TIỀN NHÂN LẬP CHỢ

Loading

CHỢ MỚI ÔNG GIÀ CỦA CHỬ ĐỒNG TỬ
Theo Hoài tích xưa chợ Mới ông già
Tương truyền, việc buôn bán, trao đổi hàng hóa gắn liền sự tích cha của Chử Đồng Tử là Chử Cù Vân bán cá tại chợ Mới ông già (nay thuộc thôn Vân La, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, TP Hà Nội)…
Ông Nguyễn Văn Đễ, 78 tuổi, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Vân La đọc câu ca dao cổ “Mùng một chợ Mới ông già, mùng hai chợ Mễ, mùng ba chợ Bằng”. Ý ông muốn nói rằng, trong ba chợ lớn nhất thời xưa vùng này, thì chợ Mới ông già vẫn là chợ sầm uất nhất, đến nỗi ngay ngày mồng một đầu tháng đã phải đi ngay chợ Mới ông già để có thể sắm sửa đầy đủ đồ đạc, thức ăn.
Chúng tôi được ông Đễ dẫn tới thăm đình làng Vân La, lại được kể về sự tích hai cha con Chử Cù Vân sống ở đời Hùng Vương thứ 18. Quê gốc của hai cha con ở làng Chử Xá, xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, Hà Nội, chẳng may nhà bị cháy, toàn bộ gia sản bị ngọn lửa thiêu rụi, chỉ còn lại một chiếc khố, hai cha con thay nhau mặc. Chử Cù Vân bèn mang con đi tha hương, mò cua bắt cá bên bờ hữu ngạn sông Cái (sông Hồng ngày nay), đoạn chảy qua bãi đất tổng Xâm Hồ và bãi Tự Nhiên (nay là xã Hồng Vân). Bắt được nhiều tôm, cá ăn không hết, Chử Cù Vân mới mang lên bờ chỗ một gò đất cao và bán cho dân làng.
Ông Đễ đố tôi luận, nhưng sau vài lần “đoán mò” ông mới giải thích cho tôi thấu. Khi Chử Cù Vân ngồi nhiều ngày rồi quen chỗ nên thành chợ, dân làng gọi là “mới” vì trước đây họ chưa biết chợ là gì, còn ông già có thể hiểu theo hai nghĩa đó là “có một ông già ngồi bán cá” hoặc “Chử Cù Vân ngồi bán cá và có các ông già ra ngồi cùng”, đó là những gì tôi được các cụ trong làng kể lại từ hồi còn bé tí, ông Đễ khề khà vuốt bộ râu dài mướt.
Thăng trầm phiên chợ
Tôi và ông Đễ thong dong chiếc xe đạp quanh chợ Mới ông già, tuy vậy, bây giờ là chợ “mới” theo đúng nghĩa đen vì chợ Mới ông già chỗ Chử Cù Vân bán cá năm xưa ở ngoài đê. Vào thời nhà Lý, do lũ lụt nhiều nên phải đắp đê Cơ Xá, chợ Mới ông già phải di dời vào phía trong đê.
Ông Đễ hồi tưởng lại những ngày thơ bé cùng bạn bè ra chăn trâu, đá bóng, biết nơi đây là gắn liền với huyền tích chợ Mới ông già nên hết sức tự hào. Thậm chí, hồi ông còn nhỏ nơi gò đất này vẫn có người buôn bán. “Bánh đúc ông Đọt/Bánh ngọt cụ Đa/Bánh khoai ông Xán/Bánh rán cô Nga… những câu vè không bao giờ quên với lớp người như ông Đễ ở làng Vân La. Tuy vậy, nay gò đất cũng đã không còn.
Tương truyền, chợ Mới ông già xưa kia giao thương khá mạnh, nơi đây là trung tâm buôn bán phía đông nam của kinh thành Thăng Long. Chợ họp quanh năm các mặt hàng phổ biến, chỉ có gia súc, con giống họp theo phiên chợ, một tháng sáu phiên vào các ngày mồng 3, mồng 8. Nằm ven sông Hồng nên hàng hóa đi theo đường thủy từ các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định… được chuyển lên rất nhiều mà lại chỉ mất nửa ngày gánh bộ là lên tới kinh thành Thăng Long.
