SỬ VUA – SỬ DÂN

Loading

SỬ VUA
Quốc sử quán (chữ Hán: 國史館) là cơ quan biên soạn lịch sử chính thức của triều Nguyễn hoạt động từ năm 1821 tới năm 1945. Cơ quan này đồng thời cũng tham gia cả chủ đề về văn hóa, địa lý, con người của Việt Nam.
Tháng 7 năm 1820, Quốc Sử quán bắt đầu được xây dựng và hoàn tất sau đó 1 tháng, tọa lạc tại phường Phú Văn trong Kinh thành Huế (nay thuộc phường Thuận Thành, thành phố Huế). Sau đó nửa năm, vua Minh Mạng cho xây dựng và cải tạo lại hai dãy nhà bên tòa nhà chính thành nơi làm việc của quan lại, đồng thời ở cổng chính cho dựng hai tấm bia “Khuynh cái hạ mã” ở hai bên. Tới ngày 5 tháng 6 năm 1821, vua Minh Mạng cho làm lễ khai mạc Quốc sử quán tại điện Cần Chánh và chính thức đưa nó vào hoạt động.
Đến tháng 11 năm 1841, Quốc Sử Quán có thêm hai tòa nhà phụ nữa nằm ở hai bên do vua Thiệu Trị xây: tòa nằm bên trái dành cho các toản tu tên là Công thự, bên phải dành cho các biên tu tên là Giải vũ đài. Tháng 10 năm 1857, vua Tự Đức cho xây thêm Tàng bản đường nằm ở phía sau tòa nhà chính để đáp ứng nhu cầu chứa các tài liệu biên soạn và in ấn. Đến tháng 2 năm 1884, một dãy nhà ngói 7 gian 2 chái được xây thêm để dùng cho việc viên soạn Đại Nam thực lục chính biên kỷ thứ tư.
Năm 1890, một số nhà quan tản cư được sửa chữa, đồng thời cho đóng thêm một số tủ gỗ sơn son để lưu trữ tư liệu và sách vở. Đến thời vua Thành Thái, một số tòa nhà phụ được tu bổ lại. Năm 1902, hầu hết Quốc sử quán được trùng tu lại. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Quốc sử quán ngưng hoạt động hoàn toàn.
Năm 1964, trường Nữ Trung học Thành Nội được xây dựng trong khuôn viên Quốc sử quán. Từ năm 1976, trường này trở thành trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ.
Tổ chức : Ban biên soạn của Quốc sử quán được chia thành các chức vụ và quyền hạn như sau:
Chỉ đạo biên soạn
– Giám tu nội dung thay mặt nhà vua
– Tổng tài Phụ trách việc biên soạn
Viết, biên tập và lưu trữ²
– Toản tu Soạn và sửa nội dung
– Biên tu Biên soạn
– Khảo hiệu Kiểm tra nội dung và sửa chữa (hiệu đính)
– Đằng lục Chép nội dung để chuyển cho thợ in
– Bút thiếp thức Phiên dịch và chép lại nội dung
– Thư chưởng Bảo quản tài liệu
– Nhập lưu Bảo quản tài liệu
¹ Giám tu và tổng tài sẽ chỉ đạo và chịu trách nhiệm về việc biên soạn trước vua. Các vị này đa số đều kiêm nhiềm nhiều chức, nên có mặt tại Quốc sử quán không thường xuyên.
² Trong số các vị này, trực tiếp biên soạn là các toản tu, biên tu, khảo hiệu.
Công trình đầu tiên Quốc sử quán biên soạn là Liệt thánh thực lục viết về các chúa Nguyễn. Tiếp đó là các cuốn Đại Nam Thực lục tiền biên và chính biên, Minh Mệnh chính yếu, Liệt truyện tiền biên ở thời Thiệu Trị.
Vì nhiều công việc như vậy nên thời gian này nhân sự làm việc trong Quốc sử quán được chấn chỉnh, nhân lực được tăng cường, vật tư dùng để làm việc cung ứng đủ và được sử dụng một cách tiết kiệm nhất.
