TẾT HÀN THỰC QUA TRUYỆN KIỀU VÀ CA DAO

Loading

TRUYỆN KIỀU : ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU
Khi đón Kiều vào lầu xanh, Tú Bà bắt Kiều phải khấn nguyện trước ban thờ Tiên sư nghề lầu xanh.
Những là lạ nước, lạ non,
Lâm Chuy vừa một tháng trời tới nơi.
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao?
Trước xe, lơi lả han chào,
Vâng lời, nàng mới bước vào tận nơi.
Bên thì mấy ả mày ngài,
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi.
Giữa thì hương lửa hẳn hoi,
Treo trên một tượng trắng đôi lông mày.
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này thì lấy ông này tiên sư.
Hương hoa hôm sớm phụng thờ,
Cô nào xấu vía, có thưa mối hàng.
Cổi xiêm, lột áo chán chường,
Trước thần, sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi.
Kiều chưa hiểu chuyện gì vừa cúi xuống lạy, thì Tú Bà thay Kiều khấn ngay rằng “Cửa hàng buôn bán cho may, Đêm đêm Hàn thực, ngày ngày Nguyên tiêu”.
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
Cứ lời, lạy xuống, mụ thì khấn ngay:
“Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu”.
Hàn thực là Tết mồng 3 tháng Ba âm lịch, Nguyên Tiêu là Tết rằm tháng Giêng âm lịch.
Đây là hai Tết luồng, khi mà các luồng hội tụ trước Tết, đan tết rất mạnh với nhau trong Tết rồi phân ra sau Tết, giống như hiện tượng lỗ giun ở giữa hố đen (trước Tết) và hố trắng (sau Tết).
– Tết Nguyên Tiêu là Tết dương hoả, với điểm hội tụ các luồng để bắt đầu xuất phát cho năm mới là rằm tháng Giêng. Lễ cúng ông Công ông Táo là hố đen, hút vào, Giao thừa là chính giữa lỗ giun, và Nguyên Tiêu là hố trắng, toả ra.
– Tết Hàn Thực là luồng âm thuỷ giao giữa các trường tần số chồng chập, mà được phân tách và lồng vào nhau nhờ năng lượng Thanh Minh, rồi lại chồng chập vào nhau như là có nhiều hỗ đen hố trắng trôi nổi trong các trường chồng chập, mà hoàn toàn có thể hàn với nhau, để chạy một luồng thực. Biểu tượng của các luồng và đối tượng trôi trên các dòng chảy nảy là bánh trôi bánh chay.
Tết luôn là điểm chuyển giao giữa năm cũ/năm mới, trạng thái cũ/trạng thái mới, quá khứ/tương lai
– Tết Nguyên Tiêu : Các luồng và các không thời gian của quá khứ/năm cũ được khoá trong Tết ông Công ông Táo; các luồng và các không thời gian của tương lai/năm mới được khoá trong Tết Nguyên Tiêu. Điểm cân bằng không thời gian giữa năm cũ/quá khứ và năm mới/tương lai là Giao thừa.
– Tết Hàn Thực : Có một trường ánh xạ đa quá khứ và đa tương lai, qua cảnh cổng Tết Hàn Thực, nơi mà các luồng chạy vừa song song, vừa giao cắt, vừa chồng chập trong các không thời gian lồng vào nhau. Nếu ta chọn một bộ không thời gian quá khứ là A, chiếu qua Tết Hàn Thực, sẽ ra được tương lai là A’, nhưng nếu ta chọn một bộ quá khứ là B và ta có mong muốn cho tương lai là C, thì quá trình ánh xạ qua lại sẽ khác hẳn. Luồng của Tết Nguyên Tiêu có tình thống nhất một chiều từ quá khứ đến tương lai, thì luồng của Tết Hàn Thực có tình chồng chập, đa dạng, giống như trong Tết Hàn Thực ta có thể lựa chọn tương lai và thay đổi quá khứ.
Nguyên Tiêu là Tết dương luồng dương nên ứng với ban ngày hoặc năng lượng lửa. Hàn Thực là Tết âm luồng âm nên ứng với ban đêm, hoặc năng lượng thuỷ.
Lầu xanh là nghề ban đêm, nhưng khách làng chơi không phải lúc nào cũng ở qua đêm được, nên với Tú Bà thì đêm hay ngày, cứ có khách là chiều, miễn sao đông vui là được.
Khả năng lôi kéo là đặc trưng của các không gian gọi là chợ, đặc biệt là chợ tình và chợ Tết. Khả năng lôi kéo là đặc trưng của các thời gian gọi là Tết, đặc biệt là luồng mà tiêu biểu là Nguyên Tiêu và Hàn Thực.
Lầu xanh không phải là ngôi nhà an cư lạc nghiệp, ngôi nhà dành cho tổ ấm gia đình, lầu xanh là cái chợ xác thân, chợ phấn hương, chợ tình dục. Cái mà Tú Bà khấn xin để cái chợ lầu xanh của mình luôn đông vui tấp nập, với các cô gái lầu xanh là những chiếc bánh trôi cứ trôi nổi từ tay khách làng chơi này sang khách làng chơi khác, và các khách làng chơi đi qua lầu xanh là bị cuốn ngay vào các luồng trao đổi xác thân này.
HÀN TRONG HÀN THỰC NGHĨA LÀ GÌ ?