Đánh thức di tích ngàn năm
Đối với nhiều người kinh doanh, buôn bán, họ coi chợ Mới ông già như là chợ tổ – nơi bắt nguồn mọi hoạt động trao đổi hàng hóa, thương mại ở Việt Nam và Chử Cù Vân được coi là ông tổ nghề.
Tuy nay chợ Mới ông già cũ đã không còn gò đất, chợ Mới ông già mới không còn sầm uất như trước nhưng vẫn mang dấu tích của hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử. Bởi thế, chợ Mới ông già xứng đáng trở thành một địa chỉ văn hóa giàu chất nhân văn, sâu sắc tình phụ tử cần được phục dựng và bảo tồn.
Theo thông tin từ ông Nguyễn Xuân Tuấn – Trưởng thôn Vân La, thì chợ Mới ông già cổ tuy hiện chỉ là bãi đất trống nhưng đã được chính quyền xã Hồng Vân quy hoạch để xây dựng đền thờ Chử Cù Vân và ghi nhớ dấu tích ngôi chợ đầu tiên của nước ta. “Bãi đất rộng khoảng 1.000 m², được xã quy hoạch xây dựng đền thờ từ nhiều năm trước nhưng chưa có nguồn kinh phí, huy động quyên góp từ người dân chưa được là bao”, ông Tuấn trầm ngâm chia sẻ.
Ông Đễ còn cho biết thêm, quanh khu vực này có đền thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa và Hồng Vân công chúa (Nhị vị phu nhân) khá nhiều: như đền Dạ Trạch (đền Hóa) bên kia sông Hồng thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên nơi Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân hóa về trời; đền thờ ở làng Chử Xá, Gia Lâm – quê nhà của hai cha con; đình Hạ – Thượng xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung công chúa. Ngay như đình Vân La cũng thờ Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân nhưng chưa có nơi nào thờ riêng Chử Cù Vân và ghi dấu tích chợ Mới ông già. Vậy nên, dân làng thôn Vân La rất mong muốn sớm quyên góp đủ kinh phí từ các nhà hảo tâm, nguồn xã hội hóa để xây dựng đền, để lưu giữ, nhắc nhở cho con cháu muôn đời sau.
Chia tay những “tài liệu sống” tại làng Vân La, tôi đi trên con đê lộng gió và cứ nghĩ mãi về bãi đất trống và tình phụ tử sâu đậm của Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử. Chỉ mong rằng nơi đây sẽ sớm có một ngôi đền khang trang thờ Chử Cù Vân và ghi chép đủ lại những câu chuyện cổ về chợ Mới ông già từ thuở ban sơ của dân tộc.
Chử Đồng Tử một trong Tứ Bất Tử của người Việt là Tổ nghề thương mai, nghề lập chợ. Hiện nay vẫn còn một chợ được cho là có từ thời Hùng Vương do ông lập tên là Chợ Mới ông Già. Chợ này được công nhận là chợ cổ nhất của Việt Nam.
—o—o—o—
CHỢ CHÁY
Theo Huyền thoại Chợ Cháy
Sử liệu chép rằng, mùa xuân năm Tân Mão 1171, vua Lý Anh Tông muốn tìm hiểu hình thế núi sông và đời sống của nhân dân nên tiến hành tuần du miền duyên hải. Khi ngang qua đất Cẩm Chế, thấy nơi đây non nước hữu tình, ruộng đồng tươi tốt, dân đông vật thịnh, cuộc sống thanh bình, đức vua liền dừng chân để thưởng ngoạn cảnh sắc phong vật. Trong lúc ông đang mơ màng ngắm cảnh, bỗng nghe một giọng ca trong trẻo vút lên từ ruộng dâu:
Vua cha lắm bạc nhiều vàng
Uy quyền cao thượng xin đừng chớ quên
Mong Người tích đức tu nhân
Muôn sau sự nghiệp mãi thành sử ghi.
Tiếng hát như vô tình khiến nhà vua vừa động lòng vừa xúc động, bèn cho lính hầu đi tìm người hát ấy. Trước mặt vua, một người con gái vừa độ thanh xuân, nước da trắng hồng như mây chiều, khuôn mặt ngây thơ nhưng thông minh đức độ. Ngay từ phút đầu, nhà vua đã đem lòng yêu mến mời nàng về cung làm thứ phi. Người con gái đó là Hoàng Thị Hồng. Dân gian yêu mến còn gọi là Hoàng Thị.
