![]()
Người Chăm trong thời vương quốc Chăm Pa lịch sử bao gồm hai bộ tộc chính là bộ tộc Dừa (Narikelavamsa) và Cau (Kramukavamsa).
Bộ tộc Dừa sống ở Amaravati (Quảng Nam) và Vijaya (Bình Định) trong khi bộ tộc Cau sống ở Kauthara (Khánh Hoà) và Pandaranga (Phan Rang).
Hai bộ tộc có những cách sinh hoạt và trang phục khác nhau và có nhiều lợi ích xung đột dẫn đến tranh chấp thậm chí chiến tranh. Nhưng trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột này thường được giải quyết để duy trì sự thống nhất của đất nước thông qua hôn nhân.
Bên cạnh người Chăm, chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa còn có cả các tộc người thiểu số gốc Nam Đảo và Mon-Khmer và ở phía Bắc Chăm Pa còn có cả người Việt.
—o—o—o—
BỘ LẠC DỪA
Đã xác nhận được rằng cách đây gần 3000 năm, trên lưu vực sông Đồng Nai mà lãnh thổ Lâm Đồng là thượng nguồn, có những bộ lạc sinh sống với một nền văn hóa đồng – sắt đã phát triển và có đặc trưng riêng. Có thể nói, các bộ lạc này là tiền thân của các dân tộc bản địa. Sách Lịch sử Việt Nam (Phan Huy Lê chủ biên) cho biết, bấy giờ trên địa bàn của văn hóa Sa Huỳnh có hai bộ lạc sinh sống: Bộ lạc Cau (chữ Phạn là Kramuka vam’sa) cư trú vùng Phú Yên, Khánh Hòa – Ninh Thuận – Bình Thuận trở vào và bộ lạc Dừa (chữ Phạn là Narikela vam’sa) ở vùng Bình Định, Quảng Nam ngày nay.
Bộ lạc Dừa từ thế kỷ đầu trước Công nguyên bị nhà Hán đô hộ (cùng thời kỳ với nước Âu Lạc) và đặt tên là huyện Tượng Lâm. Năm 190 – 193, nhân dân Tượng Lâm nổi dậy đánh đuổi người Hán, lập nên nước Lâm Ấp (theo tên gọi của thư tịch cổ Trung Hoa).
Bộ lạc Cau, khoảng đầu công nguyên, đã hình thành một tiểu vương quốc riêng có tên là Pāṇḍuraṅga (tên Phạn) hay Paṅrauṅ/Panrāṅ (tiếng Chăm cổ), về sau gọi là Chăm Pa, có địa bàn từ Nha Trang – Phan Rang, Phan Thiết ngày nay.
Sự ra đời nói trên của dân tộc Chăm, và nhà nước của họ, cho thấy ở Nam Trung bộ Việt Nam thời ấy đã có hai cộng đồng lớn: cộng đồng người Chăm với ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Malay-Polynesia cư trú vùng ven biển và cộng đồng với ngữ hệ Môn – Khơme (Mạ, Cơ Ho, M’Nông), cư trú vùng núi và Tây Nguyên.
—o—o—o—
SỰ TÍCH BỘ TỘC CAU – BỘ TỘC DỪA
Về bộ tộc Cau, theo truyền thuyết, vào thời xa xưa một vị vua cai trị phương Nam một hôm thấy bên cạnh cung đình có một cây cau trổ một buồng trái thật lớn và thật đẹp. Đến ngày trổ hoa, buồng cau không nở, nhà vua thắc mắc liền sai một gia nhân trẻ tuổi trèo lên hái xuống xem sao. Gia nhân mang xuống dâng lên vua. Vua lấy gươm báu chẻ mo cau ra thì thấy một em bé mặt mũi hồng hào đẹp đẽ. Nhà vua rất vui mừng, nhận làm con nuôi và đặt tên là Radja Po Klong, tức hoàng tử Po Klong (Po Klău). Mo cau bọc hoàng tử được dùng làm mộc đỡ của hoàng gia và mũi nhọn của mo cau được biến thành gươm báu của nhà vua. Mộc đỡ và gươm báu sau này trở thành biểu tượng cho uy quyền của các vị vua Chiêm Thành phía Nam.
Hoàng tử Po Klong không chịu bú sữa của người thường mà chỉ bú sữa của một con bò tơ ngũ sắc. Đó cũng là lý do giải thích tại sao người Chăm ở phía Nam sau này từ chối giết và ăn thịt bò. Hoàng tử Po Klong càng lớn lên càng đẹp và khỏe mạnh. Nhà vua sau đó gả con gái và cho kế nghiệp. Khi lên ngôi, Po Klong cho xây một cung thành tuyệt mỹ trải rộng trên bảy ngọn đồi, đặt tên là Băl.
Băl sau này là thủ đô của các tiểu vương quốc Champa theo tiếng “Chăm mới”, như Băl Cău ở Phan Rang, Băl Canar ở Phan Rí (thôn Tịnh Mỹ) của bộ tộc Cau.
