THUÝ KIỀU & KIM TRỌNG THỀ NGUYỀN

Loading

Cùng đọc Hồi 3 của Truyện Kiều về việc Thuý Kiều và Kim Trọng thề nguyền.
– Hồi 1: Vô tình hữu tình lộ điếu Đạm Tiên; Hữu duyên vô duyên không ngộ Kim Trọng
– Hồi 2: Vương Thuý Kiều toạ si tưởng, mộng đề đoạn trường thi; Kim Thiên Lý miến đông tường, dao định đồng tâm ngữ
– Hồi 3: Lưỡng ý kiên, Lam kiều hữu lộ; Thông tiêu lạc, bạch bích vô hà
Tiêu đề hồi 3 được kết cấu như một câu đối
– “Thông tiêu lạc” đối với “Lưỡng ý kiên”,
– “Lam Kiều hữu lộ” đối với “Bạch bích vô hà”.
“Lưỡng ý kiên, Lam Kiều hữu lộ;
Thông tiêu lạc, bạch bích vô hà”
Tiêu đề của hồi 3 này thường được dịch là
“Hai bên ý hợp tâm đầu, cầu Lam nối mở;
Một tốt chén thề quạt ước, ngọc trắng giá trong”
“Lưỡng ý kiên” là ý của cặp đôi song hành thống nhất.
– “Lưỡng ý” là ý tưởng, ý chí, cảm xúc của hai người, của cặp đôi.
– “Kiên” là kiên định, kiên trung, kiên cường, kiên cố, ngược với lưỡng lự.
“Lam Kiều hữu lộ” là cầu Lam, cầu Kiều, cầu Lam Kiều có đường, mở đường, thông đường.
– Lộ không phải là đường bình thường mà là đường lớn, đường cái, đường cấp tỉnh huyện quốc gia.
– Hữu lộ là có đường, mở đường, thông đường
– Kiều là cầu nói chung, mà kiều cũng là một dạng cầu đặc biệt, có khả năng vượt qua mọi ngăn trở ngang dọc. Nếu coi dòng chảy của sông là dọc, thì cây câu vượt sông gọi là cầu bắc ngang. Nếu coi đường lộ là dọc, thì đoạn sông cắt đường là ngang, và cầu lúc này là dọc. Tóm lại cản trở là ngang thì cầu là dọc, cản trở là dọc thì cầu là ngang. Đó là cầu bình thường. Cầu kiều là cầu có khả năng đi qua mọi cản trở cả ngang và dọc như ca dao nói “Bồng bồng mẹ bế con sang/Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo/Muốn sang thì bắc cầu kiều”.
– Lam Kiều là cầu Lam, cầu xanh. Giống như câu lọt vào mắt xanh, Lam Kiều là cầu kết nối hai người yêu nhau và nguyện ước bên nhau. Cầu Lam đối xứng với tơ hồng là sợi dây của ông Tơ bà Nguyệt, buộc các cặp đôi với nhau theo duyên nghiệp của họ. Cầu Lam, màu xanh dương, dành cho người yêu duy nhất, đối xứng với cầu Kiều, màu hồng âm, tạo ra nhờ năng lực thích nghi với mọi hoàn cảnh. Lam Kiều vừa có nghĩa là cầu Lam vừa có nghĩa là cầu Lam Kiều, nghĩa là cầu Lam và cầu Kiều song hành, chồng chập. Trong truyện Kiều, cầu Lam mang tính thần của Kim Trọng chung trinh với ý chí cá nhân vượt qua mọi thử thách để kiến tạo và giữ gìn tình yêu đôi lứa, còn cầu Kiều mang bản chất của Thuý Kiều, liên tục thay đổi bản thân để nương theo trạng thái tiếp xúc và cảm xúc với đôi tượng và hoàn cảnh.
“Thông tiêu lạc” thường được dịch là niềm vui (lạc) xuyên (thông) đêm (tiêu) hoặc một tốt chén thề quạt ước. Tuy nhiên dịch như vậy là biết trước nội dung của hồi 3 là Kim Trọng và Thuý Kiều thức đêm tâm sự và suy diễn ra chứ không bán sát theo nghĩa từng câu từng chữ. “Thông tiêu lạc” có thể hiểu là một chuyển hóa xuyên suốt đã đi quá ngưỡng và đến tận cùng nơi không bến bờ, cực lạc, nói cách khác là đến hết chu kỳ và sang vòng lặp chu kỳ mới.
