![]()
NHỮNG NGƯỜI MỞ ĐẤT LẤN BIỂN CỦA THĂNG LONG TỨ XỨ
—o—o—o—
ĐỚI ĐỨT GÃY SÔNG HỒNG
Đới đứt gãy Sông Hồng (chữ Anh: Red River Fault), hoặc gọi là Đới kiến tạo Ai Lao Sơn – Hồng Hà.
Đứt gãy sông Hồng là một hệ thống đứt gãy trượt bằng gồm đứt gãy chính và nhiều đứt gãy phụ kéo dài từ Duy Tây, Vân Nam, Trung Quốc chạy dọc thung lũng sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ, với chiều dài trên 1560 km.
Đứt gãy Sông Hồng được xem là ranh giới phân chia của hai khối lục địa
– Khối Âu Á – Khối Á (giáp với khối Âu ở Trung Đông và gồm 2 khối lớn là Trung Hoa và Nga) – Mảng Nam Trung Hoa/thềm Dương Tử
– Khối Ấn Độ – Khối Đông Dương (đối xứng với khối Ấn Độ về phía Tây Bắc) – Mảng Indonesia về phía Nam
Hoạt động của đứt gãy cách đây 30 triệu năm đến 5,5 triệu năm về trước và tạo ra các trầm tích Oligocen thượng và Miocen dày 7 – 10 km. Tốc độ dịch chuyển của hai bên đứt gãy 7±3mm/năm.
Sự va chạm hội tụ giữa tiểu lục địa Ấn Độ và lục địa Á – Âu từ Kỉ Paleogen đến sơ kì và trung kì Kỉ Neogen đã làm cho mảng Indosina bị đẩy ép về phía đông nam, biên giới phía đông bắc của nó hình thành đới trượt ngang Ai Lao Sơn – Hồng Hà có tính dẻo, trượt về bên trái, quy mô cực kì to lớn. Phương thức vận động vào cuối Kỉ Neogen là chuyển sang đứt gãy thuận trượt về bên phải, hình thành đứt gãy giòn ở phía đông Ai Lao Sơn, theo nghĩa hẹp chính là đứt gãy sông Hồng.
Khi mảng Ấn Độ va vào mảng Á Âu hình thành nên dãy núi Himalaya và hình thành một loạt các yếu tố kiến tạo ảnh hưởng đến những vùng xung quanh nó, nhiều đứt gãy trượt bằng trên cao nguyên Thanh Tạng phát triển về hướng đông qua Vân Nam và Đông Nam Á. Các đứt gãy nổi tiếng như Côn Lôn, sông Tiên Thủy, sông Hồng, Gia Lạc, và Sagaing. Nhiều đứt gãy trượt bằng giữa Myanmar và Đứt gãy sông Hồng có vai trò quan trọng trong pha phát triển kiến tạo Creta-Paleogen, cũng như giai đoạn tái hoạt động trong Oligocen đến nay.
Đứt gãy sông Hồng được thể hiện rõ trên ảnh vệ tinh, trên bản đồ địa hình, trên các sơ đồ mật độ yếu tố dạng tuyến (lineamen), chiều dày lớp ngoại sinh.
Đới cắt trượt Sông Hồng là một trong những đứt gãy trượt bằng trái cùng với đứt gãy Wang Chao và Ba Tháp ở Thái Lan. Đứt gãy Sông Hồng được cho là hoạt động cùng thời kỳ với sự tách giãn hình thành Biển Đông.
Đới đứt gãy này gồm 3 đứt gãy là đứt gãy sông Hồng, sông Chảy và sông Lô.
Dọc theo đới đứt gãy có nhiều thể xâm nhập có tuổi khác nhau và thành phần từ siêu mafic đến felsic. Tất cả các đá bị vò nhàu và biến chất mạnh. Trong đới này có 4 dãy núi đá gơnai xem kẹp với leucogranit, amphibolit, micmatit, và các đai mạch, gồm Xuelung Shan, Daicang Shan, Ailao Shan thuộc Trung Quốc và dãy núi Con Voi (Việt Nam).
