TÊN ĐI CÁ BỘ : PHẠM

Loading

PHẠM LÀ GÌ ?
Bất kỳ cái gì tồn tại như nguyên tử, vũ trụ, thân thể, sinh giới, linh hồn … đều có “phạm” của nó. Tuỳ bản chất của đối tượng, mà giới hạn tồn tại của nó sẽ là “phạm vi”, “phạm trù”, “phạm hạnh” … Nhận ra được “phạm” của một thứ là nhận thức được thứ đó tồn tại với giới hạn rõ ràng, còn nếu không sớm muộn mình cũng “phạm” vào nó, hoặc nó “phạm” phải mình, phá hỏng sự tồn tại của một trong hai hoặc cả hai ở các mức độ khác nhau.
Liên quan đến bộ nghĩa của Phạm có một số từ sau
– TRẦN : Trần là giới hạn trời của Phạm, chủ nhân của giới hạn trời này là Phạm Thiên. Đức Thánh Trần chính là hoá thân của Phạm Thiên, vua Trời hay Giàng.
– MẪU : Mẫu là giới hạn đất của Phạm, Mẫu đối xứng với Trần
– GIỚI : Giới là biên của Phạm, sinh ra cảnh giới, thiên giới, giới tính, giới thiệu, giữ giới và phạm giới
– Phương là các thuật toán của Phạm, như phương trình, phương pháp, phương cách, chín phương Trời, mười phương Phật…
– Trấn là bảo vệ Phạm, sinh ra trấn yểm, trấn ấp, phiên trấn, tứ trấn…
– BIÊN : Biên là một dạng phạm mà có thể định được giới hạn của nó rõ ràng, sinh ra biên giới, biên cương, biên ải, biên thuỳ, định biên, trấn biên, long biên, điện biên
– CHU : Một dạng biên đường khép kín như chu vi, chu dịch, chu di, chu du, chu tước, chu đáo, chu toàn. Chu vi mang tính hình tướng không gian, còn phạm vi mang tính vận hành, tinh thần hơn
– BÀO : Con người trải qua bốn trạng thái bào là
– – – hợp tử là bào tử, đơn bào, tế bào gốc đầu tiên
– – – mô bào : mô đa bào của phôi dâu
– – – phôi bào : phôi dâu sau khi làm tổ phân hoá thành các lớp mô
– – – bào thai : giai đoạn sau của phôi bào, phân hoá thành thân rốn ối nhau
– MẠC : mạc là bào của các bộ phận cơ thể như niêm mạc, giác mạc, phúc mạc, thanh mạc,mạc cơ, mạc xương, mạc tạng …
– LỄ : là phép xác định, bảo vệ, biểu đạt, vận hành phạm vi
—o—
PHẠM
Phạm (danh từ) : khuôn mẫu, biên của cái gì đó
– Phạm vi :
– Phạm trù
– Phạm hạnh
– Phạm âm
– Phạm ngữ : Phạn ngữ
– Phạm cơm : Chén cơm
Phạm (danh từ) :
– Quy phạm : Là bộ phạm đã được quy định, quy tắc, quy trình hoá
– Đẹp phạm : Trong phạm vi, phạm trù của cái đẹp
Phạm (động từ) : cái gì đó
– Phạm cái gì đó
Ba năm củi quế phạm rìu
Thất danh anh chịu, không chiều lòng ai
– – – Phạm tay, phạm chân : tự mình làm đứt, làm sứt . .. tay chân mình
– – – Phạm huý (về thanh âm với vua)
– – – Phạm thượng (về trật tự thứ bậc với vua)
– – – Phạm quy
– – – Phạm giới
– – – Phạm luật
– – – Phạm pháp
– – – Phạm nhan : phạm vào biên tiếp xúc âm dương
– – – Phạm tội
– Phạm nhan là phạm vào tiếp xúc âm dương
– Phạm phòng
Thứ nhất phạm phòng,
Thứ nhì lòng lợn
– Phạm vào
– Phạm phải,
– Phạm tới,
– Phạm đến
Phạm (động từ) : hành động phạm có tính chất, cách thức đặc biệt nào đó
– Mạo phạm
– Thị phạm
– Vi phạm
– Xúc phạm
– Xâm phạm : phạm cố ý, phạm có tính chất nghiêm trọng
Phạm (tính từ)
– Mô phạm : phạm vi có tính mô (liên quan đến mô bào)
– Sư phạm :
Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm
Nhất Y nhì Dược,
Tạm được Bách khoa,
Sư phạm bỏ qua,
Nông lâm xếp xó
– Quy phạm
– Điển phạm
– Văn phạm
Phạm (danh từ) : người mắc lỗi phạm
– Nghi phạm
– Can phạm
– Tội phạm
– Thủ phạm
– Đồng phạm
– Chủ phạm
– Tòng phạm
Phạm (danh từ) : người mắc lỗi phạm
– Phạm nhân : người mắc lễ phạm đang phải chịu phạt
Phạm (danh từ) : người giữ được phạm
– Khuê phạm
Phạm (tính từ) : người phàm, người bình thường, người vô danh, người vô gia cư
Ăn như sư, ở như phạm
Sư ăn gì cũng được, phạm ở đâu cũng được
Phạm : địa danh
– Phạm Pháo : Địa danh thuộc xã Hải Minh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Bao giờ Phạm Pháo có đình,
Phương Đê có chợ thì mình lấy ta.
