![]()
HẠNH NGUYỆN GIA ĐÌNH : ĐƯỢC TRÒ CHUYỆN TÂM SỰ VỚI NHAU
Nguyên tắc hạnh nguyện là đơn phương, tự nguyện và phải thực hành được thường xuyên cả cuộc đời.
Ví dụ mình có hạnh nguyện ăn chay thì mình phải sống độc thân, còn sống cùng gia đình thì hạnh nguyện này vô hiệu, vì để thực hành hạnh nguyện ăn chay, mình hoặc ép cả gia đình phải theo hoặc tự ly khai khỏi bữa ăn gia đình. Làm vậy không khác gì mình phá cả bữa ăn của mình và bữa ăn gia đình cùng một lúc, và ăn chay lúc này là một hạnh nguyện vi phạm cả nguyên tắc đơn phương và nguyên tắc tự nguyện. Nếu hạnh nguyện này được cố chấp thực hiện suốt đời, thì sức tàn phá của nó quả là khủng khiếp, đến mức nó nên được đổi tên là bất hạnh nguyện.
Tương tự, các hạnh nguyện của vợ được trò chuyện với chồng, mẹ được trò chuyện với con… đều là hạnh nguyện vô hiệu. Trò chuyện là phải có hai người, người này nghe, người kia nói, người này nói, người kia nghe, không thể đơn phương trò chuyện.
Là giáo viên dạy thiền chữa lành, đôi khi tôi nghe học sinh tâm sự rằng họ có hạnh nguyện rằng hai vợ chồng nói chuyện được với nhau, rằng họ muốn được bầu bạn với con. Nghe kiểu hạnh nguyện này mà buồn rười rượi về thực trạng gia đình.
Một người chỉ có hạnh nguyện kiểu này, khi vợ chồng người ấy không nói chuyện được với nhau và con cái người ấy không mấy khi tâm sự với cha mẹ. Khi có một hạnh nguyện kiểu vậy, một người sẽ chủ động hỏi han, gợi chuyện, bắt chuyện trong một gia đình vốn đã mất đi bầu không khí chuyện trò và chia sẻ, thế là những người còn lại sẽ bật chế độ cảnh giác, nghi ngờ người gợi chuyện có ý đồ gì đó, người nghe sẽ giả vờ vui vẻ nói vài điều vớ vẩn hoặc vâng vâng dạ dạ, chỉ để giảm bớt không khí căng thẳng, gượng gạo rồi tìm cách đánh trống lảng hoặc chuồn mất. Nếu không cẩn thận thì những nỗ lực trò chuyện đơn phương kiểu này sẽ trở thành một vụ ôn nghèo kể khổ, đay nghiến chuyện cũ, nhắc lại lỗi cũ, thậm chí kéo theo một vụ giáo huấn đầy ngột ngạt.
Có một lần học sinh của tôi sau khi vất vả lắm mỗi hồi tưởng được một số ký ức ngày còn trẻ, đã gửi ghi chép cho tôi. Người này có ý định chia sẻ những ghi chép hồi tưởng đầy cảm xúc này với vợ/chồng mình, vì hai vợ chồng như mặt trăng mặt trời hễ nói chuyện là cãi nhau và đang chiến tranh lạnh. Tôi cho rằng làm gì cũng phải tính đến phản ứng của đối phương và làm gì cũng phải cho chính mình một đường lui, mà sợ rằng mấy cái hồi tưởng riêng tư này có thể không được bạn đời hoan nghênh, thậm chí có thể bị coi thường, bị chê trách, bị đem ra chế giễu, hay bị lợi dụng trong một số tình huống tương lai thì rất dở. Có lần tôi gửi một hồi tưởng về tai nạn hồi bé của con tôi cho con tôi xem, con tôi đã gọi điện cho tôi, để kiểm tra xem zalo của tôi có bị hack không. Cái hồi tưởng tại nạn này của tôi không có gì quá nghiêm trọng để có thể gây hiểu lầm hay suy diễn mà đã như vậy.
Tôi nghĩ rằng việc vợ chồng nỗ lực nói chuyện với nhau hay cha mẹ tư dưng tìm cách nói chuyện với con mà không có hoàn cảnh phù hợp là rất khó. Câu chuyện hàng ngày dễ dàng, tự nhiên nhất diễn ra quanh mâm cơm và trong các dịp cả nhà đi ra ngoài ăn uống, xem phim, xem kịch, xem biểu diễn ca nhạc…. Vậy, cách thứ nhất là hãy có một mâm cơm ngon lành và ấm cúng, dù rằng không phải nhà nào cũng nói chuyện được với nhau quanh mâm cơm; và cách thứ hai là hãy cùng nhau tham gia các hoạt động nghệ thuật như cùng đi xem phim, cùng đi xem ca nhạc…
LỐI SỐNG CẦM KỲ THI HOẠ CỦA THUÝ KIỀU & KIM TRỌNG
Một câu hỏi lớn ở đoạn kết của truyện Kiều là Thuý Kiểu và Kim Trọng có thực sự đến với nhau như hai vợ chồng, hay chỉ là bạn thơ, bạn đàn, bạn tâm giao như câu chuyện đêm động phòng. Đoạn thơ sau đã trả lời câu hỏi ấy.
