![]()
NGỌ : Ngọ (午) là địa chi thứ bảy trong 12 chi (12 con giáp) của Địa chi
Đia chi – 12 con giáp
– Tý (1) : Chuột
– Sửu (2) : Trâu (bò)
– Dần (3) : Hổ (báo)
– Mão (4) : Mèo (thỏ)
– Thìn (5) : Rồng
– Tỵ (6) : Rắn
– Ngọ (7) : Ngựa
– Mùi (
: Dê
– Thân (9) : Khỉ (vượn)
– Dậu (10) : Gà (vịt)
– Tuất (11) : Chó (sói)
– Hợi (12) : Lợn
Địa chi với 12 canh giờ :
– Tý (Canh 1, giữa đêm, khoảng 23 đêm -1h sáng),
– Sửu (Canh 2, 1-3h sáng),
– Dần (Canh 3, 3-5h sáng),
– Mão (Canh 4, 5-7h sáng),
– Thìn (Canh 5, 7-9h sáng),
– Tỵ (Canh 6, 9-11h sáng),
– Ngọ (Canh 7, 11-13h, giữa trưa Chính ngọ),
– Mùi (Canh 8, 13-15h),
– Thân (Canh 9, 15-17h),
– Dậu (Canh 10, 17-19h),
– Tuất (Canh 11, 19-21h),
– Hợi (Canh 12, 21-23h đêm)
Địa chi với các hướng :
– Tý
– Sửu
– Dần
– Mão
– Thìn
– Tỵ
– Ngọ : Ngọ Môn mang ý nghĩa là cổng tý ngọ, hướng về phía nam, chỉ dành cho vua đi lại hoặc dùng để tiếp đón sứ thần. Theo quan niệm phong thủy phương Đông, Ngọ Môn là hướng Nam nhưng trên thực tế Ngọ Môn Huế nhìn ra sông Hương có hướng càn – tốn (Tây Bắc – Đông Nam), đây là hướng mà Dịch học quy định dành cho bậc vua Chúa.
– Mùi
– Thân
– Dậu
– Tuất
– Hợi
Địa chi với 12 tháng :
– Tháng 1 (Giêng): Dần (Hổ)
– Tháng 2: Mão (Mèo)
– Tháng 3: Thìn (Rồng)
– Tháng 4: Tỵ (Rắn)
– Tháng 5: Ngọ (Ngựa)
– Tháng 6: Mùi (Dê)
– Tháng 7: Thân (Khỉ)
– Tháng 8: Dậu (Gà)
– Tháng 9: Tuất (Chó)
– Tháng 10: Hợi (Lợn)
– Tháng 11: Tý (Chuột)
– Tháng 12 (Chạp): Sửu (Trâu)
Quan hệ Tam Hợp (Tốt) : 3×4
– Thân – Tý – Thìn,
– Dần – Ngọ – Tuất,
– Tị – Sửu – Dậu,
– Hợi – Mão – Mùi
Quan hệ Nhị hợp (Tốt) : 2×6
– Tý Sửu,
– Dần Hợi,
– Mão Tuất,
– Thìn Dậu,
– Tị Thân,
– Ngọ Mùi.
Quan hệ Tứ hành xung (Xấu) : 4×3
– Tý – Ngọ – Mão – Dậu,
– Dần – Thân – Tị – Hợi,
– Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
Quan hệ Lục Xung (Xấu): 2×6
– Tý xung Ngọ,
– Sửu xung Mùi,
– Dần xung Thân,
– Mão xung Dậu,
– Thìn xung Tuất,
– Tị xung Hợi
Quan hệ Tương Hại (Xấu): 2×6
– Tý – Mùi,
– Sửu – Ngọ,
– Dần – Tị,
– Mão – Thìn,
– Thân – Hợi,
– Dậu – Tuất
Quan hệ Tương Phá (Xấu):
– Tý – Dậu,
– Mão – Ngọ,
– Sửu – Thìn,
– Thân – Tị,
– Mùi – Tuất.
Quan hệ Tương hình (Xấu):
– Dần, Tị, Thân – Hình hại vô ơn;
– Sửu, Mùi, Tuất – Hình hại đặc quyền;
– Tý, Mão, Thìn – Hình hại vô lễ.
