường có xôn xao tiếng người.
Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách, nàng về lầu trang.
Vừa trao đổi tín vật, thì có tiếng người xôn xao, hai người vội vàng chia tay, ai về nhà nấy.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ.
Từ khi Kim Trọng và Thuý Kiều biết tấm lòng vàng đá của nhau, tình càng sâu sắc, tâm trạng tương tự càng ngơ ngẩn, ngóng trông nhau qua bức tường cuối vườn.
Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.
Một tường tuyết trở sương che,
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.
Thấm thoắt đã qua mùa xuân, đến ngày sinh nhật bên ngoại, cả nhà Thuý Kiều gồm cha mẹ và hai em đều đi lễ, Kiều ở nhà một mình, nên tranh thủ sang gặp Kim Trọng.
Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng, rậm lục, đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường, dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.
Nhà lan thanh vắng một mình,
Ngẫm cơn hội ngộ đã đành hôm nay.
Kiều vừa sang bên nhà Kim Trọng, đã thấy Kim Trọng chờ sẵn
Thì trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.
Kim Trọng trách Kiều ít sang để mình phải sầu muộn, bạc cả đầu.
“Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.”
Kiều đáp rằng đợi mãi mới đến hôm nay mới được buổi nhà vắng người để sang đây với Kim Trọng.
Nàng rằng: “Gió bắt mưa cầm,
Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.”
Kiều đi lần theo tường nhà, mới tìm thấy đường thông sang nhà Kim Trọng
Lần theo núi giả đi vòng,
Cuối tường dường có nẻo thông mới rào;
Xắn tay mở khoá động Đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
Cả hai được gặp mặt nhau, sánh vai nhau về thư phòng của Kim Trọng
Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi,
Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên.
Sánh vai về chốn thư hiên,
Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông.
Kim Trọng giới thiệu cho Kiều bức tranh mình vừa vẽ, mời Kiều đề thêm vào lời
Trên yên bút giá thi đồng,
Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên.
Phong sương được vẻ thiên nhiên,
Mặt khen nét bút càng nhìn càng tươi.
Sinh rằng: “Phác hoạ vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.”
Kiều thảo bốn câu thơ
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên, dừng bút thảo và bốn câu.
Kim Trọng khen tài của Kiều, thấy mình tu bao kiếp mới được sánh với Kiều
Khen: “Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế vầy!
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang!”
Kiều nói rằng ngày bé được một tướng sĩ đoán rằng nàng sẽ tài hoa bạc mệnh.
Nàng rằng: “Trộm liếc dung quang,
Chẳng sân ngọc bội thì phường Kim Môn.
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Trông người lại ngắm đến ta,
Một dày, một mỏng, biết là có nên?”
Kim Trọng nói rằng nhân định thắng thiên định cũng nhiều
Sinh rằng: “Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân.”
Hai bên tâm hợp ý đầu, khuya rồi Kiều vội về nhà.
Đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng.
Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã chàng, nàng mới kíp dời song sa.
Về đến nhà, Kiều thấy cha mẹ vẫn đi ăn tiệc chưa về, thế là lại băng vườn khuya quay lại nhà Kim Trọng
Đến nhà vừa thấy tin nhà,
Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Kim Trọng lúc đó đã thiu thiu ngủ, giật mình tỉnh giấc thấy Kiều tưởng mình đang mê
Nhặt thưa gương rọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.
Tiếng sen khẽ động giấc hoè,
Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Kiều nói rằng nàng quay lại, vì sợ sau nay sợ rằng tất cả chỉ như giấc mơ
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
Kim Trọng rước Kiều vào rồi hai người làm lễ xe tơ kết tóc, rồi cùng thề nguyền với nhau
Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một trương,
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.
Kim Trọng lại nói rằng chàng còn chưa lấy được Kiều, sợ ngồi quá khuya cùng nàng là sàm sỡ.
Sinh rằng: “Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam;
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?”
Kiều trả lời rằng duyên phận giữa hai người. Kiều không tiếc chàng.
Nàng rằng: “Hồng diệp, xích thằng,
Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.
Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,
Ngoài ra, ai lại tiếc gì với ai.”
Kim Trọng nói nghe đồn Kiều nổi tiếng về đàn
Rằng: “Nghe nổi tiếng Cầm Đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.”
Thưa rằng: “Tiện kỹ sá chi!
Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng.”
Ở đó có sẵn đàn nguyệt, Kim Trong nâng đàn mời Kiều đánh
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: “Nghề mọn riêng tay,
Làm chi cho bận lòng này lắm thân?”
So dần dây vũ, dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng Lưu thuỷ, hai rằng Hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Kim Trọng nghe tiếng đàn của Kiều nói rằng hay nhưng nghe đau khổ.
Rằng: “Hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào!
So chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người.”
Kiều đáp rằng nàng luôn đánh đàn như vậy, cả lúc vui nhất vẫn thấy buồn
Rằng: “Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao!
Lời vàng vâng lĩnh ý cao,
Hoạ dần dần bớt chút nào được không?”
Càng bên nhau, Kim Trọng càng nảy sinh ý muốn gần gũi
Hoa hương càng tỏ thức hồng,
Đầu mày, cuối mắt, càng nồng tấm yêu.
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.
Kiều khéo léo từ chối
Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!
Vẻ chi một đoá yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bậc bố kinh,
Đạo tòng phu, lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc, trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi!
Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương.
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán chường yến anh.
Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên!
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân còn một đền bồi có khi.”
Lời Kiều đoan chính dễ nghe, Kim Trọng càng thêm nể trọng nàng.
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể, thêm vì mười phân.
Chia sẻ:
Scroll to Top