Hoàng Thị Hồng người làng Cẩm Chế, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tương truyền, cha mẹ bà sinh được 3 chị em gái, cả 3 đều xinh đẹp, giỏi giang, từ chăn trâu, cắt cỏ, cấy hái, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa việc gì cũng khéo léo. Riêng Hoàng Thị Hồng, trong lòng bàn tay bà có vân tay hình chữ vương.
Thần phả chép rằng bà thông minh tinh nghịch, thường khéo bày trò vui, trong các trò chơi luôn thắng cuộc, mỗi lần thắng bọn trẻ lại kiệu bà về tận nhà.
Sống nơi kinh thành, được vua yêu chiều, kẻ hầu người hạ nhưng nỗi nhớ về cha mẹ và hai em, về cuộc sống tự do nơi miền quê yên ả khiến bà buồn phiền đến sinh bệnh. Bà xin phép được về thăm quê.
Về quê, thấy vùng quê mình chưa có chợ, dân phải đi rất xa mới mua bán trao đổi được hàng hóa nên cuộc sống nghèo khó, vất vả, bà đem toàn bộ số tiền bạc vua ban cho dân lập chợ. Bà lại cho bắc cầu, đắp đường, khơi thông con sông từ Đồng Bẽ sang Minh Đình, Ao Vang để việc chuyên chở hàng hóa lên chợ được thuận lợi.
Hết hạn cho phép, thứ phi vội vã rời quê về kinh. Trên đường về, phát hiện ra mình có thai, lọ sợ vua sẽ hiểu nhầm mình thất tiết trong thời gian về quê, và chuyện đó nếu không thanh minh được sẽ liên lụy đến rất nhiều người nên bà đã nhảy xuống sông tự vẫn. Khi đó bà mới tròn 20 tuổi.
Vua Lý Anh Tông được tin báo vô cùng tức giận, vừa giận bà hồ đồ non dạ, vừa thương tiếc người cung phi thông minh, xinh đẹp, hiền lành, đức độ. Trong lúc nóng giận, ông lệnh cho đốt trụi chợ Cẩm Chế để xóa đi hình ảnh của bà. Chợ Cẩm Chế cháy rụi trước sự bàng hoàng của dân cư trong vùng.
Một đêm, vua Lý Anh Tông mộng thấy bà về khóc lóc trách vua về việc đốt chợ, vua hối hận bèn ban lệnh cho xây lại chợ Cẩm Chế, đồng thời cho dựng đền thờ bà hướng ra chợ và phong tặng bà làm Hoàng thái hậu. Từ đó, trải các đời, bà đều được sắc phong là Lý triều Hoàng thái hậu.
Chợ Cẩm Chế sau đó được dân trong vùng gọi là chợ Cháy. Nhờ thuyền bè bộ hành qua lại thuận tiện, hàng hóa được thông thương nên chợ Cháy trở thành ngôi chợ nổi tiếng đông vui. Nghề buôn bán dần được mở rộng sang cả Cam Lộ khiến khắp vùng trở nên giàu có sầm uất.
Bà Hoàng Thị Hồng sau đó được dân làng thờ làm Thành hoàng. Đền thờ bà được dân trong vùng tu sửa mở rộng dần, đến nay đã thành một quần thể kiến trúc uy nghi. Hiện thần vị trong đền ghi rõ là Lý Thái hậu thần vị. Hàng năm, lễ hội Đền chợ Cháy xã Cẩm Chế được tổ chức trong 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng 2 âm lịch. Lễ hội Đền Chợ Cháy là sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương, thu hút đông đảo con em quê hương và du khách thập phương về dự.
Cho đến nay chợ Cháy vẫn họp đông vui như suốt hàng trăm năm qua. Chợ họp liên tục vào các ngày trong tháng nhưng cứ 5 ngày lại có một ngày phiên. Vào ngày phiên, chợ Cháy như một ngày hội của nhân dân trong vùng.
—o—o—o—
Theo bài báo : Giỗ chủ chợ: dấu ấn nhân nghĩa của người Lục tỉnh
Nam kỳ là đất mới, thị thành do dân chúng quần tụ bán buôn theo điều kiện tự nhiên rồi trở thành trung tâm hành chính. Thị trước thành sau, có chợ rồi mới thành phủ, huyện, dinh, trấn.