Bồn trũng Sông Hồng được lấp đầy bởi các trầm tích mảnh vụn với bề dày 10–17 km, và được tích tụ từ cuối Eocen. Các trầm tích có nhiều nguồn gốc khác nhau gồm sông, hồ (vào khoảng trước 21 Ma) đến trầm tích biển (sau 21 Ma). Hầu hết các trầm tích có xuất phát từ Himalaya được vận chuyển qua lưu vực sông Hồng.
SỰ HÌNH THÀNH VÙNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TỪ BIỂN
1. Thời kỳ Tiền sử (Cách đây 4.000 – 6.000 năm)
Đường bờ biển: Biển tiến sâu vào đất liền, cửa sông Hồng nằm ở khu vực Việt Trì (Phú Thọ). Toàn bộ vùng đồng bằng ngày nay (Hà Nội, Thái Bình, Nam Định…) lúc đó vẫn là vịnh biển nông hoặc đầm lầy mặn.
Dấu tích: Các di chỉ khảo cổ thuộc văn hóa Đa Bút, Quỳnh Văn thường nằm dọc theo các đường bờ biển cổ này.
2. Thời kỳ đầu Công nguyên đến thế kỷ X
Đường bờ biển: Phù sa sông Hồng bắt đầu bồi đắp mạnh. Đường bờ biển lùi dần về phía Đông Nam, đi qua khu vực Bắc Ninh, Bắc Giang và sát phía Tây Hà Nội.
Đặc điểm: Quá trình bồi đắp tự nhiên chiếm ưu thế. Các vùng như Hải Dương, Hưng Yên bắt đầu hình thành rõ rệt hơn.
3. Thời kỳ Phong kiến (Thế kỷ XI – XVIII)
Đây là giai đoạn con người bắt đầu can thiệp mạnh bằng việc đắp đê:
Thế kỷ XIII (Nhà Trần): Việc đắp đê “Quai vạc” trên quy mô lớn bắt đầu ngăn lũ và cố định các dòng chảy, giúp việc bồi đắp phù sa tập trung hơn ở các cửa sông.
Thế kỷ XV – XVII: Đường bờ biển đã tiến đến khu vực các huyện phía Bắc của Thái Bình và Nam Định ngày nay. Những vùng đất như Giao Thủy (Nam Định) hay Tiền Hải (Thái Bình) lúc này vẫn là bãi bồi mới hoặc sát biển.
4. Thời kỳ đẩy mạnh khẩn hoang (Thế kỷ XIX – triều Nguyễn)
Đây là thời kỳ lấn biển có quy mô và tổ chức rõ rệt nhất dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Công Trứ:
Năm 1828 – 1829: Thành lập hai huyện mới là Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) hoàn toàn từ đất lấn biển.
Tốc độ: Tại Kim Sơn, sau hơn 180 năm, người dân đã quai đê lấn biển 6 lần, đưa đường bờ biển tiến ra xa thêm hàng cây số.
BỘ TỨ THĂNG LONG
Thăng Long Tứ Xứ là vùng đất châu thổ cửa biển sông Hồng (đoạn cuối của đới đứt gãy sông Hồng), có cùng gốc với biển Đông và đã từng một thời hoàn toàn là biển, với núi và đảo nổi lên trên các bãi bồi và các vùng nước ngập mặn.
Thăng Long Tứ Xứ là bốn vùng gốc của Thăng Long
– Xứ Đông (Đông Hải) là xứ biển, gồm tỉnh Hải Dương, tỉnh Hải Phòng. Cửa biển giữ biên của xứ là Bạch Đằng (sông Bạch Đằng), ở chân dãy núi Đông Triều Yên Tử, với ba người đã đánh thắng quân xâm lược ở cửa biển này là Ngô Quyền, Lê Hoàn và Trần Hưng Đạo
– Xứ Sơn Nam gồm Hưng Yên (Sơn Nam Thượng), Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình (Sơn Nam Trung), Thái Bình (Sơn Nam Hạ), là xứ hình thành từ bãi bồi lấn biển. Cửa biển giữa biển của xứ là Thần Phù (sông Đáy), thần Áp Lãng Chân Nhân
– Xứ Đoài gồm Sơn Tây, Vĩnh Phúc và Hà Tây cũ, là xứ núi của Thăng Long Tứ Xứ, đối xứng với xứ biển (xứ Đông) với hai dãy núi thiêng là Ba Vì và Tam Đảo.
