![]()
Ca dao có câu “Mồng 9 vía Trời, mồng 10 vía Đất”
Đầu tiên hãy nói về bộ đôi “mồng chín, mồng mười”. Trong các ngày trăng, quen thuộc nhất là ngày mồng một và ngày rằm, mà đến hai ngày này hàng tháng, người Việt thường thắp hương trên ban thờ gia tiên. Không ai có thể nói ngày mùng 1 hay ngày rằm quan trọng hơn trong việc thắp hương ban thờ gia tiên. Một cặp ngày quan trọng nữa “mồng 9, mồng 10” mà nổi tiếng nhất là lễ cúng vía Trời vía Đất mồng 9, mồng 10 tháng Giêng.
“Mồng 10 cúng Trời, mồng 10 cúng Đất”
“Vè Giăng” cho biết về trạng thái trăng mồng 9, mồng 10
“Mồng chín giăng ánh vườn đào,
Mồng mười giăng mọc đã cao hơn đầu”.
Ánh là ánh sáng hay sắc thái có tính trời, vườn cơ bản là mặt đất, đào là đi từ trên mặt đất xuống lòng đất, quả đào là quả có tính đất, một tính đất trọn vẹn, đủ đầy. “Mồng 9 giăng ánh vườn đào” giăng có ánh đất. Đầu có tính trời, mọc ngược với đào là đi từ đất lên trời. “Mồng 10 giăng đã mọc cao hơn đầu” là giăng sau khi đã trọn vẹn tính đất đi từ đất lên cao hẳn lên trời. Như vậy mồng 9, mồng 10 giăng thực hiện một chuyển đổi đất trời.
Cụ thể cả bài “Vè Giăng” như sau
“Mồng một cho tới mồng năm
Giăng còn thơ ấu, tối tăm biết gì
Mồng sáu, mồng bảy trở đi
Đến ngày mồng tám giăng thì lên cao
Mồng chín giăng ánh vườn đào
Mồng mười giăng mọc đã cao hơn đầu
Mười một sáng cả vườn dâu
Mười hai giăng ở địa cầu trung thiên
Mười ba giăng gió giữ duyên
Đến ngày mười bốn giăng lên giữa trời
Gặp giăng em hỏi em chơi
Liệu giăng sáng cả trần đời được chăng?
Đến rằm giăng đã lên cao
Tới ngày mười sáu giăng treo tỏ tường
Mười bảy giăng sẩy chiếu giường
Mười tám dọn dẹp cương thường anh đi
Mười chín em định em ngồi
Hai mươi giấc tết, em thì ra trông
Kể từ hăm mốt nửa đêm
Giăng già thì cũng có phen bạc đầu
Cuối tháng giăng xuống biển sâu
Ba mươi mồng một ai cầu được giăng”
Liên quan đến bộ chín, mười, có một cách so sánh dân gian là “Một chín, một mười”. “Một chín, một mười” có nghĩa là đối đôi vừa lứa với nhau, trọn vẹn như nhau, đủ đầy như nhau, tốt đẹp như nhau; khác với câu “kẻ tám lạng, người nửa cân” nói về sự tương đương theo nghĩa đối kháng, cạnh tranh, không tốt đẹp.
Sự trọn vẹn, đầy đủ của “chín mười” tạo nên khái niệm “chín muồi”.
Còn duyên chửa nói đã cười
Hết duyên gọi chín mười lời chả thưa
“Chín tháng mười ngày” là thời gian chín muồi của bào thai.
“Trời Đất” cũng là một bộ đôi âm dương, liên quan đến các cách nói
– cha Trời mẹ Đất, cha Đất mẹ Trời
– trời cao đất thấp
– trời cao đất rộng
– trời cao đất dầy
– trời tròn đất vuông
– trời ơi đất hỡi
– trời đất xoay vần
– của thiên trả địa
– thiên thời địa lợi nhân hoà
– thiên linh linh địa linh linh
– thiên địa hợp nhất
“Mồng 9 vía Trời, mồng 10 vía Đất” liên quan đến câu “Chín phương Trời, Mười phương Phật”, Phật có tính Đất, đối xứng với Thiên có tính Trời.
– Tính Trời cơ bản là tính thái cực, đơn cực, cùng cực, liên quan đến số 9 (nghĩa là chín chắn, chín muồi). Tính trời liên quan đến Tiên, Chúa, Thánh.
– Tính Đất cơ bản là tính thái bình, lưỡng cực, đa cực, trung dung, bình hoà. Tính đất liên quan đến Thần Phật.
Vậy
– Vía Trời, lễ cúng Trời mùng 9 liên quan đến
– – – Mẹ Trời (đi với cha Đất), Cha Trời (đi với mẹ Đất)
– – – Chúa Trời
– – – 9 phương Trời (đối xứng với 10 phương Phật)
– – – Quan văn
– – – Thiên đế (Thượng đế)
– – – Thiên hậu, Thiên hậu Thánh Mẫu, Ma Tổ, Mẫu Tổ
– – – Thiên hà
– – – Thiên Hoàng (Ngọc Hoàng)
– – – Thiên tử (Vua)
– – – Thiên đình (Thành hoàng làng thờ ở đình làng)
– – – Thiên kim
– – – Thiên tài, Thần tài
– – – Thái cực, Thái cực dương (Thái dương/Mặt trời) và Thái cực âm (Thái âm/Mặt trăng)
– – – Những người thay trời cai trị, thay trời hành đạo, thay trời trừng phạt
– Vía Đất, lễ cúng Đất mùng 10, 10 phương Đất liên quan đến
– – – Mẹ Đất (đi với cha Trời), Cha Đất (đi với mẹ Trời)
– – – 10 phương Phật (đối xứng với 9 phương Trời), mẹ Quán Âm Nam Hải
– – – Quan võ, mở đất, bảo vệ đất
– – – Nam đế (đối xứng với Thiên đế, Thượng đế)
– – – Nam Tào, Bắc Đẩu (đối xứng với Ngọc Hoàng)
– – – Chúa đất (đối xứng với Vua cai trị một vùng đất, Thiên tử)
– – – Phật, Thần và Mẫu thờ ở chùa làng (đối xứng với Thành hoàng thờ ở đình làng)
– – – Thần Bản thổ (đối xứng với Thành hoàng bản cảnh)
– – – Thổ địa (đối xứng với Thần tài)
– – – Thổ công, ông Công (đối xứng với ông Táo, Táo quân)
– – – Ông Địa,
– – – Thần đất
– – – Lưỡng cực dương (Ông Công Ông Táo, Nam Tào Bắc Đẩu), Lưỡng nghi âm
– – – Những người mở đất, những người lập đất, những người được phong đất lập làng
– – – Những người đứng đầu các bộ lạc,
– – – Những người đứng đầu các dòng tộc, thị tộc
– – – Những người đứng đầu các vùng đất, chúa đất