– “Kiên” là tạo ra một kết cấu kiên cố, tách ra khỏi đất, “lạc” là vận hành đi xuống, đi xa, đi chệch, hoặc trạng thái hoan hỉ thư giãn không cần mục đích phải đạt được gì đó, thay đổi gì đó.
– “Lưỡng” là vận hành hai chiều, “thông” là vận hành một chiều xuyên suốt.
– “Ý” là một cấu trúc hay một luồng định về tinh thần, tư tưởng, “tiêu” là vận hành chuyển hóa, tiêu hóa, tiêu biến, tiêu trừ, tiêu cực.
“Bạch bích vô hà” thường được dịch là ngọc trắng (bạch bích) không tỳ vết (vô hà) hoặc ngọc trắng giá trong, tuy nhiên “bạch bích” không hẳn là ngọc trắng, mà có thể là ngọc xanh trong thuần khiết không tỳ vết, mà dù có dịch như vậy, vẫn không đối xứng với câu trên.
– Bạch là tách bạch (tách riêng mọi thứ ra khỏi nhau, không chồng chập), thanh bạch (thanh lọc), minh bạch (trung hoà và xuyên suốt âm dương), trắng bạch (do mất tất cả các sắc màu khác với trắng)
– Bích là ngọc bích là loại ngọc gốc silicat, thường có màu lục, đối xứng với Lam Kiều. Bích cũng là bức tường, bức vẽ, bức hoạ, bức hình có tính dọc. Bích cũng là trạng thái đất nước hoàn toàn hoà quyện thống nhất với nhau để chuyển hoá hoàn toàn thành ngọc, không còn tình trạng đất riêng, nước riêng hay đất nước chồng chập nữa, đây chính là cách ngọc được tạo ra và gốc nghĩa của từ toàn bích.
– Vô hà là không hà, với hà là đất nước chồng chập,
– – – ví dụ hà là bùn đất, thì bạch bích vô hà là ngọc trong không dính bùn đất
– – – ví dụ hà là đất nước chồng chập, thì bạch bích vô hà là đất nước phân tách, ví dụ “hà” là tình chị duyên em, thì vô hà là không thể như vậy, tình của ai thì duyên của người nấy. Đã là bạch ngọc bích thì không thể có trạng thái hà, nói cách khác hà đã hoàn toàn tiêu biến chuyển hoá, mà đã có hà thì không có ngọc, hoặc không có bạch ngọc.
“Bạch bích vô hà” là kết quả trực tiếp của “thông tiêu lạc” xảy ra khi “Lam Kiều hữu lộ”.
Trong Truyện Kiều, “Bạch bích vô hà” là kết quả của tình yêu và hẹn ước giữa Thúy Kiều và Kim Trọng, sau khi “Lam Kiều hữu lộ”.
Truyện Kiều kết thúc ở đoạn Kim Trọng buộc phải đồng ý làm bạn thơ ca, bạn tinh thần với Kiều, vì Kim Trọng đã lấy Thuý Vân, còn Kiều thì thấy mình đã không còn xứng đáng với lời thề nguyền trước đây, trong khi thực tế hai người vẫn yêu nhau nhưng không thể đến được với nhau. Nếu Kiều và Kim Trọng thật sự là một đôi trời sinh đã kết tóc xe tơ với nhau, thì việc Kim Trọng lấy Thuý Vân và làm bạn với Thuý Kiều là một cái kết sai do hoàn cảnh xô đẩy, không phải là “bạch bích vô hà”. Việc này chỉ xảy ra khi “lưỡng ý chưa kiên”, “Lam Kiều chưa lộ” và “thông tiêu chưa lạc” mà thôi. Truyện Kiều có thể kết thúc dang dở như vậy, nhưng lời thề của Thuý Kiều và Kim Trọng trong lễ kết tóc xe tơ lại là một lời thề tuyệt đối, mà không cho phép sự dang dở này xảy ra. Lời thề này có nghĩa Thuý Kiều có trải qua bao nhiêu Đoạn Trường, thì Tân Thanh vẫn cứ là gặp lại Kim Trọng, với vai trò là hai người yêu nhau, vì lời thề ban đầu là như vậy, định mệnh của cặp đôi là như vậy.