– Xứ Kinh Bắc gồm Bắc Ninh và Bắc Giang, có núi Sóc (phía Đông Tam Đảo), Phật Tích, Thiên Thai, Nham Biền và Yên Tử (phía Tây Lục Đầu Giang), với sự tích Thánh Gióng và Phật Tổ Man Nương
Vùng trung tâm của Thăng Long nằm ở nhân của Thăng Long Tứ Xứ với
– Thăng Long Tứ Phủ : Giữa bốn biên của Thăng Long
– Thăng Long Tứ Trấn : Giữa bốn góc của Thăng Long
– Thăng Long Tứ Quán : Giữ bốn phương của Thăng Long
Thăng Long Tứ Trấn
– Trấn Đông : Đền Bạch Mã (thần Bạch Mã và Long Đỗ)
– Trấn Tây : Đền Voi Phục (thần Linh Lang Đại Vương)
– Trấn Bắc : Đền Quán Thánh (thần Huyền Thiên Trấn Vũ)
– Trấn Nam : Đền Kim Liên (thần Kim Liên, Cao Sơn)
Thăng Long Tứ Quán là sự quán chiếu của Thăng Long Tứ Trấn và Tứ Phủ
– Trấn Vũ quán, nay gọi là đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh
– Huyền Thiên quán, nay là chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai.
– Đồng Thiên quán, nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành.
– Đế Thích quán, nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên.
Thăng Long Tứ Phủ : phủ Tây Hồ, phủ Hoài Đức, phủ Thường Tín, phủ Ứng Thiên
– Phủ Ứng Thiên : Phủ Ứng Thiên gồm nhiều huyện : huyện Sơn Minh (vùng Bắc Ứng Hòa và Nam Thanh Oai ngày nay), huyện Sơn Nam (vùng Nam Ứng Hòa và Bắc Kim Bảng – Hà Nam; huyện Mỹ Đức và Chương Đức – một phần của Chương Mỹ). Trung tâm là Ứng Hòa ngày nay, thủ phủ có thể là làng Hoàng Xá (Vân Đình). Năm Giáp Dần Thuận Thiên thứ 5 (1014), Lý Thái Tổ đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh.
– Phủ Hoài Đức : Cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, soạn từ năm 1435, trong đó, ở phần Thượng kinh, viết: “Tiền Lý gọi nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (tức thành Thăng Long bây giờ – thời Lê). Thượng kinh là kinh đô vua. Thời Ngô, quận thú là Sĩ vương (tức Thái thú Sĩ Nhiếp) đóng đô ở đấy. Thời Đường, quan đô hộ là Cao vương (Cao Biền) đắp thành Đại La ở đấy. Từ Lý đến nay, cũng đóng đô ở đấy. Có 1 phủ lộ, 2 thuộc huyện, 36 phường”. Sách “Đồng Khánh địa dư chí” biên soạn thời Vua Đồng Khánh triều Nguyễn cũng dẫn giải: “Sau khi Lý Thái Tổ dời đô về Đại La, đổi tên thành Thăng Long, đặt phủ Ứng Thiên thống nhiếp các vùng phụ quách Hoàng thành. Năm 1014 đổi phú Ứng Thiên thành Nam Kinh. Đời Trần đổi làm phủ Đông Đô, thuộc lộ Đông Đô, gồm phủ Đông Đô và huyện Từ Liêm. Thời quân Minh xâm lược nước ta, chúng đổi tên thành huyện Đông Quan”. Sang thời Vua Lê Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ 3 (1430), đổi Đông Quan làm Đông Kinh, còn gọi là Trung Đô. Vua Lê Thánh Tông mới đổi phủ Trung Đô thành phủ Phụng Thiên. Thời Lê trung hưng, từ đời Vua Lê Hiển Tông trở đi gọi Thăng Long là Đông Đô, do Thanh Hóa lúc đó được gọi là Tây Đô.