Quốc sử quán triều Nguyễn là một cơ quan văn hóa – giáo dục chịu sự chi phối trực tiếp của nhà vua; dưới sự giám sát của Bộ Lại và Đô sát viện; tuân thủ những nghi thức do Bộ Lễ đặt ra. Tháng Chín năm Tự Đức thứ 31 (1878), triều đình “cấp cho một con dấu bằng đồng, khắc bốn chữ Quốc sử quán ấn, một con dấu kiềm bằng ngà khắc hai chữ Sử quán”, mục đích nhằm nâng cao vai trò chuyên trách của Quốc sử quán, khẳng định pháp lí của bộ máy công quyền trong việc biên soạn quốc sử.
Hoạt động : Quốc sử quán trong suốt 125 năm hoạt động đã để lại rất nhiều công trình lịch sử địa lý quy mô, được biên soạn một cách chặt chẽ nhất theo phong cách viết sử Việt Nam kết hợp Trung Quốc.
Số công trình có thể được chia thành các nhóm:
– Địa chí
– – Quốc chí:
– – – Hoàng Việt nhất thống địa dư chí của Lê Quang Định soạn năm 1806 nhưng chưa được in: nội dung chủ yếu về các trấn sở và hệ thống giao thông Việt Nam thời bấy giờ
– – – Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú in lần đầu năm 1833 thời Minh Mạng, viết về thay đổi về địa lý hành chính, người nổi tiếng, sản vật, nghề thủ công các địa phương Việt Nam.
Đại Việt địa dư toàn biên (hay Phương Đình dư địa chí) do Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ soạn thời Tự Đức, in năm 1900 với phần lời tựa do Nguyễn Trọng Hợp đề. Tóm tắt danh sách chính sử Trung Quốc, lịch sử thay đổi địa lý lãnh thổ Việt Nam.
– – – Đại Nam nhất thống chí do Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường soạn thời Tự Đức. Viết về từng tỉnh trong cả Việt Nam và một số lãnh thổ kề cận bấy giờ.
– – – Đồng Khánh địa dư chí lược soạn từ 1886 đến 1896, nội dung lấy từ Đại Nam nhất thống chí và sắp xếp lại.
– – Địa phương chí
– – – Bắc thành địa dư chí của Lê Chất và Nguyễn Văn Lý
– – – Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức
– – – Hải Dương địa dư và Hải Đông chí lược của Ngô Thời Nhậm
– – – Bắc Ninh tỉnh chí
– – – Hưng Yên nhất thống chí
– – – Hưng Hóa chí lược
– – – Sơn Tây tỉnh chí
– – – Nam Định tỉnh địa dư chí
– – – Hoan Châu phong thổ chí
– – – Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch
– – – Thanh Hóa tỉnh chí
– – – Quảng Nam tỉnh chí lược
– – – Cam Lộ phủ chí
– Lịch sử, văn học, pháp luật
– – – Đại Nam thực lục (hai quyển là tiền biên và chính biên)
– – – Đại Nam liệt truyện
– – – Minh Mệnh chính yếu
– – – Khâm định Việt sử thông giám cương mục
– – – Đồng Khánh Khải Định chính yếu
– – – Quốc triều sử toát yếu
– – – Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
– – – Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ nghịch phỉ chính biên
– – – Minh Mệnh ngự chế văn
– – – Minh Mệnh ngự chế thi tập
– – – Ngự đề đồ hội thi tập
– – – Triệu Trị ngự chế thi
– – – Tự Đức ngự chế thi
– – – Tự Đức ngự chế văn
– – – Ngọc điệp Tôn phổ
DÂN HỌC SỬ VUA
Sử chính thống là câu chuyện của một quốc gia nhìn từ góc độ của người cầm quyền, với một số chi tiết được thêm vào hay bớt đi để hợp lý hoá việc cầm quyền của vua, chúa hay những người đứng đầu tương tự.
Sử thời nào cũng nửa sai nửa đúng, dùng để làm cái khung tham khảo, chứ không nên bám chấp vào các chi tiết của sử mà phán xét sử đúng hay sai, nhân vật lịch sử đúng hay sai.
Đừng mong sử đúng như toán học, ví như chúng ta mà kể lại cuộc đời của mình chỉ với vài người thân như cha mẹ, vợ chồng, con cái và vài sự kiện chính trong vài chục năm cuộc đời thì chắc gì mình đã hiểu, chắc gì mình đã đúng, mà đòi sử quốc gia dính đến hàng vạn, hàng triệu người có một phiên bản gọi là đúng.