Về bộ tộc Dừa, các dòng vương tôn phương Bắc cũng dựa theo truyền thuyết trên để tạo sự huyền bí về dòng dõi vương quyền của mình, nhưng đổi buồng cau thành buồng dừa và mo cau thành mo dừa. Theo lời kể lại, một vị hoàng tử được sinh ra từ một mo dừa, làm con nuôi một vị vua, lấy một cô công chúa và sau đó được tôn lên làm vua. Không rõ vị vua này tên gì, các nhà nghiên cứu Chăm học và khảo cổ chưa tìm ra sử tích.
—o—o—o—
VUA & ĐỀN PO KLONG GARAI
Có một truyền thuyết liên quan đến tháp Poklong Garai kể rằng ngày xưa ở Plei Chakling (Nay là thôn Mỹ Nghiệp, Ninh Phước, Phan Rang) có hai ông bà tên Ôn Paxa và Muk Chakling dù đã cao niên nhưng chưa có con. Một lần ra biển mò cua bắt ốc ông bà thấy có một đứa bé đang trôi trên bọt nước bèn đem về nuôi và đặt tên là Karit.
Karit lớn lên trở thành một cô gái xinh đẹp, nết na nên được nhiều người quý mến. Một hôm, Karit cùng cha vào rừng hái củi. Trời nóng nực, hai cha con khát nước nhưng chung quanh lại không có sông suối. Bỗng Karit thấy một tảng đá bên trên đọng ít nước trong, liền đến uống. Lạ thay nàng uống đến đâu nước trong đá tràn ra đến đó. Nhưng khi nàng đi gọi cha đến uống thì chẳng thấy giọt nước nào.
Sau dạo đó Karit có thai và rồi sinh ra một cậu bé đã xấu xí lại rất háu ăn. Ông bà đặt tên cho cậu là Jatol. Karit không chịu nổi lời đàm tiếu là gái chửa hoang nên bỏ đi để con lại cho ông bà nuôi. Đứa bé càng lớn càng xấu xí, mình lại đầy ghẻ chốc nên chẳng mấy đứa chịu chơi chung. Khi ông bà mất, cậu cũng vừa khôn lớn. Cậu cùng bạn là Po Klonchanh đi buôn trầu. Một hôm trên đường về, Jatol thấy mệt nên nghỉ ở tảng đá bên đường. Pô Klonchanh về trước rồi đem cơm ra cho bạn. Khi trở lại Pô Klonchanh thấy có hai con rồng trắng đang liếm mình Jatol. Po Klonchanh chạy đến thì hai con rồng biến mất và lạ thay Jatol đã trở thành một thanh niên tuấn tú, khôi ngô khác thường. Điềm lạ đó dần lan ra khắp miền và rồi đến tai vua Nuhol, người đang cai trị Iaru (Tuy Hòa ngày nay). Được biết Jatol sẽ là một vị thiên tài xuất chúng, vua Nuhol cho vời Jatol đến. Thấy đúng như lời đồn đại vua đã giữ Jatol lại và gả công chúa Thakol cho.
Năm 1167, vua Sulekha ở Bal Sri Banây (Ninh Chữ ngày nay) băng hà mà không có người nối ngôi. Biết Jatol là một nhân tài, quần thần đã cho voi trắng rước về nối ngôi. Jatol lên làm vua, xưng là Po Klong Garai. Sau 5 năm, ông dời đô lên Bal Hangâu. Bấy giờ, Panduranga (Phan Rang ngày nay), quê hương của ông bị quân Chân Lạp thường xuyên đánh phá. Pô Klong Garai phải mang quân vào Panduranga tiếp sức và dẹp loạn. Theo sử liệu Chăm thì vào năm Sửu, Chăm lịch, vua Po Klong Garai từ Balcribanơi vào Panduranga xem địa thế để xây tháp kỷ niệm thuở hàn vi của mình. Khi đến vùng Balhul thì bị tướng Hakral người Miên đang cai quản hạt này ngăn cản. Vua Po Klong Garai không muốn xảy ra cuộc đổ máu vô ích nên thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xây xong trước sẽ thắng. Biết khó đánh thắng vua Pô Klong Garai bằng sức mạnh quân sự, Hakral đã chấp thuận. Vua Po Klong Garai xây tháp trên đồi Balhla, còn tướng Hakral xây ở vùng Balhul (gồm Mỹ Tường, Bình Nghĩa, Gò Đền, Hộ Diêm, thuộc Phan Rang.). Kết cục, bên vua Po Klong Garai hoàn thành trước, tướng Hakral thua cuộc đành rút quân về.
Vua Klong Garai được thờ tự tại Tháp Po Klong Garai. Tháp Poklong Garai nằm trên đồi Trầu, thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thành phố Phan Rang-Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc, được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 (thời vua Shihavaman, người Việt gọi là Chế Mân) để thờ vua Klong Garai (1151-1205), vị vua đã có nhiều công lớn trong việc cai trị đất nước. Tháp Po Klong Garai là một cụm tháp Chàm hùng vĩ và đẹp nhất còn lại ở Việt Nam.