– Phủ Thường Tín : Phủ Thường Tín là phủ được đặt tên vào thời nhà Lê. Thời Bắc thuộc là quận Giao Chỉ; thời Lý Trần là châu Thượng Phúc. Thời thuộc Minh đổi là châu Phúc Yên gồm 3 huyện: Bảo Phúc, Phù Lưu, Thanh Đàm. Nhà Lê đặt làm phủ Thường Tín thuộc thừa tuyên Sơn Nam (sau đổi là trấn), gồm 3 huyện Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên. Các triều sau vẫn theo như thế. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tách toàn bộ phủ Thường Tín đặt thuộc vào tỉnh Hà Nội. Ngày nay các huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Trì đều thuộc thành phố Hà Nội.
– Phủ Tây Hồ
Tỉnh Hà Nội thời Nguyễn có 4 phủ là Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân; có 15 huyện là Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Thượng Phước, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An, Nam Xang, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng, Thanh Liêm.
VÒNG TRÒN ÂM DƯƠNG THĂNG LONG
– VÒNG TRÒN
Biên núi phía Tây (lục địa Ấn Độ, mảng Đông Dương Indonesia) hình thành từ dãy núi chạy dài từ Tây Tạng, xuống dãy Hoàng Liên Sơn xuống Ba Vì, qua dãy núi Hương Sơn, xuống Tam Điệp ra biển
– Ba Vì
– Hương Sơn
– Tam Điệp
Biên núi phía Đông (lục địa Á Âu, mảng nam Trung Hoa) là dãy Ngân Sơn, núi Voi, xuống Tam Đảo rồi chạy theo các sông của Lục Đầu Giang ra biển
– Tam Đảo
– Phật Tích
– Nham Biền – Thiên Thai
– Đông Triều, Yên Tử
Các quần đảo & đảo
– Bạch Long Vĩ
– Cát Bà – Cát Hải
– Hòn Dấu Đồ Sơn
– LƯỠNG NGHI
Xứ núi (Sơn : nửa đen)
– Xứ Đoài
– Xứ Kinh Bắc
Xứ biển (Thuỷ : nửa trắng)
– Xứ Đông
– Xứ Sơn Nam
– TỨ TƯỢNG
Xứ núi (Sơn)
– Xứ Đoài (Sơn : nền đen)
– Xứ Kinh Bắc (Thuỷ : chấm trắng trong đen)
Xứ biển (Thuỷ)
– Xứ Đông (Thuỷ : nền trắng)
– Xứ Sơn Nam (Sơn : chấm đen trong trắng)
– BÁT QUÁI
Xứ gốc núi (Sơn)
– Xứ Đoài (Sơn) : Thân Rốn Nhau
– – – Sơn Tây : Rốn
– – – Tam Đảo trong Vĩnh Phúc : Thân trong Ối thân
– – – Hà Tây : Nhau
– Xứ Kinh Bắc (Thuỷ) – Ối
– – – Bắc Ninh (Thuỷ) – Ối rốn
– – – Bắc Giang (Sơn) – Ối bào
Xứ gốc biển (Thuỷ)
– Xứ Đông (Thuỷ) : Ối
– – – Hải Phòng (Thuỷ) – Ối bào
– – – Hải Dương (Sơn) – Ối thân
– Xứ Sơn Nam (Sơn) : Thân Rốn Nhau
– – Hưng Yên (Sơn Nam Thượng) : Thân
– – Thái Bình (Sơn Nam Hạ) : Rốn & Ối rốn
– – Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (Sơn Nam Trung) : Nhau
Nga ba Bạch Hạc (ngã ba sông Hồng, sông Lô và sông Đà) mở rộng về phía Nam đến cửa sông Đáy, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ nơi có có cụm đền thờ Hai Bà Trưng (đền Hạ Lôi thờ toàn bộ nhân sự của khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đền Hát Môn thờ Trưng Trắc, miếu Mèn, mả Dạ thờ bà Man Thiện mẹ của Hai Bà Trưng) chính là tâm (rốn giữa) của bào thai Sơn
Cửa Tuần Vường là tâm của bộ bào thai thuỷ (rốn giữa)
– Theo mạch sông Hồng : Cửa Tuần Vường nằm giữa 3 tỉnh phía hữu ngạn sông Hồng (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) & 2 tỉnh phía tả ngạn sông Hồng (Hưng Yên & Thái Bình)
– Theo mạch sông Luộc : Cửa Tuần Vường nằm giữa Sơn Nam Thượng (Hưng Yên) & Sơn Nam Hạ (Thái Bình)
Cho nên có câu
Nhất cao là núi Tản Viên,
Nhất sâu là vũng Thuỷ Tiên cửa Vường.