Hai tình vẹn vẽ hoà hai,
Chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ.
Khi chén rượu, lúc cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
Ba sinh đã phỉ mười nguyền,
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.
– Hai tình vẹn vẽ hòa hai : “Hai tình” là tình yêu và tình bạn của Thuý Kiều và Kim Trọng hoà quyện với nhau. Đó là ý nghĩa của hai chữ bạn đời của người Việt
– Chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ : “Chẳng trong chăn gối” là tình yêu thân thể. “Cũng ngoài cầm thơ” là tình yêu tinh thần.
– Khi chén rượu, lúc cuộc cờ : Thuý Kiều và Kim Trọng vừa là bạn rượu, vừa là bạn cờ. Bạn rượi không chỉ là người cùng uống rượu, mà còn là người cùng đam mê. Bạn cờ không chỉ là người cùng chơi cờ mà còn là người cùng trên một bàn cờ, cùng tính toán đường đi nước bước cho một thế cục, dù có thể đứng về hai phía âm dương.
– Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên : Thuý Kiều và Kim Trọng vừa là bạn ngắm hoa, vừa là bạn thưởng trăng.
– Ba sinh đã phỉ mười nguyền : “Duyên nợ ba sinh” là cách nói dân gian về duyên nợ vợ chồng nhiều đời nhiều kiếp giữa một cặp đôi nam nữ, mà thường được giải thích bằng khái niệm “tam sinh” trong đạo Phật là kiếp quá khứ (đời trước), kiếp hiện tại (đời này) và kiếp vị lai (đời sau). Đôi khi duyên nợ ba sinh diễn ra giữa ba người như trong câu chuyện trầu cau. Ba người Thuý Vân, Thuý Kiều và Kim Trọng cũng có duyên nợ ba sinh với nhau.
– Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy : Câu này quay lại làm rõ nghĩa của câu “hai tinh vẹn vẽ cả hai”
Trong truyện Kiều, Kiều và Kim Trọng là một cặp toàn tài cầm kỳ thi hoạ, và họ có thể hoà hợp các sở thích cá nhân này với nhau, biến chúng thành một phần của đời sống tinh thần của hai vợ chồng.
LẮNG NGHE TIẾNG LÒNG
Trong truyện Kiều, Thuý Kiều hai lần đánh đàn cho Kim Trọng nghe, lần đầu khi hai người trao tín vật hẹn ước trước lúc Kiều bước vào đoạn trường và lần sau là trong buổi động phòng với Kim Trong khi Kiều đã trở về với gia đình sau đoạn trường. Hai lần này cách nhau mười lăm năm. Thế là chỉ cần nghe tiếng đàn của Kiều, Kim Trọng biết là nội tâm của Kiều đã thay đổi. Thuý Kiều cũng đánh đàn cho Từ Hải và một số người khác nghe, nhưng không có ai có thể quan tâm và thấu hiểu được tiếng đàn và cảm xúc của Thuý Kiều qua tiếng đàn như Kim Trọng.
Ngoài đời, nhiều cặp vợ chồng chỉ duy trì việc trao đổi thông tin, không còn thực sự quan tâm người kia nói gì, nghĩ gì, cảm thấy gì, đừng nói là háo hức lắng nghe nhau như khi còn yêu. Một số cặp vợ chồng không là bạn bè trước khi yêu, không nói chuyện nhiều với nhau ngay từ khi còn trong giai đoạn yêu, cho nên đến lúc lấy nhau, giao tiếp giữai hai người lại càng trở nên nhàm chán. Một số cặp vợ chồng hễ nói chuyện là cãi vã. Một số cặp vợ chồng thường xuyên chiến tranh lạnh.
Nếu chúng ta so sánh quan hệ vợ chồng của mình với quan hệ vợ chồng của Thuý Kiều và Kim Trọng, như một chuẩn mực về tình yêu và tình vợ chồng, chúng ta cũng nên tự so sánh mình với Thuý Kiều và Kim Trọng, như chuẩn mực về người đàn ông và người phụ nữ của gia đình.
TÌNH YÊU ĐỒNG HÀNH
Năng lực sống song hành với hai thái cực âm dương của mình và sống trọn vẹn với các trạng thái lưỡng nghi bên trong chính mình là ý nghĩa của tên Kiều. Lưỡng nghi là trạng thái gốc của tính nữ và của tình yêu, nên Vệ nữ là nữ thần tình yêu của phương Tây, như Kiều là nữ thần tình yêu của người Việt.
Ở phần giới thiệu đầu truyện Kiều, Thuý Vân cũng đủ cầm kỳ thi hoạ như chị, nhưng dường như Thuý Vân không biến cầm kỳ thi hoạ thành một sở thích, một phong cách sống, một phần không thể tách rồi của nhân cách và tâm hồn con người mình, một phần không thể tách rời khỏi các hồi ức tình yêu và tình vợ chồng như là Thuý Kiều.