Nỗi nàng khó nói cho ra,
Muốn chia phải trái quan nha cũng hèn
– Phạm Mệnh : Làng Dương Nham, tổng Dương Nham, phủ Kinh Môn trước đây, nay là thôn Dương Nham, xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nằm trên một vùng đất giữa hai dãy núi. Ở phía Nam là dãy núi đất với tên Yên Phụ, có ngôi mộ cụ Trần Liễu, thân phụ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, ở phía Bắc là dãy núi đá có động Kính Chủ và sông Kinh Thầy. Mảnh đất này từ xa xưa là vùng biển.
Phạm (họ) : Họ Phạm là một trong các họ của Kinh, Mường, Tày, người Việt gốc Hoa, người Việt gốc Khmer, người Chăm và Thái (thường chuyển từ họ Khằm/Cầm), xuất hiện trong các huyền sử cổ
– Nhân vật tôn giáo
– – – Phạm Thiên : Phạm Thiên (Brahma) là vị thần tối cao trong Hindu giáo, được coi là đấng sáng tạo vũ trụ và muôn loài, cha của Manu (con người đầu tiên). Phạm Thiên có thể được dịch là Vua trời, Cha trời, Chúa trời. Trong Hindu giáo: Được tôn thờ là một trong ba vị thần tối cao (Trimurti), cùng với Vishnu (bảo hộ) và Shiva (hủy diệt).
– – – Phạm Tiên
– – – Phạm Vương
– Những người họ Phạm liên quan đến đức thánh Trần
– – – Phạm Tiên Nga là tên của thánh Mẫu Liễu Hạnh trong lần giáng háo đầu tiên ở phủ Quảng Cung, vào đời Lê. Bà tham gia sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Đức thánh Trần đứng bên Cha, Mẫu Liễu Hạnh đứng bên mẹ.
– – – Giặc Phạm Nhan : Tướng giặc bị Đức Thánh Trần giết, được cho là gây ra căn bệnh hậu sản “phạm nhan” cho phụ nữ mới sinh con
– – – Phạm Ngũ Lão : Con nuôi Đức Thánh Trần
– – – Phạm Linh : Tướng giặc bị Thuỷ Tinh Công Chúa, vợ sau của Phạm Ngũ Lão giết
– Nhân vật văn học
– – – Phạm Lãi (525 TCN – 455 TCN) – Tây Thi : Phạm Lãi giúp Việt Vương Câu Tiễn diệt nước Ngô, được cho là cuối đời bỏ trốn cùng Tây Thi
– – – Phạm Tải – Ngọc Hoa : là một truyện thơ Nôm khuyết danh của Việt Nam, có ý kiến cho rằng tác phẩm xuất hiện trong khoảng thế kỷ 18. Phạm Tải – Ngọc Hoa gồm 928 câu thơ, chủ yếu là những câu lục bát, thỉnh thoảng có những đoạn trữ tình xen vào, làm theo thể song thất lục bát. Phạm Tải và Ngọc Hoa là cặp đôi nhân vật chính của truyện. Đền Ngọc Hoa (Ngọc Linh Từ) là ngôi đền thờ Ngọc Hoa trong truyện. Đền nằm giữa trung tâm thôn Văn Tảo, xã Thanh An, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Đôi ta kết nghĩa đá vàng
Cầm bằng Phạm Tải sánh nàng Ngọc Hoa
– – – Phạm Công – Cúc Hoa là một truyện thơ chữ Nôm trong văn học Việt Nam. Truyện thơ này gồm 4.610 câu thơ lục bát, xuất hiện khoảng từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Đây là một trong những truyện thơ Nôm có số lượng câu nhiều nhất. Từ trước đến nay, tác giả của Phạm Công-Cúc Hoa vẫn bị coi là khuyết danh. Đến tận cuối năm 2009, qua một bản in khắc gỗ, người ta mới có cơ sở để xác định tác giả truyện thơ này là Dương Minh Đức Thị.