NHỮNG VỊ THẦN MỞ ĐẤT LẤN BIẾN
Một số vị nhân thần tham gia vào mở đất lấn biến của Thăng Long Tứ Xứ
– Phạm Cự Lạng thời Đinh và Tiền Lê
– Phạm Ngũ Lão thời Trần
– Tứ Tổ Hải Hậu ((Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập) thời Lê Thánh Tông
– Nguyễn Công Trứ thời Nguyễn
– Nhà Mạc có công đắp đê, khai khẩn vùng đất ven biển Hải Phòng
– PHẠM CỰ LẠNG
Phạm Cự Lạng sinh ngày 20 tháng 11 năm Giáp Thìn (tức 8 tháng 12 năm 944), người làng Trà Hương, Khúc Giang (nay thuộc xã Nam Trung, huyện Nam Sách, Hải Dương), trong một gia đình có truyền thống võ nghệ.
Trong “Giao Châu thất hùng”, tức 7 anh hùng người Giao Châu gồm Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng, thì Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn bị giết chết trong sự kiện mưu phản mà được cho là do Lê Hoàn, Đinh Điền Nguyễn Bặc, Phạm Hạp sau đó cũng bị Lê Hoàn giết vì trung thành với nhà Đinh không theo Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng là người duy nhất còn sống vì đi theo Lê Hoàn.
Tháng 7 năm 980 Phạm Cự Lạng được Dương Vân Nga cử làm Đại tướng tiên phong đem quân đi chống giặc Tống, xâm lược Đại Việt sau khi Đinh Tiên Hoàng bị giết (979). Phạm Cự Lạng trước khi đi muốn tôn Lê Hoàn lên ngôi vua. Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, phong làm Phạm Cự Lạng làm Thái úy. Quân Tống bị phá năm 981.
Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lạng được cử cầm quân đánh Chiêm Thành để trả đũa việc vua Chiêm vô cớ bắt sứ giả Đại Cồ Việt.
Mùa thu năm Quý Mùi (983), Phạm Cự Lạng được vua Lê Đại Hành tin trao trọng trách đi khai sông mới (sông nhà Lê) từ Đồng Cổ (tức từ Đan Nê, Yên Định) đến Bà Hòa (Đồng Hòa, Tĩnh Gia Thanh Hoá ngày nay). Trên đắp thành đường lớn, dưới khai thành sông lớn để lưu thông thủy bộ. Cũng trong năm này, Phạm Cự Lạng còn chỉ huy đào cảng Đa Cái ở Hoan Châu (tức Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An ngày nay).