Chợ thường do người hào sảng lập ra gọi là chủ chợ. Không chỉ tạo địa thế cho chuyện bán buôn, chủ chợ còn bảo vệ quyền lợi, bảo đảm cho dân chúng an cư lạc nghiệp. Tên tuổi chủ chợ đã thành tên đất như Bà Điểm, Bà Chiểu, Ông Lãnh… Tưởng nhớ công ơn, nhiều nơi người dân lập đình, miểu thờ chủ chợ, kính cẩn cúng giổ hàng năm như
CHỢ CAO LÃNH (CHỢ ÔNG LÃNH)
Dưới triều vua Gia Long, ông Đỗ Công Tường tục danh là Lãnh theo gia đình từ miền Trung vào Nam khẩn hoang. Thời đó vùng đất này thuộc thuộc thôn Mỹ Trà, tổng Kiến Phong, huyện Kiến Đăng, trấn Định Tường. Ông phá hoang trồng quít cạnh bờ sông Cao Lãnh và kinh Thầy Khâm. Hai vợ chồng không có con cái, tính khí của ông ngay thẳng, rộng lượng nên được giao chức Câu Đương chuyên hòa giải tranh chấp bất đồng ở địa phương. Vườn quít tươi tốt, nằm ở ngã ba sông, đi lại thuận tiện nên người dân hội họp mua bán. Ông, bà dọn cây che mái lá, dần hình thành cái chợ, dân gọi tên là chợ Vườn Quít, hoặc chợ Ông Câu.
Năm Canh thìn (1820) bệnh dịch tả bùng phát lan tràn làm cho nhân dân trong vùng này chết rất nhiều, dân chúng hoảng loạn, đám tang nối tiếp. Chợ Vườn Quít thưa thớt. Xóm làng phủ trùm màu thê lương tang tóc. Động lòng trắc ẩn và sẵn tình bác ái bao la, ông, bà đặt bàn hương án giữa trời trước sân chợ rồi đồng tâm khẩn nguyện, xin chết thay cho nhân dân và cầu cho dịch trên mau chấm dứt. Ông bà nhịn ăn ba ngày, từ ngày 6 tháng 6 cho đến ngày mùng 9 bà lâm bệnh, tắt hơi lúc 10 giờ đêm. Đang tẩn liệm cho bà, ông lại bệnh, đến ngày sau cũng qua đời. Chôn cất ông, bà xong bệnh dịch từ từ chấm dứt.
Để tưởng nhớ đến sự hy sinh cao quý của ông bà, hương chức, dân chúng đồng lập miếu phụng thờ. Lấy ngày mùng 9 và 10 tháng 6 làm ngày vía của ông bà dâng lễ thường niên. Ngôi chợ Vườn Quít được dân chúng ghép tục danh ọng là Lãnh với chức Câu Đương thành chợ Câu Lãnh.
Với tấm lòng ngưỡng mộ và lòng tôn kinh, ông Huỳnh Kim Sanh, Đại Hương cả làng Mỹ Trà thỉnh cầu triều đình Huế phong thần. Đến năm 1936, Vua Bảo Đại ban sắc phong ông như sau:
Bảo Đại năm thứ mười, tháng tư ngày mười chín
Sắc rằng: vị thần Câu Lãnh Đỗ Công Tường ở xã Mỹ Trà, tỉnh Sa Đéc có mở chợ lập ấp, từ trước đã tỏ ra linh ứng, nay có sắc mệnh nhà Vua nhớ đến công đức của thần, sắc phong cho vệ hiệu là: “Dực Bào Trung Hưng Lĩnh Phò Chi Thần’ để dân phụng thờ ngõ hầu thần giúp đỡ, bảo hộ cho. Kính cẩn vậy thay!
Miếu nhiều lần được trùng tu nay rất khang trang, tráng lệ và giỗ ông bà trở thành lễ hội không chỉ của địa phương mà quy tụ hàng ngàn người dân Miền Tây về cúng tế. Ngoài phần lễ với những nghi thức trang trọng theo nghi thức cúng thần đình như rước sắc, dâng hương dâng rượu, đọc văn tế còn có phần hội vui chơi văn nghệ. Ban Quý tế của Miễu tổ chức cơm chay cho khách hành hương, nhiều hộ dân quanh chợ cũng theo tấm gương hào sảng của ông bà tổ chức những quầy cơm chay miễn phí cho khách thập phương. Thôn Mỹ Trà ngày xưa giờ đã thành thành thành phố Cao Lãnh, nói trại ra từ tên và chức ông Cầu Đương Lãnh.