Nhưng tại sao Nguyễn Du không nói thẳng ra việc này mà lại để truyện Kiều kết thúc dở dang ? Nếu chúng ta hiểu được Kiều, hiểu được tình yêu và lời thề của Kiều và Kim Trọng, chúng ta sẽ đoán được rằng bằng cách này hay cách khác, hai người này nhất định sẽ đến được với nhau.
Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong!
Tơ mành ở đây là sợi dây tơ tình, tơ duyên, tơ nghiệp, tơ vương, tơ lòng, tơ hồng. Đoạn này của truyện Kiều mở đầu một loạt sự kiện “tơ”, bắt đầu là lễ xe tơ kết tóc của Kiều và Kim Trọng, và tiếp ngay sau đó là sự kiện thằng bán tơ lừa hại cha mẹ Kiều.
Giống hữu tình là ai ? Là loài người ? Là người Việt ? Là Thuý Kiều ? Hay là Kim Trọng ?
Đời là bể khổ, tình là dây oan
cho nên
Tu là cõi phúc, tình là dây oan
245. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng khắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!
Mây Tần khoá kín song the,
250. Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi lạnh như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
255. Mành Tương phơn phớt gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình:
“Ví chăng duyên nợ ba sinh,
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi?”
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
260. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu.
Đoạn này mô tả chàng Kim sau khi gặp Kiều thì rơi vào cảnh tương tư.
265. Nghề riêng nhớ ít, tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm, kín cổng, cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
270. Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
Dẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
275. Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó, người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn, cặp sách, đề huề dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,
280. Có hiên Lãm Thuý, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây!
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
285. Tấc gang đồng toả nguyên phong,
Tịt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Đoạn này mô tả việc chàng Kim tìm cách thuê được một nhà ngay sau nhà Kiều, rồi ngày ngày trông ngóng hy vọng gặp được người trong mộng.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
290. Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm, xốc áo, vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
295. Giơ tay với lấy về nhà:
“Này trong khuê các, đâu mà đến đây?
Gẫm âu người ấy, báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!”
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
300. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
305. “Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi.
Chiếc thoa nào của mấy mươi,
310. Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”
Sinh rằng: “Lân lý ra vào,
Gần đây, nào phải người nào xa xôi.
Được rày nhờ chút thơm rơi,
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!
315. Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân, gạn chút niềm tây gọi là.”
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.
Bậc mây rón bước ngọn tường,
320. Phải người hôm nọ, rõ ràng chăng nhe!
Sượng sùng giữ ý rụt rè,
Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.
Đoạn này mô tả Kim Trọng sau bao ngày mong ngóng Thuý Kiều không gặp, đã vô tình nhặt được một cây kim thoa cài đầu của Kiều, và nhờ đó cuối cùng gặp được Kiều khi đang đi tìm kim thoa. Không chỉ trao lại cho Kiều kim thoa, mà nhân dịp gặp gỡ này, Kim Trọng đã lấy thêm xuyến vàng đôi chiếc và khăn là một vuông, muốn trao cho Kiều như kỷ vật ngỏ ý, định tình.
Rằng: “Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
Thầm trông, trộm nhớ, bấy lâu đã chồn.
325. Xương mai tính đã rũ mòn,
Lần lừa, ai biết hãy còn hôm nay!
Tháng tròn như gửi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đã liều!
Tiện đây xin một hai điều,
330. Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng!”
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
“Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong.
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
335. Nặng lòng xót liễu vì hoa,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!“
Sinh rằng: “Rày gió, mai mưa,
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
Dù chăng xét tấm tình si,
340. Thiệt đây mà có ích gì đến ai?
Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
345. Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!”
Lặng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến, nét thu ngại ngùng.