Là một người được suy tôn là thần thủy lợi, anh hùng dân tộc Chăm; ông đã có những công lao to lớn cho tiểu quốc Panduranga như:
– Xây dựng công trình thủy lợi như đập Nha Trinh, đập Sông Cấm,…
– Dời đô lên Băl Hangâu để làm nơi ẩn náu khỏi quân xâm lược Khmer và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các cộng đồng cùng tộc.
– Ông đã lãnh đạo một cuộc thủy chiến chớp nhoáng ngược sông Mêkong để tấn công đế quốc Angkor, giải phóng tiểu quốc Panduranga.
Chiến dịch tấn công đế quốc Khmer của vua Po Klong Garai là chiến dịch quân sự mạnh mẽ nhất của Chămpa chống lại đế quốc Khmer.
Cụ thể về chiến dịch tấn công Ăngkor của vua Po Klong Garai trong biên niên sử Chiến tranh giữa Đế quốc Khmer và Chămpa như sau
– Đế quốc Khmer xấm chiếm Kauthara (950) : Khoảng năm 950, quân đội Khmer dưới quyền quốc vương là Rajendravarman II đã từ Angkor băng qua rừng, cướp phá đền Po Nagar ở Kauthara (Nha Trang ngày nay) và mang đi bức tượng vàng Bhagavati trong đền. Dù vậy, kết quả của cuộc xâm lược này vẫn là một thất bại đẫm máu dành cho quân Khmer. Năm 965, Vua Chăm là Jaya Indravaman I đã khôi phục lại ngôi đền và xây dựng lại bức tượng nữ thần để thay thế bức tượng bị người Khmer đánh cắp.
– Đế quốc Khmer xâm lược Bắc Chiêm Thành (1074-1080) : Năm 1074, Harivarman IV lên ngôi vua Champa. Ông có quan hệ chặt chẽ với nhà Tống của Trung Quốc và đã giảng hòa với Đại Việt, nhưng lại thể hiện sự thù địch với Đế chế Khmer. Năm 1080, quân đội Khmer đã tấn công tiểu quốc Vijaya và các tiểu quốc khác ở miền bắc Champa. Các đền thờ và tu viện đã bị cướp phá và các kho báu đã bị mang đi. Sau nhiều hỗn loạn, quân đội Chăm dưới quyền Vua Harivarman IV đã có thể đánh bại người Khmer và khôi phục lại kinh đô Vijaya và các ngôi đền. Sau đó, lực lượng đột kích của Vua Champa Harivarman IV đã phát động một cuộc phản công xâm nhập vào lãnh thổ đế quốc Khmer tới tận Sambor và sông Mekong và họ đã phá hủy tất cả các thánh địa tôn giáo nơi đó.
– Các cuộc chiến tranh của vua Khmer Suryavarman II (1128–1150) : Sau một nỗ lực không thành công nhằm chiếm các cảng biển ở miền Nam Đại Việt, Vua Khmer Suryavarman quay sang xâm lược Champa vào năm 1145 và cướp phá Vijaya, chấm dứt triều đại của vua Chăm Jaya Indravarman III và phá hủy các đền thờ ở Mỹ Sơn. Vào năm 1147, khi một hoàng tử đến từ Panduranga tên là Sivänandana lên ngôi vua Champa với niên hiệu là Jaya Harivarman I, vua Khmer Suryavarman sau đó đã phái một đội quân gồm người Khmer và cả những người Chăm đào tẩu dưới sự chỉ huy của Sankara để tấn công chính quyền của vua Champa Jaya Harivarman I, nhưng kết quả là bị đánh bại trong trận Räjapura năm 1148. Một đội quân Khmer khác cũng phải chịu chung số phận khi thất bại trong các trận đánh ở Virapura (phía nam Phan Rang ngày nay). Không thể khuất phục được người Chăm, vua Khmer Suryavarman đã bổ nhiệm Hoàng tử Harideva, một hoàng thân Chăm gốc Campuchia, làm vua bù nhìn của Champa tại Vijaya. Năm 1149, Jaya Harivarman I hành quân ra bắc đánh Vijaya, bao vây kinh đô Chà Bàn và đánh bại quân đội của vua bù nhìn là Harideva, sau đó xử tử Harideva cùng với quân đội Campuchia và tất cả các quan chức có liên quan, do đó chấm dứt sự chiếm đóng của vua Khmer Suryavarman ở miền bắc Champa. Sau đó vua Chăm Jaya Harivarman I đã thống nhất lại vương quốc Champa. Một người mạo danh vua tên là Vamsaraja đã tấn công Jaya Harivarman I bằng quân đội ở vùng cao (Tây Nguyên Việt Nam ngày nay) nhưng đã bại trận và phải chạy trốn sang Đại Việt. Sau đó, Vamsaraja tiếp tục bị Jaya Harivarman I đánh bại và bị giết chết trong trận chiến ở thành địa Mỹ Sơn năm 1150.