CHỢ BA TRI (ÔNG GIÀ BA TRI)
Xứ Nam Kỳ nổi tiếng thành ngữ “ông già Ba Tri” hàm chỉ người cương nghị, cứng cỏi đấu tranh cho lẻ phải bắt đầu từ câu chuyện thật của ông chủ chợ bảo vệ quyền lợi tiểu thương. Tên thật của ông là Thái Hữu Kiểm, cháu nội ông Thái Hữu Xưa từ Quảng Ngãi vào Bến Tre khai phá và là một trong ba người làng An Bình Đông (Bến Tre). Ông Thái Hữu Kiểm làm Hương Cả nên gọi là Hương Cả Kiểm. Cùng thời có ông Trần Văn Hạc làm chức Thôn trưởng, nên dân gian gọi là Xã Hạc đã lập cái chợ ở đầu ngọn sông cái.
Khoảng năm Gia Long thứ 5 (1806), Thái Hữu Kiểm thấy dân làng An Bình Đông thường ngồi nghỉ chân và xúm xít bán hàng dưới gốc cây da lớn nên lập một ngôi chợ. Sách Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (1909) của Nguyễn Liên Phong dã ghi nhận:
“An Bình Đông xã một nơi
Có cây da lớn nghỉ ngơi bộ hành
Bán buôn hàng vặt rập rình
Kẻ ngồi người đứng thích tình không đi
Ông Cả Kiểm thấy chuyện kỳ
Tới nơi cây ấy lập vi thị truyền”.
Không chỉ tạo lập nơi mua bán, Cả Kiểm còn cho đắp hai con đường từ Ba Tri đi Vĩnh Đức Trung và từ Ba Tri sang Phú Lễ. Chợ thành nơi tụ điểm giao thông thủy bộ theo đúng thế “trên bến dưới thuyền”. Dân các làng đến chợ càng đông, ghe thương hồ từ sông cái ra vào tấp nập, chợ trở nên phồn thịnh. Chợ Ngoài do Xã Hạc lập trở nên thưa thớt. Xã Hạc đốn cây đắp đập ngăn rạch, để ghe thuyền không vào chợ Ba Tri được. Cả Kiểm dắt dân lên huyện, lên phủ kiện. Nhưng đến đâu các quan cũng xử “Người ta đắp đập trong địa phận làng người ta mà kiện cáo cái gì”. Cả Kiểm không chịu thua đi bộ từ Bến Tre ra Huế kiện với vua. Nguyễn Liên Phong viết:
“Kiện cho thấy mặt cửu trùng.
Trong trào ngoài quận người đồng ngợi danh”
Vua Minh Mạng nghe tâu đã tuyên xử “làng thì riêng, rạch thì chung, quan cai trị phải xuống coi phá đập”
Từ đó, làng quê An Bình Đông phát triển thành huyện lỵ Ba Tri.
CHỢ THỦ THỪA (ÔNG THỦ THỪA)
Thủ Thừa là tên một huyện của tỉnh Long An, trong đó có thị trấn Thủ Thừa, chợ Thủ Thừa, lại có ấp Thủ Khoa Thừa, đường Thủ Khoa Thừa. Hàng trăm năm qua, ngày 10.10 âm lịch người dân địa phương cung kính quần tụ cúng giỗ chủ chợ Thủ Thừa là ông Mai Tự Thừa ở đình Vĩnh Phong, nằm gần chợ dọc theo bờ bờ kinh Thủ Thừa (xưa là rạch Trà Cú) nối hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Khi đường bộ chưa phát triển, đây là thủy lộ quan trọng từ cửa ngõ sông Chợ Đệm nối liền Sài Gòn với các tỉnh miền Tây.