– Họ Phạm của người Chăm)
– – – Phạm Hùng (Champa): vua của triều vương thứ nhất (192-336) của nước Lâm Ấp, trị vì 270 – 282. Ông bị tướng Đào Hoàng của nhà Tây Tấn đánh bại.
– – – Phạm Duật (Champa): con của Phạm Hùng, trị vì từ 283 – 336.
– – – Phạm Văn: tể tướng Lâm Ấp, lên ngôi khi Phạm Dật mất, mở đầu triều vương thứ hai (336 – 420), trị vì từ 336 đến 349.
– – – Phạm Phật: con của Phạm Văn, trị vì từ 349 – 380.
– – – Phạm Tuấn Đạt: con của Phạm Phật, trị vì từ 380 – 413.
Phạm Dương Mại I mở đầu triều vương thứ ba (420 – 530), trị vì 420 – 421.
– – – Phạm Dương Mại II: trị vì 421 – 446, nhiều lần tiến quân đánh Nam – Bắc triều của Trung Quốc (nhà Lưu Tống).
– – – Phạm Thần Thành: con của Phạm Dương Mại II, trị vì từ 455 – 472.
– – – Phạm Đang Căng Thuần, con vua Phù Nam tị nạn tại Lâm Ấp, cướp ngôi và trị vì từ 472 – 492.
– – – Phạm Chư Nông: con của Phạm Thần Thành, giết Phạm Đăng Căn Thăng, được vua Nam Tề Vũ Đế phong vương Lâm Ấp năm 492, trị vì từ 492 – 498 thì chết đuối vì gặp bão khi đang trên đường sang Nam Tề.
– – – Phạm Văn Tẩn: trị vì 498 – 502.
– – – Phạm Phạn Chi: trị vì từ 577 – 629. Năm 605, ông bị tướng Lưu Phương của nhà Tùy đánh bại,
– Nhân vật lịch sử
– – – Phạm Tu (476–545): Võ tướng nhà Tiền Lý, được suy tôn là Thượng Thủy tổ họ Phạm Việt Nam, giúp Lý Nam Đế dựng nước Vạn Xuân, bảo vệ thành Tô Lịch và chết ở sông Tô Lịch.
– – – Phạm Công : Phạm Công Tức Phạm Huyên, hiệu là Minh Dực, thân phụ của bà Phạm Thị Uyển, vợ vua Mai Hắc Đế.
Sông Tô nước chảy quanh co
Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương
– – – – Phạm Thị Uyển (mất năm 722) vợ Mai Hắc Đế : Trong trận quyết chiến ở phủ thành Tống Bình, hoàng hậu Phạm Thị Uyển cũng dẫn đầu một cánh quân thủy giao chiến ác liệt với quân địch trên dòng Tô Lịch, bấy giờ còn là một nhánh của sông Hồng và là mặt án ngữ phía tây của thành Đại La. Thế giặc mạnh, quân ta bị đuối dần. Quyết không để rơi vào tay giặc, bà đã nhảy xuống sông tự vẫn. Xác bà trôi dạt đến địa phận trang Nhân Mục (nay là làng Hòa Mục) thì được nhân dân lén vớt lên chôn cất, rồi lập đền thờ. Đó chính là đền Dục Anh, nay nằm trên đường Nguyễn Ngọc Vũ, quay mặt ra sông Tô Lịch ở đoạn gần cầu Trung Hòa.
– – – Phạm Chí Dũng : Hồng Châu tướng quân
– – – – Phạm Chiêm (Phạm Lệnh Công): Tướng nhà Ngô, có công giúp Ngô Quyền, con Phạm Chí Dũng.
– – – – – Phạm Bạch Hổ (sinh 910) : Một trong 12 sứ quân thời loạn, được suy tôn là vua Mây, đứng đầu đất Hồng Châu, con Phạm Lệnh Công.
– – – – – – Phạm Cự Lạng (944 – 984): Danh tướng thời Đinh – Tiền Lê, có vai trò quan trọng trong việc tôn Lê Hoàn lên ngôi và mở cõi, con của Phạm Mạn, cháu của Phạm Bạch Hổ
– – – – – – Phạm Hạp (933-979) : Danh tướng phò vua Lê, anh của Phạm Cự Lạng
– – – Phạm Thị Trân (926 – 976) : tước Ưu Bà, hiệu Huyền Nữ, được suy tôn là tổ nghề hát chèo Việt Nam.
– – – Phạm Ngũ Lão (1255–1320): Danh tướng thời Trần, nổi tiếng văn võ song toàn dưới quyền Trần Hưng Đạo.