Quan hệ Tự hình (Xấu):
– Thìn – Thìn,
– Dậu – Dậu,
– Ngọ – Ngọ,
– Hợi – Hợi
Địa chi như Thiên can chia theo âm dương ngũ hành
Thiên can :
– Dương : Giáp (Mộc), Bính (Hoả), Mậu (Thổ), Canh (Kim), Nhâm (Thuỷ)
– Âm : Ất (Mộc), Đinh (Hoả), Kỷ (Thổ), Tân (Kim), Quý (Thuỷ)
Địa chi :
– Dương : Dần (Mộc), Ngọ (Hoả), Tuất (Thổ), Tý (Thuỷ), Thìn (Khí), Thân (Kim)
– Âm : Mão (Mộc), Tỵ (Hoả), Sửu (Thổ), Hợi (Thuỷ), Mùi (Khí), Dậu (Kim)
12 Địa chi kết hợp với 10 Thiên can, tạo thành 60 Can Chi để đếm chu kỳ thời gian (giờ, ngày, tháng, năm) trong âm lịch.
Địa chi Ngọ (Dương Hoả) kết hợp với 5 Thiên can dương tạo thành 5 Can chi
– Giáp Ngọ : Dương Mộc + Dương Hoả, mệnh Sa Trung Kim
– Bính Ngọ : Dương Hoả + Dương Hoả, mệnh Thiên Hà Thuỷ
– Mậu Ngọ : Dương Thổ + Dương Hoả, mệnh Thiên Thượng Hoả
– Canh Ngọ : Dương Kim + Dương Hoả, mệnh Lộ Bàng Thổ
– Nhâm Ngọ : Dương Thuỷ + Dương Hoả, mệnh Dương Liễu Mộc
Ngọ đại diện cho chính phương, cả về thời gian và không gian, cho nên có Chính Ngọ là đúng giữa trưa, giờ cây đứng bóng, theo lịch hiện nay là 12h trưa, và có Ngọ Môn là cửa chính của kinh thành.
Ngọ không kết hợp với 5 Thiên can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý
Năm Tỵ, năm Ngọ ai có nấy ăn
Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi
Riêng tôi ngậm ngùi vì đứng tuổi Thân
—o—o—o—
TÊN ĐI CẢ BỘ : NGỌ – NGÓ – NGÒ – NGỎ – NGÕ – NGO
NGỌ
– NGỌ : thời gian
– – Giờ Ngọ: Cứ 12 canh giờ thì có một canh giờ Ngọ, tính trưa hôm nay đến trưa hôm sau
– – – Chính Ngọ là giữa giờ Ngọ
– – Ngày Ngọ : Cứ 12 ngày thì có một ngày Ngọ, cứ 60 ngày (2 tháng 30. ngày) thì hết một chu kỳ 5 ngày Ngọ (Giáp-Bính-Mâụ-Canh-Nhâm) Vậy 12 tháng là có 6 chu kỳ x 5 ngày = 30 ngày Ngọ.
– – Tháng Ngọ : tháng năm âm lịch
– – Năm Ngọ : Cứ 12 năm thì có một năm Ngọ, cứ 60 năm thì có hết một chu kỳ 5 năm Ngọ.
– – – Tết Đoan Ngọ : 5/5 (rơi vào tháng Ngọ)
NGỌ : không gian
– Ngọ Môn là cửa chính hướng nam của kinh thành Huế, nhìn ra sông Hương, cửa chính hướng nam còn lại của kinh thành Thăng Long là cửa Đoan Môn. Hoàng thành Bắc Kinh có cả cửa Ngọ Môn và Đoan Môn, trong đó cửa nam phía ngoài của Hoàng thành Bắc Kinh là Ngọ Môn, còn Đoan Môn là cửa nam bên trong dành riêng cho Tử Cấm Thành.