Năm Minh Mạng thứ 10 (1829), Tổng trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt huy động 16.000 nhân công nạo vét rạch Trà Cú. Nhờ thế, ghe thuyền đi lại rất thuận tiện. Vua Minh Mạng cho đổi tên rạch Trà Cú thành sông Lợi Tế. Đầu thế kỷ 20, kinh tế hàng hóa phát triển chính quyền Pháp lại tiếp tục nạo vét kênh cho ghe thuyền lớn qua lại. Chợ Thủ Thừa nằm ngay giáp nước của hai sông Vàm Cỏ thuận lợi cho ghe tàu qua lại neo đậu chờ con nước thuận nên càng thêm sầm uất.
Bẵng đi hơn 10 năm trước, chính quyền địa phương xóa chợ cũ, xây chợ mới ở cách đó hơn 2km, nằm cạnh trục lộ nhưng giữa đồng trống không có đường thủy, chợ vắng như chùa bà đanh và bị chết non.
Chợ cũ mất, chợ mới chết, nhưng ngày giỗ chủ chợ mồng 10.10 hàng năm vẫn cứ đông người cúng viếng. Chính quyền buộc lòng phải mở lại khu chợ khác nằm cạnh chợ cũ trên nền trường Vĩnh Phong bên cạnh đình, nơi thờ chủ chợ Mai Tự Thừa và như một phép màu chợ lại đông đúc như xưa.
Mai Tự Thừa là ai mà linh thiêng vậy? Mai Tự Thừa, Thủ Thừa và Thủ Khoa Thừa có liên quan gì với nhau?
Theo Ban Quý tế đình Vĩnh Phong kể từ truyền ngôn đời trước, ngày xưa Mai Tự Thừa từ tổng Bình Cách, Định Tường đến đây khẩn hoang khởi dầu có bốn mẫu đất dọc bờ rạch Trà Cú (nay là kinh Thủ Thừa). Khi đã có tài lực ông cho nạo vét rạch, đắp ụ làm bến giao thông thuận lợi, vì vậy có nhiều tàu ghe neo đậu dân chúng quy tụ đông, làm ăn sung túc. Ông lập chợ bên bờ rạch, mở thêm đường bộ và xin tách làng Bình Lương ra thêm làng mới tên làng Bình Thạnh, lập đình ở vị trí đình Vĩnh Phong bây giờ. Sau đó, ông mất tích, gia đình vợ con cũng mất tăm. Người dân nhớ ơn nên thờ ông là tiền hiền của đình làng.
Năm 1990, nhân có một phái đoàn của Bộ Văn hoá Thông tin đến thăm, Ban Hội Hương của đình Vĩnh Phong mở hộp sắc thần, phát hiện dưới đáy hộp một tờ phúc bẩm của Hương chức làng Vĩnh Phong trả lời nguồn gốc công thổ chợ Thủ Thừa như sau:
Tan an le 25 Novembre 1915
Cantonde An Ninh Thuong (Tổng An Ninh Thượng)
Village de Vĩnh Phong (Làng Vĩnh Phong)
Bẩm:
Thầy đặng rõ, nay thầy đòi làng chúng tôi mà hỏi vụ công thổ chợ Thủ Thừa, tại làng Vĩnh Phong. Hương chức chúng tôi khai ra dưới đây cho thầy rõ.
Bẩm việc công thổ ấy cũng trăm năm rồi chúng tôi còn nhỏ không biết việc ấy đến sau nghe người tuổi tác nói lại thuở trước nguỵ Khôi làm phản, lấy thành Gia Định đặng rồi khi đó ông Thủ Thừa lên tùng nguỵ Khôi sau ở trong thành. Sau trào binh tấn chí lấy lại đặng rồi ông chết trong thành mất thây. Rồi đó chỉ Vua bắt tội ông tùng nghịch, vợ và con gái bị án khổ sai. Ở đặng mấy tháng gặp ân xá tha vợ con về còn gia sản nhập kho. Cái chợ biến mãi cho Nhiêu Hoà làm chủ đặng ít năm rồi Nhiêu Hoà phạm cấm nha phiến quan trên tịch biên gia sản nhập kho còn điền thổ toạ lạc làng nào giao cho làng ấy đem vào bộ đặng làm công điền thổ cho làng vĩnh viễn. Còn công thổ và cái chợ giao lại cho làng chúng tôi từ ấy nhẩn nay mà giữ gìn làm huê lợi đặng bồi bổ trong làng. Nay bẩm.