– Người Chăm tiến đánh Angkor (1170, 1177–1181) : Sau khi giảng hòa với Đại Việt vào năm 1170, lực lượng Chăm dưới quyền vua Champa Jaya Indravarman IV đã xâm lược Đế chế Khmer trên bộ nhưng không rõ kết quả. Tiếp tục vào năm 1177, quân đội của vua Chăm Jaya Indravarman IV đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào kinh đô Yasodharapura (tức Angkor) của người Khmer thông qua các tàu chiến đã được bố trí dọc theo sông Mekong đến hồ lớn Tonlé Sap và giết chết vua Khmer Tribhuvanadityavarman. Nỏ và cung được du nhập vào Chăm Pa từ thời nhà Tống vào năm 1171, và được người Chăm sử dụng cùng với voi chiến. Những vũ khí này được người Chăm triển khai trong cuộc bao vây kinh thành Angkor và kết quả là người Chăm chiếm đóng Campuchia trong vòng bốn năm. Đế chế Khmer đang trên bờ vực sụp đổ, vua Khmer là Jayavarman VII từ phía bắc đã tập hợp một đội quân để chiến đấu với quân xâm lược Champa. Quân đội của ông đã giành được một loạt chiến thắng chưa từng có trước người Chăm, và đến năm 1181 sau khi giành chiến thắng trong một trận hải chiến quyết định, Jayavarman đã giải cứu được đế quốc Khmer và tiến hành trục xuất người Chăm ra khỏi lãnh thổ.
– Cuộc chinh phục Champa của vua Khmer Jayavarman VII (1190–1203) : Năm 1190, vua Khmer Jayavarman VII bổ nhiệm một hoàng tử Chăm tên là Vidyanandana, người đã đào tẩu sang phe Jayavarman vào năm 1182 và từng được đào tạo tại Angkor để lãnh đạo quân đội Khmer. Trong chiến dịch này, Vidyanandana đã đánh bại quân đội Chăm, tiến hành đánh chiếm Vijaya và bắt giữ vua Champa Jaya Indravarman IV, người mà sau đó bị ông ta gửi trở lại Angkor làm tù nhân.[12][13] Lấy danh hiệu Shri Suryavarmadeva (hay Suryavarman), Vidyanandana tự xưng là vua của xứ Panduranga, nơi hiện đang là chư hầu của người Khmer. Ông phong Hoàng tử In, anh rể của vua Khmer Jayavarman VII, làm “Vua Suryajayavarmadeva ở xứ Vijaya” (hay Suryajayavarman). Năm 1191, một cuộc nổi dậy ở Vijaya đã khiến Suryajayavarman phải trở lại Campuchia. Sau đó, Vidyanandana, được hỗ trợ bởi vua Khmer Jayavarman VII, đã tái chiếm Vijaya, giết chết cả vua Champa Jaya Indravarman IV và Jaya Indravarman V, và trị vì mà không có bất kì sự phản kháng nào đến từ người dân vương quốc Champa. Tuy vậy, trong khoảng thời gian cai trị Champa của Vidyanandana, việc ông tuyên bố bản thân mình đã không còn chịu sự chi phối của quốc vương Khmer Jayavarman VII, cùng với đó là những hành động chống lại những nỗ lực của đế quốc Khmer nhằm lật đổ ông, đã khiến vua Khmer Jayavarman VII liên tục phát động nhiều cuộc xâm lược Champa nhằm đáp trả vào các năm 1192, 1195, 1198–1199, 1201–1203 và cuối cùng vua Chăm Vidyanandana đã bị đánh bại và bị trục xuất khỏi Champa, sau đó ông tìm nơi ẩn náu tại Cửa Lò, nhưng đã rời đi bằng đường biển và biến mất mà không để lại một dấu vết nào. Sau khi cuộc chinh phục Champa của quân đội Khmer thành công vào năm 1203, họ đã biến Champa trở thành một chư hầu của đế quốc Khmer. Từ năm 1203 đến 1220, Champa bị cai trị bởi một chính quyền bù nhìn do ong Dhanapatigräma đứng đầu và sau này là hoàng tử Angsaräja, cháu trai của vua Chăm Jaya Harivarman I. Sau khi quân đội Khmer suy yếu và do áp lực đến từ người Chăm, người Khmer đã rút quân khỏi Champa vào năm 1220, Angsaräja đã nắm quyền điều hành chính phủ Champa một cách hòa bình, tự xưng là Jaya Paramesvaravarman II và khôi phục nền độc lập của Champa.
Trong thời kỳ đỉnh thịnh suốt thế kỷ X đến XII, chủ trương của triều đình Kampuchea là vun bồi nền văn hóa của mình, đồng thời tận lực mở rộng cương vực ra toàn khu vực Trung-Ấn. Vì thế, các thành quốc trù phú ở duyên hải Nam Trung Bộ là một trong những đích đến của người Kampuchea.