– Trục Tý Ngọ hay trục Thần đạo của hoàng thành Huế
– Cựa ngọ hay cửa ngõ, là một cái cửa mở ra một trục thẳng nối không gian bên ngoài và không gian bên trong và thường nó là cửa chính
Ngọ Môn năm cửa, chín lầu
Cột Cờ ba bậc, Phu Văn Lâu trước thành
Ai ơi chớ phụ đèn chai
Thắp trong Cần Chánh ra ngoài Ngọ Môn
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
Sinh ra em phận gái không hỏi chốn kinh thành làm chi
Anh bứt cỏ ngựa ngồi đầu cựa ngọ
Kẻ bắn con nây ngồi cội cây non
NGÓ
– NGÓ (động từ) : nhìn nhanh, nhìn chéo
– – – Ngó ai đó, cái gì đó
– – – Ngó nhìn, nhìn ngó (người trong nhìn ra) >< Nhòm ngó (người ngoài nhìn vào)
– – – Ngó nghiêng
– – – Ngó vào, ngó ra, ngó xuống, ngó lên, ngó trước, ngó sau
– – – Ngó lơ >< Ngó mong
Ra đi ngó trước, ngó sau
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng
Thò tay mà ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ
Chiều chiều cắp rổ hái rau
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần
Mày thì cong tợ trăng non
Mặt thuôn trứng ngỗng, ngó mòn lông nheo
Ngó anh không dám ngó lâu
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi
Lòng ta thương bạn không nguôi
Nước sao như nước chảy xuôi một bề
Con cá dưới nước hãy còn lai vãng
Con nhạn trên trời sao nỡ bay xa
Chiều chiều tựa cửa ngó ra
Thấy buồm ai bỏ đi xa biển ngoài
Xa xa quê tía bốn phía mây giăng
Quê má rừng ngăn núi chặn
Quê anh sông dài rạch vắn, rồng rắn lượn quanh.
Đi không nỡ, ở không đành
Chiều chiều gắng gượng lên gành ngó mong
NGÒ
– NGÒ (danh từ) : cây ngò/ngổ
– – – Ngò ôm, ngò om, mò om, các tỉnh miền Nam gọi là rau om hay rau ôm. Các tên gọi khác ngổ thơm, ngổ om, ngổ điếc, ngổ đắng, ngổ trâu, ngổ đất
– – – Ngò rí, ngò suôn, hồ tuy, mùi tui, mùi ta, nguyên tuy, hương tuy, mùi già (dùng để tắm Tết)
– – – Ngò gai hay mùi tàu
– – – Ngò tây
Ba đồng một mớ rau ngò
Báu chi câu hát bạn mò không ra
Thò tay anh ngắt cọng ngò
Thấy em còn nhỏ giữ bò, anh thương
Thò tay ngắt cọng rau mương
Bò em, em giữ anh thương nỗi gì?
Chiều chiều ra đứng vạt ngò
Nón che, tay ngoắt ới trò áo đen
Nhà anh có một thước ao
Anh trồng rau ngổ anh rào chung quanh.
Yêu anh em sẽ lấy anh
Nhỡ khi đói khát nấu canh ăn cùng
Lựa là chợ búa kinh kỳ
Ở đồng ở ruộng ăn gì cũng ngon
Sáng thì rau ngổ xào lươn
Trưa thì mắm ruốc cà um ngoài vườn
Cơm chiều kho cá lòng tong
Chấm đọt nhãn lồng bổ óc bổ gan
Sáng trăng luộc nồi khoai lang
Rủ đám trai làng mở cuộc kéo co
NGÕ
– NGÕ (danh từ) : ngõ phố, ngõ ngách, ngõ hẻm, ngõ cụt, ngõ nhỏ, đầu ngõ, cuối ngõ, cửa ngõ
Thương người, tới đứng ngõ người
Đất mòn chín tấc, thiên hạ cười mười phân
– NGÕ (trạng từ) : ngõ hầu
Làm anh ăn trước, bước đầu
Dạy dỗ em út ngõ hầu thay cha
Chu choa sao nắng bể đầu
Anh về làm rể ngõ hầu an thân
Bùn lê từ chóp đến chân
Em ngồi vắt vẻo ngoài sân ăn quà
Cực lòng anh lắm, chu choa
Vợ không ra vợ, chồng ra chi chồng!
NGỎ
– NGỎ (tính từ) : thư ngỏ, cửa ngỏ
– NGỎ (động từ) : ngỏ lời
– NGỎ (trạng từ) : bỏ ngỏ
Thương nhau không được ngỏ lời
Nước trôi thăm thẳm biết đời nào nên
Vì hoa nguyệt mới sang chơi
Vì hoa nguyệt mới ngỏ lời với hoa
NGO