Đây là văn bản hành chính đầu tiên nhắc đến chữ Thủ Thừa và xác định đó là ông Mai Tự Thừa. Ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi và chết mất xác trong thành Gia Định. Triều Nguyễn khép tội “tùng nghịch”. Cái chợ cùng điền sản của ông được phát mãi và phân tán vào các làng. Vợ con của ông bị lưu đày. Làng và đình Bình Thạnh do ông lập ra bị đổi tên thành làng, đình Vĩnh Phong. Nhớ công lao khai hoang lập chợ, người dân vẫn tôn ông làm Tiền Hiền và đưa vào thờ ở gian bên phải chánh điện đình Vĩnh Phong với bài vị: “Tiền hiền Mai Tự Thừa ”.
Vì sao ông Mai Tự Thừa được Hương Chức đời trước gọi là Thủ Thừa? Theo tài liệu, thời ấy, nhà Nguyễn đã “đặt Sở Tuần ty coi việc thu thuế cước đồn, mười phần thu lấy một phần, ở thượng lưu sông Hưng Hoà đặt chức Thủ Ngự lo việc thu thuế ở rạch Trà Cú”. Lúc bấy giờ, ngôi chợ của ông Mai Tự Thừa nằm ngay giáp nước rất thuận lợi cho việc đặt Sở Tuần ty để thu thuế. Chắc hẳn, trước khi theo phò Lê Văn Khôi ông Mai Tự Thừa đã từng giữ chức Thủ Ngự nên mọi người gọi ông là Thủ Thừa.
Cái tên Thủ Khoa Thừa chỉ là sự nhầm lẫn vì tại địa phương không có ai tên Thủ Khoa Thừa.
Trong Quốc triều hương khoa lục ở vùng này không có người nào tên Thừa đỗ Thủ Khoa.
Chữ “Thủ” trong địa danh Thủ Thừa được viết trên văn bản bằng chữ Hán có nghĩa là giữ chứ không phải là đứng đầu như nghĩa của chữ “Thủ” trong từ Thủ khoa.
Người Việt kính trọng những người đỗ đạt cao. Những người đỗ Thủ khoa như: Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Hữu Huân… đều được gọi là đầy đủ là Thủ khoa Nghĩa, thủ khoa Huân… chứ không ai gọi là Thủ Nghĩa, Thủ Huân.
Thân xác không còn, chợ cũ cũng bị di dời nhưng qua bao thế hệ cái tên Thủ Thừa vẫn sống mãi trong lòng dân, ngày cúng giỗ mồng 10.10 âm lịch cũng mang tính ước lệ, có ai biết ông mất ngày nào. Người ta mặc định đó là ngày ông gia nhập quân khởi nghĩa.
—o—o—o—
Theo Khám phá bí mật mang tên địa danh “ông”, địa danh “bà” của thành phố Hồ Chí Minh
CHỢ BÀ ĐIỂM
Bà Điểm là một xã thuộc huyện Hóc Môn, TP.HCM. Nơi đây được biết đến với 18 thôn vườn trầu đã đi vào huyền thoại. Tương truyền vào năm 1868, đoàn người đi từ huyện Bố Chính thuộc tỉnh Quảng Bình vào vùng đất miền Nam khai phá, đến đây họ gặp người phụ nữ bán nước bên đường tên là Điểm, nên họ dùng chính cái tên này để gọi tên cho vùng đất là Bà Điểm. Còn một lý giải nữa cho tên gọi này, khi Trương Định khởi binh chống Pháp, nghĩa quân đặt trạm liên lạc ở vùng này, tại nhà bà lão tên Điểm nên thôn Tân Thới Nhứt (một trong 6 thôn đầu tiên của Mười tám thôn vườn trầu) có tên là Bà Điểm.
Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì Bà Điểm cùng với Bà Rịa, Bà Chiểu, Bà Quẹo, Bà Hom là 5 bà vợ của một viên lãnh binh, người đã xây cầu ông Lãnh. Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 ngôi chợ, giao cho mỗi bà cai quản một nơi. Chợ Bà Điểm, gần làng Tân Thới – quê hương cụ Đồ Chiểu. Trầu cau ở Bà Điểm ngon nức tiếng một vùng, không nơi đâu sánh bằng.