Kể từ năm 967, quốc gia Champa đã hoàn toàn phân rã; dải đất nay là Nam Trung Bộ lại trở thành chế độ phong kiến với 5 tiểu quốc tự trị, trong đó, Vijaya có vai trò như lĩnh tụ của không gian Champa, các tiểu quốc còn lại phải phụng cống xưng thần. Tuy khối Champa chỉ gồm những lãnh địa nhỏ yếu, nhưng cuộc sống rất phát đạt nhờ quảng đại giao thương. Theo ký sự của nhiều khách trú Trung Hoa hoặc Ấn Độ, người Champa luôn ưa thích phục sức bằng vàng ròng, thậm chí thường may lẫn vàng vào áo quần. Vì lẽ đó, dường như người Champa phải trả giá đắt cho chính sự thịnh vượng của mình.
Kampuchea dưới sự cai trị của Suryavarman II đạt tới tột đỉnh huy hoàng. Ngôi đền đồ sộ nhất của kinh đô Angkor được xây dựng trong 37 năm: Angkor Wat, là nơi thờ thần Vishnu. Ông đã xâm chiếm đến nơi hiện nay là cực Bắc Lào, phía Tây thôn tính được vương quốc Haripunjaya (nay là Trung phần Thái Lan) và một khu vực phía viễn Tây vốn thuộc vương quốc Pagan, phía Nam lấn đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan), phía Đông lấn dần rồi đô hộ tất cả các tiểu quốc Champa.
Không còn nhiều ký ức được lưu lại về quãng thời gian đô hộ của Kampuchea, nhưng việc bị tước đoạt quyền tự trị đã khiến người Champa tức giận. Từ cực Nam, vị lãnh chúa có tước hiệu Po Klong Garai (lên ngôi vào năm 1167) đã triệu tập những tì tướng đáng tin cẩn nhất của mình, kín đáo chuẩn bị cho một cuộc phản kháng. Điều mà ông trù liệu ban sơ chỉ là thừa cơ hội Vijaya suy yếu để cắt đứt mối quan hệ bất bình đẳng với thành quốc này; nhưng thành công quá chóng vánh trước những ứng phó kém cỏi của Vijaya và cả đạo quân chiếm đóng Kampuchea đã khiến Po Klong Garai cho rằng, đây là thời cơ hi hữu để Panduranga vươn lên thống trị khối Champa. Muốn vậy, Po Klong Garai phải gây dựng uy tín thông qua việc đương đầu với địch thủ truyền kiếp của người Champa – tức là triều đình Kampuchea – dù thực tế là chế độ bảo hộ không lấy gì làm khắc nghiệt.
Sự may mắn đạt được của Po Klong Garai là khi người Kampuchea mải miết hoàn tất đại công trình Angkor Wat cùng hàng loạt đền đài trong khu vực Angkor, triều đình đắm chìm trong hoan tiệc hoặc những cuộc tranh vị đẫm máu.[4][5][6] Các toán quân của Po Klong Garai bí mật men theo con nước triền sông Mekong để tiến vào các khu vực cư trú của người Kampuchea, khoảng cách ngắn từ Panduranga sang tới Angkor cũng là một thuận lợi tiếp theo cho Po Klong Garai.
Trong một thời điểm chưa rõ vào năm 1177, lần đầu tiên người Champa đụng độ đế quốc Kampuchea ngay trên lãnh thổ Kampuchea. Lực lượng thủy quân tinh nhuệ từ Panduranga gặp phải một đạo quân mỏi mệt ít thao luyện của Kampuchea, đã gây ra một cuộc chiến kinh hoàng ở lưu vực hồ Tonlé Sap. Bản thân vua Tribhuvanadityavarman bị giết nơi trận tiền khiến đội ngũ rối loạn, nhiều thuyền bè tự húc vào nhau rồi chìm, số còn sống sót thì tháo chạy ngược về Yaśodharapura. Po Klong Garai thừa thắng đã hạ lệnh toàn quân ruổi thuyền lên tận Siem Reap, quan trấn thủ tại đây cũng vứt thành mà chạy. Sự kiện này được mô tả rõ rệt trên những bức tường Bayon và Banteay Chhmar.
Quân đoàn Panduranga dễ dàng tiến vào được kinh đô Yaśodharapura. Po Klong Garai bỏ mặc cho binh sĩ thỏa thuê cướp bóc, chém giết và hiếp dâm với lý do trả đũa cho thời kỳ bị Kampouchea áp bức. Hầu hết khu vực Yaśodharapura, cùng với Angkor Wat bị quân Panduranga đốt phá tan hoang, mãi đến khi Jayavarman VII cởi được ách đô hộ của người Champa thì đại công trình này mới dần được phục hồi. Trong mấy năm sau sự biến hồ Tonlé Sap, Kampouchea mất phần lớn quyền tự trị, trở thành đối tượng bị chiếm đóng và áp bức tàn tệ. Từ địa vị kẻ chống ách đô hộ, Panduranga đã trở thành thế lực xâm lược.