Hàn Thực không phải là Tết ăn nguội, mà là “hàn gắn hiện thực”, “hàn gắn chân thực”, “hàn gắn bản chất cốt lõi”, cũng như Đại Hàn không phải tiết khí Rất lạnh, mà là tiết khí hàn gắn tất cả các tiết khí của xuân hạ thu đông để kết thúc năm khí tiết (Đại Hàn là tiết khí cuối cùng của một năm khí tiết).
“Hàn” trong “Hàn Thực” và “Đại Hàn” là
– hàn gắn không thời gian, cấu trúc vận hành, đơn vị và chu kỳ
– hàn gắn vật chất, tinh thần,
– hàn nóng, hàn lạnh, hàn đất nước khí lửa
– hàn gắn thân thể, dòng máu
– hàn gắn thân rốn ối nhau,
– hàn gắn thân thể, hàn gắn bào thai (thân rốn ối nhau)
– hàn gắn gia đình, dòng họ,
– hàn gắn dân tộc, hàn gắn bọc trăm trứng
– hàn gắn nhà, sân, vườn, ao, chuồng, đồng, rừng
– hàn gắn đất nước, quốc gia.
– hàn gắn Trái đất
Ca dao về hàn kim loại vật chất như nồi đồng
Nồi đồng có lủng thì hàn
Nồi đất có bể quăng ngang hàng rào
Hàn kim loại là kỹ thuật hàn bằng nhiệt lửa, mà làm nóng chảy kim loại, luồng của hai khối kim loại trong trạng thái nóng chảy hoà/hàn với nhau và trở thành một khi nguội, kết quả là hai khối kim loại bị tách rời lúc đầu cũng được gắn kết lại.
Bấy lâu ta vẫn đi hàn
Gánh rương gánh bễ gánh than gánh đồng
Hàn từ xứ bắc xứ đông
Bao nhiêu khí dụng ta cùng hàn cho.
Ca dao về hàn thân thể dòng máu
Đầu làng cây duối,
Cuối ngõ cây đa
Đàng cái ngã ba,
Anh đây thợ hàn
Con gái mười bảy hăm ba
Hai mươi, hăm mốt đem ra anh hàn
Nụ này lớn lỗ hao than
Đồng đâu anh đổ cho tràn lỗ ni
Hết đồng, thì anh pha chì
Anh hàn cho một chặp chì ì mặt ra
Bài ca dao này sử dụng ẩn dụ : người con gái mười bảy hăm ba là cái nồi đồng thủng, và người đàn ông là thợ hàn vá lỗ thủng.
Năm xưa anh ở trên trời
Đứt dây rớt xuống làm người trần gian
Năm xưa anh vẫn đi hàn
Là nghề truyền kiếp tông đàng nhà ta
Anh hàn từ nồi bảy, nồi ba
Gặp cô mười tám đem ra anh cũng hàn
Cô này to lỗ, tốn than
Đồng đâu mà đổ cho giàn lỗ ni
Hết đồng anh lại pha chì
Anh hàn chín tháng, cô thì thụ thai
Sinh được thằng bé con trai
Về sau giống bố, gặp ai cũng hàn.
Bài này tương tự như bài trên nhưng ý tứ rõ hơn nhiều, rằng sau khi anh thợ hàn, hàn lỗ thủng cho cô nồi đồng trong chín tháng thì cô mới thụ thai và sinh ra thằng bé con trai. Anh thợ hàn là bố đẻ của đứa con của cô nồi đồng. Vấn đề là anh thợ hàn không đơn giản chỉ hàn cho cô nồi đồng một lần mà cô sinh con được mà phải hàn liên tục trong chín tháng cùng với cô nồi đồng luôn.
“Cơ hàn” hiểu đơn giản là cơ để vận động xương bị bó vào nhau, làm vận động bị khó khăn, cản trở. Cảnh “cơ hàn” là cảnh sống túng thiếu, xoay xở rất khó khăn.
Có ăn thiếp ở cùng chàng
Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui
hoặc
Chim khôn đừng nệ kiểng tàn
Gái khôn đừng nệ trai cơ hàn mà xa
hoặc
Trách trời sao ở chẳng phân
Làm chi ngập lụt, cho dân cơ hàn
hoặc
Người ta bán vạn, buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi
Dám xin nho sĩ chớ cười
Công em khó nhọc, giấy người viết thơ.
hoặc
Nhà em quay mặt ra sông
Sau lưng vườn ổi mẹ trồng khi xưa
Mẹ em tần tảo sớm trưa
Mẹ mong con lớn, ổi vừa chín cây
– Nhà anh ở phía hướng Tây
Cha anh làm ruộng từ ngày đất hoang
Thương em trong cảnh cơ hàn
Ngày qua tháng lại tình thêm nặng tình
Đại hàn và hàn thực đều là hàn gắn các thái cực, gồm có thái cực âm dương, tạo nên trạng thái thứ 3 như trường gia đình và con cái. Cho nên ca dao có câu
Làm thân con gái phải lo
Đại hàn, đông chí chớ cho mượn chồng
hoặc
Mượn vàng mượn bạc thì cho
Đại hàn, đông chí không cho mượn chồng
Đại Hàn xảy ra hiện tượng hàn gắn thân thể và luồng máu, còn đống chí xảy ra hiện tượng hàn gắn ý chí và luồng hồn, nên trong hai tiết khí này có hiện tượng chập cổng sinh, trứng/tinh trùng chạy vòng vận hành ngoài luồng với bộ vợ chồng mở rộng, khiến cho người chồng có thể sinh con với người phụ nữ khác không phải vợ mình và người vợ có chồng vô sinh lại có thể sinh con mà bình thường không sinh được.
Chia sẻ:
Scroll to Top