– – – Phạm Sư Mạnh (1300 – 1384): Danh thần thời Trần, nổi tiếng thẳng thắn, cương trực.
– – – Phạm Tử Nghi ((1509-1551) còn gọi Thiên Lôi danh nhân đời nhà Mạc
– – – Phạm Thị Liên (1758 – 1791) : Hoàng hậu, chính thất của vua Quang Trung, mẹ vua Quang Toản.
– – – Phạm Đình Hổ (1768–1839): Nhà văn, nhà thơ lớn thời Hậu Lê.
– – – Phạm Phú Thứ (1821–1882): Đại thần nhà Nguyễn, nhà duy tân tiêu biểu.
– – – Phạm Công Tắc (1890-1959) : lãnh tụ sáng lập đạo Cao Đài
—o—o—o—
CÙNG BỘ ÂM GỐC VỚI PHẠM
– PHẠM – PHÀM – PHẢM – PHÁM – PHAM – PHÃM
– PHẶM – PHẰM – PHẢM – PHẮM – PHĂM – PHẴM
– PHẬM – PHẦM – PHẤM – PHẨM – PHÂM – PHẪM
PHÀM
Phàm (liên từ)
– Phàm là : nói chung là, thường là, đại khái rằng, gộp chung là
– – – Phàm là người thì
– Phàm thì : nói chung thì, thường thì, đại khái thì, gộp chung thì
– – – Phàm sống thì
– – – Phàm ăn thì
Phàm (trạng từ)
– Phàm ăn : dễ ăn, ăn gì cũng được, ăn gì cũng thấy ngon
Phàm ăn tục uống
Phàm (tính từ)
– Phàm trần
Quê cha thì ở trên trời
Quê mẹ dưới đất xuống chơi phàm trần
Đường đi không ngại mỏi chân
Mùa hè thì ú, mùa xuân thì gầy.
– Cõi phàm : cõi trần
Em than một tiếng than, trời đất xây vần,
Chim trên cành còn khóc tức tưởi,
Huống chi kẻ phàm trần lại ngó lơ?
Là gì?
– Người phàm
Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân
– Phàm nhân
– Hạ phàm
– Giáng phàm
– Phi phàm
– Siêu phàm : không bình thường, vượt trội lên so với số đông, thói thường
– Dị phàm
– Phàm phu :
Đất xấu trồng cây khẳng khiu
Những người thô tục nói điều phàm phu
– Phàm tục
Phàm phu tục tử
– Nét phàm >< Dáng tiên
Phàm (danh từ)
– Cánh buồm
—o—
PHĂM : Tinh từ
– Phăm phăm
—o—
PHẨM
Phẩm (danh từ)
– Sản phẩm
– Phế phẩm
– Siêu phẩm
Quảng Nam sản phẩm muôn ngàn
Trà My rừng quế, kho vàng Bông Miêu
Phẩm (danh từ)
– Phẩm mầu
– Phẩm nhuộm
– Nhuộm phẩm
– Dãi phẩm
Nhất cao là núi Đan Nê
Nhất đông chợ Bản, nhất vui chợ Chùa
Vải chợ Chùa năm quan một tấm
Em mua về dãi phẩm cho tươi
Một năm được mấy tháng vui
Tháng sáu là một, tháng mười là hai
Phẩm (danh từ)
– Phẩm oản
Con tôi buồn ngủ buồn nghê
Buồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gà
Nhà còn có một quả cà
Làm sao đủ miếng cơm và cho con
Con tôi khóc héo, khóc hon
Khóc đòi quả thị méo trôn đầu mùa
Con thèm phẩm oản trên chùa
Con thèm chuối ngự tiến vua của làng
Con thèm gạo cốm làng Ngang
Con thèm ăn quả dưa gang làng Quài
Con thèm cá mát canh khoai
Con thèm xơ mít, thèm tai quả hồng
Con thèm đuôi cá vây bông
Thèm râu tôm rảo, thèm lòng bí đao
Phẩm : Các dạng, các thứ bậc của phẩm
– Nhất phẩm
Lạy cha hai lạy một quỳ
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng
Thắt lưng đũi tím, bộ nhẫn đồng con đeo tay
– Tứ phẩm
Văn thì cửu phẩm là sang
Võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu.
– Lục phẩm
Quan văn lục phẩm thì sang
Quan võ lục phẩm thì mang gươm hầu
– Cửu phẩm
Con tôi cửu phẩm chẳng màng
Bao giờ đi chợ liếc ngang thằng mù.
– Cực phẩm
Chia sẻ:
Scroll to Top