Mặc dù sự kiện thủy chiến Tonlé Sap cùng với cuộc tàn phá kinh đô Yaśodharapura không trực tiếp hoặc ngay lập tức làm sút giảm nền văn hóa Kampouchea, nhưng nó khiến Kampouchea đánh mất uy thế trước chư hầu và tạm thời đánh dấu kết cho những cuộc tranh vị nơi vương đình. Đối với Champa, đây là điều kiện thuận lợi cho sự tái thống nhất sau hai thế kỷ phân rã, tuy rằng hình thái phong kiến vẫn được bảo trì. Từ lúc này, nền văn hóa Champa dời hẳn trọng tâm tới lãnh địa Panduranga, đồng thời đưa Po Klong Garai lên địa vị lĩnh tụ của toàn khối.
Nhưng để giành được phần thắng, cũng như duy trì sự đô hộ Kampouchea, Panduranga phải gánh quá nhiều hao tổn. Bởi vậy, vào năm 1190, Jayavarman VII (lên ngôi năm 1181) nhờ sự trợ lực của Vidyanandana (vương tử Vijaya, vốn bất mãn với uy thế của Panduranga) đã quật khởi phản kháng được đạo quân chiếm đóng Panduranga, vốn đã trở nên suy nhược trong thời gian quá dài lưu trú ở Kampouchea. Chẳng những thế, Jayavarman VII đuổi được tới tận lãnh thổ Champa, qua đó khối Champa lại thành phiên thuộc của Kampuchea, nhưng chỉ qua hình thức cống nạp chứ không có quy chế đóng quân như trước. Từ thời điểm này, Kampouchea không còn khả năng gây ảnh hưởng đến các tiểu quốc Champa nữa.
Về phần Po Klong Garai, ông vẫn được các đấu thủ kiêng dè và nể trọng, đối với các tiểu quốc Po Klong Garai còn lại thì Panduranga tồn tại tương đối độc lập suốt gần một thế kỷ. Trong giai đoạn trị vì sau, Po Klong Garai lo củng cố ưu thế của Panduranga bằng việc thi hành nhiều chính sách an dân, nhất là dựng các công trình thủy lợi lớn để cải tạo nông nghiệp, trình độ của quân lực cũng liên tục được tăng cường để giữ vững lãnh địa. Nhờ thế, cả Kampouchea và Vijaya không tìm được bất cứ kẽ hở nào để trả đũa.
Lễ hội đua ghe ngo vốn đã được biên chép từ rất lâu trong lịch sử Kampouchea cũng như nhiều quốc gia lân cận. Trên các bức tường tại kinh đô Angkor xây dựng từ thế kỷ 12 đã có tạc cảnh của lễ hội đua ghe rất rõ ràng. Theo các sử liệu còn lưu trong Viện Phật học Campuchia, ngay từ thời vua Jayavarman VII ở thế kỷ XII ở kỷ nguyên Angkor rực rỡ, người Khmer được cho là đã thắng lợi oanh liệt trong thủy chiến Tonlé Sap với nước láng giềng Champa. Chiến thắng này (khoảng sau các năm 1177-1181) giải phóng lĩnh thổ bị chiếm đóng cho người Khmer và bắt đầu thời kỳ hòa bình lâu dài cho vương quốc. Tương truyền, để kỉ niệm chiến thắng này, hàng năm lễ hội đua ghe được tiến hành một cách tưng bừng trên khắp đất nước. Trên các bức tường của thành Bayon tại Angkor, người ta đã tìm thấy những hình ảnh khắc trên đá mô tả thủy quân Khmer với vua Jayavarman VII dũng cảm đang cầm một ngọn giáo và cung tên đứng trên thuyền vua.
—o—o—o—
VUA & ĐỀN PO ROME
Sử liệu của vương quốc Champa cũ, có nhiều giai thoại về cuộc đời vị hoàng đế cuối cùng là vua Po romé và 3 người phụ nữ, một là công chúa Chăm, một là công chúa Ê Đê, và một là công chúa Ngọc Khoa, con của chúa Nguyễn như trong bài ca Chiêm Thành Ni Danak Po Romé có câu: “Vua Po Romé có 3 vợ: 2 người giống da sậm và 1 người Việt Nam…”. Tuy nhiên trong 3 người vợ đó, chỉ có công chúa Ê Đê H Drah Jan Kpă – con gái cưng của một tù trưởng Ê Đê, là người đã sinh ra con cái cho vua Po Romé.
Tháp Po Romé, tiếng Chăm là “Bimong Po Romé” được xây dựng từ thế kỷ XVII, thờ vị vua Po Romé, vị vua cuối cùng của vương quốc Champa, là di tích được xếp hạng quốc gia hiện nay, là một trong những di tích văn hóa quan trọng của dân tộc Chăm.