CHỢ BÀ CHIỂU
Ngày nay, những ai sống ở TP.HCM đều biết đến một ngôi chợ, đó là chợ Bà Chiểu. Chợ Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ lâu đời ở TP HCM. Chợ nằm ở trung tâm quận Bình Thạnh, được xây dựng năm 1942, khi mới hình thành tỉnh Gia Định và nâng cấp sửa chữa vào cuối những năm 1990. Theo nhà văn Sơn Nam thì Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên.
Nếu bây giờ có người nhắc vườn Ông Thượng thì không ít người trẻ ngơ ngác không biết vườn này ở chỗ nào của Sài Gòn. Nhưng với những người già thì sẽ biết đó là Công viên Văn hóa Tao Đàn (quận 1) bây giờ. Ông Thượng là tên dân gian để gọi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt thập niên 20, 30 của thế kỷ 19. Vì hồi đó, Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt lập tại đây một vườn kiểng để thưởng lãm và xem hát bội, từ đó dân gian quen gọi là Vườn Ông Thượng.
Cũng liên quan đến Tổng trấn Lê Văn Duyệt là một nơi thờ tự có tên Lăng Ông Bà Chiểu. Đây là khu lăng mộ, nơi thờ cúng Tả quân Lê Văn Duyệt và phu nhân, nằm kế bên chợ Bà Chiểu.
CHỢ THỊ NGHÈ
Cầu Thị Nghè nối giữa quận 1 và quận Bình Thạnh hiện nay xưa kia có tên là cầu Bà Nghè. Theo sử sách, cầu do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây dựng để tiện việc đi lại, thuở bà mới khai hoang đất ở. Chồng bà là thư ký đỗ cử nhân (đương thời gọi là ông Nghè). Cầu được gọi là cầu Thị Nghè từ giữa thế kỷ XIX. Đến năm 1970, cầu được xây mới bằng xi măng cốt thép. Và kể từ đó, không chỉ có cầu Thị Nghè mà còn có rạch Thị Nghè, chợ Thị Nghè, nhà thờ Thị Nghè không còn xa lạ gì với người dân cho đến ngày nay.
CHỢ BÀ HOA
Ở Tân Bình có một ngôi chợ cổ nhỏ của người xứ Quảng chỉ “xứng tầm” chợ quê, hiện là chợ Phường 11. Nhưng xa xưa chợ mang một cái tên khác là chợ Bà Hoa. Chợ nằm trong làng dệt Bảy Hiền (Tân Bình) với đủ các mặt hàng đặc trưng từ Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung, như hành tỏi nhỏ mà thơm của miền Trung, bánh nổ, bánh tổ, mắm nêm, các loại rau lá xứ Quảng… Chợ lấy theo tên một người phụ nữ tên Hoa, người đã lập nên khu chợ này vào năm 1967.
CHỢ ÔNG TỐ
Qua khu vực quận 2, có một địa danh quen thuộc là Giồng Ông Tố. Giồng là một phương ngữ Nam Bộ, để chỉ dải đất phù sa nổi cao lên, thường là ở ven sông. Có tài liệu cho rằng ông Tố ở đây là Trương Vĩnh Tố, một trong những tướng lĩnh của tổ chức “Phản Thanh phục Minh” bị triều đình nhà Thanh truy sát chạy sang nước ta được chúa Nguyễn cho tỵ nạn vào năm 1679 cùng thời với Mạc Cửu ở Hà Tiên. Ông đã tổ chức cho những cư dân lúc bấy giờ ở đây gồm: người Hoa, người Việt và người gốc Khơ-me của vùng thủy Chân Lạp cũ khai hoang, lập ấp, lập chợ. Từ đó tên Ông Tố gắn liền với địa danh ở đây.
CHỢ ÔNG TẠ
Khu vực chợ Ông Tạ nay thuộc phường 3, 4, 5, 7 quận Tân Bình. Khu vực này vốn nổi tiếng bởi vì từng tồn tại phòng khám của lương y Nguyễn Văn Bi (thường được người dân gọi là ông Tạ). Ngoài ra, còn có một ông Tạ ở Thủ Đức gọi là Tạ Công Tử, chuyên đưa đò giúp người dân sang sông đi chùa ở quận 9 không lấy tiền.ndan.vn/hoai-tich-xua-cho-moi-ong-gia-post618068.html
Chia sẻ:
Scroll to Top