Ngày 12 tháng 9 năm Giáp Thân (tức 9 tháng 10 năm 984), Phạm Cự Lạng mắc bệnh sốt rét, mất tại Đồng Cổ, nơi ông đang làm việc, hưởng dương 41 tuổi. Nhà vua thương tiếc sai người đem tướng cữu hồi kinh, an táng tại phía nam Bồ Sơn. Mộ của ông được ghi nhận tại nghĩa trang làng Đa, xã Khánh Ninh, thị trấn Yên Ninh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Phạm Cự Lạng được thờ tại các địa điểm ông đi làm trị thuỷ hoặc đánh giặc theo đường thuỷ
– Nhà thờ Thái uý (cùng với mộ) ở thị trấn Yên Ninh, Yên Khánh, Ninh Bình
– Đền Đồng Cổ (Thanh Hoá)
– Đa Cái (Nghệ An)
– Đền Ngự sử (nay là đền Lương Sử thuộc khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội)
– Đình Đoài thuộc xóm Ngói, xã Hà Châu, huyện Phú Bình, đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, xã Nam Tiến, đình Thượng Giã, xã Thuận Thành, nghè thôn Nam Đô, làng Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
– TỨ TỔ HẢI HẬU
Khoảng năm 1463 thời Vua Lê Thánh Tông, Tổ Trần Vu dâng biểu xin vua Lê cho làm Dinh Điền Sứ. Khi được chấp thuận, Tổ đã xuống trước mượn đất ở Xối Nước xã Hương Cát (nay là thôn Hương Cát, xã Trực Thành Huyện Trực Ninh ) làm nơi trú ngụ; lực con nước đưa dân phu đi thuyền sang sông: lấy việc vỡ ruộng đất làm căn bản; nấu muối, đánh cá là nghề thiết thực để các họ xuống sau…Bởi việc vỡ ruộng lập ấp là lâu dài và phải thu dụng nhiều người. Cái lẽ tự nhiên là như vậy. Lượng thế mình Tứ Tổ tính toán làm gì trước, làm gì sau, có người khai khẩn ít, có người khai khẩn nhiều, mưu đồ lập ấp đã hình thành.
Từ Cầu Đông về phía Tây là do Tứ Tổ (Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập) khai hoang mở mang trước. Lấy xóm Phú Cường là mảnh đất đầu tiên khai thác thành công, nên được mang trọn hai chữ Phú Cường để từ đây đất Phú, đất Cường được mở rộng thành xóm, thôn, làng, xã. Khu phía Tây: Xứ Cồn Khuôn, Vĩ Châu do Tổ Họ Lê khai khẩn (lập nên thôn Tây Cường). Tiếp sau đó (1511) từ Cầu Đông mở rộng sang phía Đông do Tổ họ Nguyễn tranh đấu với dân Quần Mông và khai khẩn thêm.
Công trình ban đầu do các cụ tổ khai khẩn đất đai xây dựng còn nhỏ bé, chỉ là Am nhỏ cho dân cầu nguyện hướng vào việc thiện, sau đó trải qua quá trình xây dựng và tu bổ. Năm 1612, xây lại chùa Hương Cát, hiệu (Phổ Quang Tự) tại thôn Hương Cát thị trấn Cát Thành. Chùa được xây mới, có sự mở mang quy mô tại chùa cũ đã xây từ thời nhà Trần. Chùa này có hiệu (Phổ Quang Tự) có nghĩa là: Ánh sáng của Trời Phật chiếu rộng khắp mọi nơi. Niên hiệu Hoằng Định thứ 12(1612) các ông có tâm đức cùng nhân dân động thổ, vun nên làm ba gian thượng điện, sau đó làm 11 pho tượng. Như vậy, Hương Cát là đất gốc mở ra sự kiện lấn biển của xứ Sơn Nam.
– NHÀ MẠC
Nhà Mạc có vai trò chính trong việc lấn biển Hải Phòng.
Đầm bãi nhà Mạc ở chỗ giáp ranh huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng và thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh do Ninh Vương Mạc Phúc Tư (con trai thứ hai của Mạc Đăng Doanh) khoanh vùng trồng cây ngập mặn, vừa bảo vệ đất đai, vừa làm nơi dấu quân. Hiện nay đầm bãi nhà Mạc vẫn là vùng đầm khai thác thủy sản, không có người dân sinh sống.