Theo nguồn sử liệu thì vua Po Romé thuộc tộc người Churu, thuở nhỏ tên là Jakathaot. Po Romé sinh ra trong một gia đình khá giả ở Panduranga bởi người mẹ đồng trinh. Vì chưa có chồng mà có con, nên mẹ con Po Romé bị ông bà ngoại đuổi khỏi nhà, lang thang từ làng này sang làng khác.
Po Romé lớn lên trong hoàn cảnh đó, cùng mẹ kiếm sống bằng cách đi chăn trâu thuê. Cậu bé cũng thường xuyên bị chế nhạo tại các nơi biết lai lịch của mình. Vượt qua những lời dị nghị, Po Romé lớn vụt lên thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, vóc dáng khác người.
Định mệnh đã đưa đẩy chàng làm mục đồng cho vua Po Mưh Taha. Po Romé có tài bắn cung, mỗi chiều đi về, chàng mang về những thỏ, sơn dương…Truyền thuyết kể là, trưa nọ, ham mê theo dấu chân nai, chàng đi mãi vào rừng đến mệt lả rồi nằm nghỉ dưới gốc cây cao.
Đang thiu thiu ngủ, mở mắt ra chàng nhìn thấy hai cục than lửa đỏ lựng giữa tán lá: một con rồng khổng lồ đang nhìn đăm đắm mình, chàng hoảng hốt bỏ chạy và lạc đường, mãi tối mò mới tìm đến nhà. Sáng sau khi thức dậy, thần sắc Po Romé hoàn toàn đổi khác: phương khi, oai vệ lạ thường.
Lúc này, vua Po Mưh Taha đã già nhưng chưa tìm được người nối ngôi, vì ông chỉ có 1 người con gái. Một hôm, nghe thấy tiếng Po Romé đuổi chó su nhà, vị chiêm tinh của vua Po Mưh Taha bảo đấy chính là giọng vua tương lai của Champa.
Khi xem kỹ tướng mạo Po Romé, vị chiêm tinh tiến cử chàng lên nhà vua và được chấp thuận. Công chúa Bia Than Cih được gả cho Po Romé. Vài tháng sau, Po Romé lên ngôi vua trị vì đất nước, sau khi lên ngôi vua lấy tên hiệu là Po Romé, trị vì vương quốc Champa (1627 – 1651).
Po Romé là vị vua có nhiều công trạng đối với sự nghiệp phát triển của dân tộc Chăm như: dung hòa sự mâu thuẫn giữa cộng đồng người Chăm Ahiér (Chăm ảnh hưởng tôn giáo Bà-la-môn) và cộng đồng người Chăm Awal (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo cũ).
Po Romé cho lập thủ đô Kraung Ala ở Bal Caung, phát triển công trình thủy lợi như đập Cà Tiêu (Banâk Katéw), đập Chavin (Banâk Caping), đập Marên (Banâk Marén)… tưới cho đồng Kraung Biuh hàng vạn mẫu, củng cố triều đình, trao chức Tả tướng quân, Hữu tướng quân cho Xah Bin, Palak Bin.
Rồi thân hành qua Kalentan 7 năm dùi mài kinh Coran lẫn phép thuật, gồng mình để hóa giải mâu thuẫn tôn giáo đang ngày càng trầm trọng trong vương quốc. Với công lao như vậy nên khi mất, vua được cộng đồng người Chăm tôn thờ như một vị thần.
Po Romé là một vị vua có nhiều công lớn với dân tộc Chăm và cũng là một người đàn ông rất say mê nhan sắc. Sau khi kết hôn với người vợ đầu Bia Than Cih (người Chăm Bàni), Bia Than Cih không có con, điều đó làm vua Po Romé hết sức đau buồn, cuộc hôn nhân giữa vua Po Romé và hoàng hậu Bia Than Cih vì thế cũng không trọn vẹn.
Po Romé đã lặn lội đi khắp các xứ sở để tìm thuốc về chữa bệnh cho hoàng hậu nhưng tìm kiếm mãi cũng vô vọng. Một hôm, vua Po Romé đến xứ sở của người Ê đê, ông tình cờ gặp cô gái Ê đê xinh đẹp H Drah Jan Kpă và đã say đắm H Drah Jan Kpă ngay cái nhìn đầu tiên.
Công chúa Ê đê H Drah Jan Kpă là con gái cưng của một vị tù trưởng người Ê đê. H Drah Jan Kpă là con gái rượu của vị tù trưởng Ê đê này. Trong tiếng Ê đê, H Drah Jan Kpă có nghĩa là công chúa Hạt mưa, vì thế vị công chúa Ê đê này còn được người Ê đê xưa đến nay gọi cung kính và yêu quý với tên Công chúa Hạt mưa.