Rằng: “Trong buổi mới lạ lùng,
350. Nể lòng có nhẽ cầm lòng cho đang!
Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời, vâng tạc đá vàng thuỷ chung.”
Được lời như cởi tấm lòng,
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.
355. Rằng: “Trăm năm cũng từ đây,
Của tin, gọi một chút này làm ghi.”
Sẵn tay khăn gấm, quạt quỳ,
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.
Một lời gắn bó tất giao,
360. Mái sau dường có xôn xao tiếng người.
Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách, nàng về lầu trang.
Kim Trọng nói với Kiều về tình cảm của mình, và lựa thấy Kiều không chối từ thì mới mang kỷ vật định tình ra trao cùng kim thoa, là khăn gấm, quạt quỳ, xuyến vàng thì không thấy nhắc tới ở đoạn này mặc dù đoạn trên có nói tới.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ.
365. Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.
Một tường tuyết trở sương che,
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.
Lần lần ngày gió đêm trăng,
370. Thưa hồng, rậm lục, đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường, dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.
375. Nhà lan thanh vắng một mình,
Ngẫm cơn hội ngộ đã đành hôm nay.
Thì trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,
380. Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.
“Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.”
385. Nàng rằng: “Gió bắt mưa cầm,
Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.”
Từ ngày ngỏ được lời và trao được kỷ vật, chàng Kim lại càng mong ngóng gặp được Kiều
Lần theo núi giả đi vòng,
390. Cuối tường dường có nẻo thông mới rào;
Xắn tay mở khoá động Đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi,
Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên.
395. Sánh vai về chốn thư hiên,
Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông.
Trên yên bút giá thi đồng,
Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên.
Phong sương được vẻ thiên nhiên,
400. Mặt khen nét bút càng nhìn càng tươi.
Sinh rằng: “Phác hoạ vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.”
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên, dừng bút thảo và bốn câu.
405. Khen: “Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế vầy!
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang!”
Nàng rằng: “Trộm liếc dung quang,
410. Chẳng sân ngọc bội thì phường Kim Môn.
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
415. Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Trông người lại ngắm đến ta,
Một dày, một mỏng, biết là có nên?”
Sinh rằng: “Giải cấu là duyên,
420. Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân.”
Đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng.
425. Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã chàng, nàng mới kíp dời song sa.
Kiều và Kim Trọng gặp nhau, cùng thể hiện tài văn chương, Kim Trọng thể hiện sự ngưỡng mộ với tài năng của Kiều, nhưng Kiều lại nói sợ răng mình bạc mệnh, đặc biệt sau giấc mơ gặp Đạm Tiên.
Đến nhà vừa thấy tin nhà,
430. Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương rọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
435. Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.
Tiếng sen khẽ động giấc hoè,
Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
440. Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
445. Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một trương,
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
450. Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.
455. Sinh rằng: “Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam;
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?”
Nàng rằng: “Hồng diệp, xích thằng,
460. Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.
Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,
Ngoài ra, ai lại tiếc gì với ai.”
Rằng: “Nghe nổi tiếng Cầm Đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.”
465. Thưa rằng: “Tiện kỹ sá chi!
Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng.”
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: “Nghề mọn riêng tay,
470. Làm chi cho bận lòng này lắm thân?”
So dần dây vũ, dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
475. Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng Lưu thuỷ, hai rằng Hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
480. Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
485. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: “Hay thì thật là hay,
490. Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào!
So chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người.”
Rằng: “Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao!
495. Lời vàng vâng lĩnh ý cao,
Hoạ dần dần bớt chút nào được không?”
Hoa hương càng tỏ thức hồng,
Đầu mày, cuối mắt, càng nồng tấm yêu.
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
500. Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.
Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!
Vẻ chi một đoá yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
505. Đã cho vào bậc bố kinh,
Đạo tòng phu, lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc, trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi!
Phải điều ăn xổi ở thì,
510. Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương.
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán chường yến anh.
515. Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên!
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
520. Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân còn một đền bồi có khi.”
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể, thêm vì mười phân.
Kiều và Kim Trọng làm lễ xe tơ kết tóc.
Chia sẻ:
Scroll to Top