Đê cổ Chân Kim : Sử chép “tháng 8 năm Bính Tuất (1526) truyền lệnh cho các phủ Thượng Hồng, Hạ Hồng, Kinh Môn, Nam Sách, Thái Bình đắp đê Chân Kim ở Hải Dương”. Đê này bắt nguồn từ chùa Đại Minh thôn Phú Xá, xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy qua các xã Tân Phong, Minh Tân, Tú Sơn đến chợ Quý Kim, phường Hợp Đức, quận Dương Kinh ngày nay. Địa danh Chân Kim đến đời Thành Thái nhà Nguyễn kiêng tên húy vua Dục Đức là Ưng Chân mới đổi là Quý Kim. Đê cổ này vừa dài, lớn, mặt đê khá rộng, có chỗ bộ đội đặt được tên lửa pháo và trạm ra đa. Năm 2010, ở đoạn đê cổ thuộc thôn Nãi Sơn, xã Tú Sơn đã phát hiện một cột mốc đá cổ. Đê cổ Chân Kim được sách Đại Nam nhất thống chí triều Tự Đức xếp vào danh mục cổ tích tỉnh Hải Dương. Dân trong vùng này gọi đê nhà Mạc vì nó án ngữ, che chắn cho ấp thang mộc Cổ Trai.
Đường Thiên Lôi : Tương truyền do Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi tổ chức đắp dọc sông Lạch Tray từ làng An Dương đến làng Vĩnh Niệm nay thuộc quận Lê Chân, rồi tiếp từ làng Rào (An Khê), làng Hầu (Hào Khê) nay thuộc quận Ngô Quyền đến Phương Lưu, Lương Xâm, Xâm Bồ, Đồng Xá… nay thuộc quận Hải An có những khúc đê ngăn mặn, dân đều gọi là đê nhà Mạc.
Dải yếm bà chúa: Tên thường gọi dải ruộng từ làng Tiên Cầm, xã An Thái, huyện An Lão đến tận làng Kỳ Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy (thượng Tự Tiên Cầm hạ chí Ký Sơn). Đây là ruộng bà Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn khai khẩn bãi bồi sông Mai Giang cấp cho dân sở tại cày cấy. Khi đắp đê ngăn mặn đã tạo nên hai đầm nước ngọt lớn; đầm cửa Phủ và đầm lá tạo cho mấy xã này có nước cấy vụ chiêm. Phương dao huyện Nghi Dương có câu:
“Chiêm Nại Sơn, Đoạn Xá, mùa Đầm Lá Kỳ Sơn “
Làng Nại (Nãi Sơn) nay thuộc xã Tú Sơn, Đoạn Xá nay thuộc xã Đoàn Xá có diện tích vụ lúa mùa rất rộng, rất tốt.
Kênh nhà Mạc: Từ sông Văn Úc qua khu căn cứ núi Voi huyện An Lão thông với sông Đa Độ đổ ra cửa sông Cổ Trai – Đa Ngư vừa lấy nước tưới vừa làm đường giao thông thủy, đến chỗ đập Tắc Giang, thị trấn Đối, nhà Mạc lại đào thẳng bãi bồi làng Thù Du xã Minh Tân, để thông dòng nước, thành ra làng Thù Du hiện có khu ruộng lớn sát làng Cẩm La, làng Cổ Trai. Đập Tắc Giang mới đắp đầu thế kỷ XX. Thơ ca địa phương có câu “… Gập ghềnh đỉnh thấp đỉnh cao, Bàn cờ hang đá, Kênh triều Mạc xưa…”
Bát Trang: gồm 8 trang trại do nhà Mạc khai khẩn ở bãi bồi sông Lạch Tray thuộc địa phận An Lão. “Trang” cũng giống như “sở đồn điền” đời Lê, nhà Mạc giao binh lính bảo vệ căn cứ núi Voi trồng lúa, rau mầu cung cấp cho quan quân đóng vùng phụ cận. Bát Trang nay hợp thành một xã lớn, giàu có của huyện An Lão.
Kênh Cái Giếc: ở vùng thượng huyện Vĩnh Bảo đào từ thời Mạc để tưới tiêu và vận tải. Nay vẫn còn.
– NGUYỄN CÔNG TRỨ
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) quê ở làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Gia Long, Tự Đức, Minh Mạng
Ông đã chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn (là tỉnh cực Đông Nam giáp biển của tỉnh Ninh Bình ngày nay, nằm bờ Tây của cửa sông Đáy), Tiền Hải (là tỉnh cực Đông Nam giáp biển cửa sông Hồng thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay). Hiện nay còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương ông. Nhiều đình chùa tại các địa phương này cũng thờ ông và tôn ông làm thành hoàng làng.