Vạn người làm dân đâu có phải là vua chúa mà biết vua chúa tính gì và vua chúa làm gì, vậy gần như mình không có manh mối nào để viết về các dòng lịch sử mang tính quốc gia, dân tộc. Trăm người viết sử cũng không phải là vua chúa. Vua suy cho cùng cũng chỉ là một người. Quan chép sử cũng là người làm việc cho vua chúa, vậy sử họ chép ra phải làm cho vua chúa hài lòng. Có thể vài chi tiết này nọ họ muốn chép khác đi, thì cũng là những chi tiết mà họ biết và họ cho là đúng thôi, chắc gì họ đã biết đủ và chắc gì họ đã nghĩ đúng.
Vậy làm gì có ai dám khẳng định mình nắm được cái gốc của sử, mà nói sử chính thống (chính sử) hay phi chính thống (huyền sử) là đúng hay sai.
Cái chúng ta cần có trách nhiệm là sử dân hay sử cuộc đời của chính chúng ta.
Đức Thích Ca sinh ra là con vua, lớn lên lại làm vua, nhưng cái đó là tạm thời một vài đời, so với việc ông ấy thực sự là ai trong muôn kiếp luân đời. Khi sinh ra, đức Thích Ca đã có tuyên ngôn về bản thân mình và ông sống cả cuộc đời để tìm kiếm cái bản chất chân thực của bản thân ông. Ông từ bỏ ngai vàng, tử bỏ dòng sử vua để đi sang dòng sử dân.
Cùng với đức Jesus, đức Thích Ca là người giữ khoá mở đầu Công Nguyên, thời kỳ của vua và những người đứng đầu tập quyền, và ông đã tự mình tạo ra một tấm gương cho chúng ta : Vua nhất thời, dân vạn đại.
Vua rút cục thì cũng chỉ là một con người, một người dân đặc biệt vào một thời đặc biệt phù hợp với ông ấy mà thôi. Hãy để người làm vua làm vua, và sống đúng địa vị của người làm dân, đừng làm dân mà chỉ biết sử vua không biết sử dân, đừng làm dân mà chỉ bàn việc nước mà không biết việc nhà mình.
SỬ DÂN
Nông dân chân đất hay kinh doanh tài chính, thương mại, sản xuất, đầu tư bất động sản đều không sai không đúng, Thủ công nghệ thuật hay kỹ nghệ hiện đại đều không sai không đúng, Ăn chay hay ăn mặn, ăn ngon, ăn phong phú đều không sai không đúng, Thiền chữa lành, đông y, tây y đều không sai không đúng, Bỏ phố về quê hay biến phố thành quê hay biến quê thành phố đều không sai không đúng, Thờ cúng nghi lễ hay đơn giản tự nhiên đều không sai không đúng, Vấn đề là cái gì cũng đua đòi làm theo, nhưng nhận thức và hành động đều không đến nơi đến chốn, mà ảo tưởng thì ngút trời và vô bến bờ.
Mỗi người chỉ có
– Một cái thân thể ấy
– Một cái nhà đất ấy
– Một cái gia đình ấy
– Một cái công việc ấy
– Một nghề nghiệp ấy
Cố mà giữ lấy, cố mà tạo dựng, cố mà phát triển cái của riêng mình đã, tự dưng sẽ hiểu ra
– Thân vương, thân thuộc là gì ?
– Nhà nước, đất nước là gì ?
– Hoàng gia, gia tộc là cái gì ?
– Công quyền, công ty là cái gì ?
– Sự nghiệp, duyên nghiệp là cái gì ?
Làm dân, học sử dân trước đi, làm người bình thường, làm người Việt thường trước đi, chứ đừng làm dân, mà học sử vua, rồi nghĩ rằng mình đã là thần thánh biết hết lịch sử của đất nước và dân tộc rồi.
Vì cái của riêng mình, mình làm không đầy đủ, làm chẳng ra gì, mình bỏ bê, rồi tự dưng nhảy xổ lên bàn bàn mấy chuyện quốc gia đại sự, chuyện của người lạ trên mạng, hay chuyện thần thánh vũ trụ kiểu gì cũng sai, cũng lạm.
Chia sẻ:
Scroll to Top