Tù trưởng rất yêu quý Công chúa Hạt mưa, coi Công chúa Hạt mưa là vật báu trong nhà, luôn nói sẽ tìm cho H Drah Jan Kpă một người chồng xứng đáng. Nhan sắc của H Drah Jan Kpă được người Ê đê ví đẹp như hạt mưa, có thể tưới mát cả mùa màng khô hạn, đem đến sức sống mới cho muôn cây, muông thú.
Khi vua Po Romé gặp H Drah Jan Kpă, vua đã đưa H Drah Jan Kpă về kinh thành, cưới nàng làm vợ hai. Nàng trở thành thứ hậu Bia Than Can của Po Romé. Sau này, vua Po Romé còn có thêm một người vợ là công chúa Ngọc Khoa – con chúa Nguyễn, gọi là nàng Bia Ut, nhưng chỉ có nàng Bia Than Can là người duy nhất sinh cho vua Po Romé những đứa con kháu khỉnh.
Theo sử liệu của người Chăm, khi công chúa Hạt mưa về kinh thành, nhan sắc của nàng như nhan sắc của nữ thần mặt trời, đã chinh phục các thần dân của vua Po Romé.
Tất cả đều tin rằng, nàng Bia Than Can không chỉ là người vợ đẹp của vua Po Romé, mà còn là người sẽ sinh ra đứa con nỗi dõi cho hoàng tộc Chăm, đúng như cái tên công chúa Hạt mưa – cái tên của sự đâm chồi, nảy lộc của nàng.
Quả nhiên sau này điều đó đã thành sự thật, ngày thứ hậu Bia Than Can hạ sinh các công chúa, hoàng tử, là những ngày kinh thành Champa say men lễ hội, chào đón người kế nghiệp của vua Po Romé.
Vua Po Romé đã có 2 người vợ xinh đẹp, đã có những đứa con xinh xắn và một vương quốc với những thần dân yêu quý vị vua của mình. Thứ hậu Bia Than Can là người hiền lành, tuy sinh con cho vua Po Romé nhưng biết phận thứ thiếp, nên giữ được mối giao hảo với hoàng hậu Bia Than Cih.
Hai người vợ của vua Po Romé sống hòa bình với nhau trong hoàng cung. Nhưng sau này vua Po Romé vẫn cưới thêm một người vợ, là công chúa Ngọc Khoa, con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
Công chúa Ngọc Khoa là nàng công chúa có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Một lần vì muốn sang vương quốc Champa chơi, công chúa Ngọc Khoa đã đóng giả dân buôn qua biên ải. Sang đến vương quốc Champa, nhan sắc của nàng công chúa đã nhanh chóng theo tin đồn đến tai nhà vua.
Vua cho mời nàng vào cung và ông vua tuổi ngũ tuần nhưng vẫn còn phong độ dạt dào đã bị choáng váng bởi nhan sắc nàng công chúa tuổi vừa đôi tám. Vua Po Romé lập tức cho người sang gặp Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, xin hỏi công chúa Ngọc Khoa về làm vợ.
Lúc đó, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đang phải lo chiến sự bốn bề, đâu đâu lãnh thổ cũng bị xâm phạm, vì muốn giữ được giao hảo giữa hai vương quốc nên đã đồng ý gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Po Romé.
Về đến hoàng cung, công chúa Ngọc Khoa là ái phi được vua Po Romé cưng chiều nhất. Khi công chúa Ngọc Khoa ốm nặng, có vị chiêm tinh vào cung Po Romé, phán rằng công chúa không bị bệnh, vị chiêm tinh đã bị vua Po Romé đuổi về quê.
Có vị chiêm tinh khác nói rằng, muốn nàng Bia Út khỏi bệnh, nhà vua phải triệt đi cây Krek, cây lim thần biểu tượng sức mạnh của vương quốc. Sau một thoáng ngập ngừng, vua đã làm theo. Đích thân vua là người vác cây rìu đi chặt.
Sau ba nhát, thân cây Krek to lớn đổ nhào, máu Krek tuôn chảy suốt bảy đêm. Nàng Bia Út khỏi bệnh. Hai người lại mặn nồng hương tình. Chỉ tiếc là vì say mê nhan sắc của nàng công chúa nước Việt, vua Po Romé dần bỏ quên chuyện chính sự. Ông trở thành vị vua cuối cùng của vương quốc Champa.
Vua Po Romé chết đúng vào lúc vương quốc Champa sụp đổ. Theo tục lệ Champa xưa, những người vợ của vua phải lên giàn hỏa thiêu cùng chồng, để theo hầu hạ vua. Nhưng trong những người vợ vua, chỉ có công chúa Hạt mưa – thứ phi Bia Than Can là dũng cảm nhảy vào lửa chết theo chồng.
Để tưởng nhớ vị thứ hậu chung thủy và dũng cảm, nhân dân Champa đã lập một ngôi tháp phụ, bên cạnh tháp Po Romé. Sau này khi ngôi tháp sụp đổ, tượng bà được đưa vào tháp chính, bên cạnh tượng vua Po Romé.