Dù truyện Kiều không nói, nhưng có thể đoán được rằng quan hệ Thuý Vân và Kim Trọng không có được xúc cảm tâm hồn và thân thể sâu sắc như quan hệ của Thuý Kiều và Kim Trọng.
Tình yêu của Thuý Kiều và Kim Trọng là sự đồng hành của hai thân thể và hai tâm hồn âm dương với nhau qua nhiều kiếp sống. Kim Trọng không có sự đồng điệu với Thuý Vân đến như thế, Thuý Kiều cũng không có sự đồng điệu với Từ Hải đến như thế. Cho nên dù Thuý Kiều đã trải qua đoạn trường, trong đó Kim Trọng đã lấy Thuý Vân, thì cuối cùng Kim Trọng và Thuý Kiều vẫn về lại với nhau.
LỐI SỐNG CẦM KỲ THI HOẠ
Đoạn thơ về quan hệ của Thuý Kiều và Kim Trọng nói về “cầm kỳ thi họa”, là bốn môn nghệ thuật truyền thống và cũng bốn thú giải trí thanh nhã của người xưa. Người xưa dùng “cầm kỳ thi họa” để đánh giá sự đa tài, tinh thông mọi thứ của một người. “Tứ nghệ” là cách để người xưa tu thân dưỡng tính, bồi dưỡng phẩm hạnh mà còn là một mối liên thông giữa trí tuệ của con người và trời đất. Các vị thần linh thời cổ đại thường được mô tả với cầm kỳ thi hoạ, như các vị tiên đánh đàn đỉnh núi, các nhân tài ẩn dật chu du thiên hạ với bầu rượu và túi thơ. “Cầm kỳ thi hoạ” cũng là tinh hoa của văn hóa nghệ thuật dân gian và bác học của các quốc gia xuyên suốt lịch sử.
Trong cầm kỳ thi hoạ,
– “Cầm” là đàn, và rộng hơn là ca múa nhạc.
– “Kỳ” là đánh cờ, và rộng hơn các trò chơi tâm trí đối kháng đòi hỏi chiến thuật về không gian và thời gian
– “Thi” là thơ, và rộng hơn là văn chương, lời hát, chữ nghĩa, sách vở, kinh điển
– “Hoạ” là hội hoạ, và rộng hơn nghệ thuật tạo hình gồm cả vẽ, điêu khắc, sắp đặt, thủ công, thư pháp … và các dạng nghệ thuật về tư thế và dáng điệu gồm múa, nhảy, thậm chí lên đồng như là cách hoạ theo nhịp điệu của trời đất bằng vận động của cơ thể
“Cầm, kỳ, thi, hoạ” xưa được tiếp cận như một nguyên lý sống, một phong cách sống, một cách tu đặt nặng sự hoà hợp giữa người và người, giữa người và trời đất, dành cho người trưởng thành. Với nữ, “Cầm kỳ thi hoạ” đi cùng với bộ Tam Tòng, Tứ Đức. Với nam, “Cầm kỳ thi hoạ” đi cùng với Tu thần, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, với Tam cương, ngũ thường, và các tiêu chuẩn chính nhân quân tử của người đàn ông.
Có lẽ là mỗi người nên có các sở thích nghệ thuật kiểu “cầm, kỳ, thi, hoạ”, để tự làm cho tâm hồn mình phong phú và bay bổng, như tâm hồn của Kim Trọng và Thuý Kiều. Tâm hồn mình bay bổng, thư thái, nhẹ nhàng, phong phú, thì mình mới mở lòng để lắng nghe và hoà đồng với người khác được. Đời sống cá nhân của mình bay bổng, thư thái, nhẹ nhàng, phong phú, thì đời sống gia đình của mình mới giàu xúc cảm và sự chia sẻ được.
Tự phát triển đời sống “cầm kỳ thi hoạ” của mình, tạo điều kiện cho bạn đời phát triển đời sống”cầm kỳ thị hoạ” theo ý riêng của người ấy, tạo điều kiện cho con cái phát triển đời sống “cầm kỳ thi hoạ” riêng mới chính là hạnh nguyện là một người cần đưa ra cho chính mình, trong trường hợp đời sống tinh thần và sự giao tiếp của gia đình bị hạn chế.
Nếu hai vợ chồng và cha mẹ con cái chia sẻ được “cầm kỳ thi hoạ” thì quá quý, còn các trường hợp vợ chồng, cha mẹ con cái tôn trọng sở thích riêng của nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển sở thích riêng, mà không tham gia, không can thiệp, không cằn nhằn, không ép buộc nhau cũng là rất quý rồi.
Trường hợp tệ nhất, một người bị người thân ngăn cản nhau theo đuổi sở thích riêng vì sợ mất nhiều thời gian và tiền bạc mà cần dành cho gia đình, vì sợ lừa đảo tiền mất tật mang … thì người đưa ra hạnh nguyện cần đơn phương và lặng lẽ theo đuổi nghệ thuật theo cách riêng của mình. Lúc này họ phải suy nghĩ rất kỹ về lựa chọn cho mình, sao cho hiệu quả và lâu dài, mà không phiền đến người khác. Ở góc độ nào đó, hành thiền không khác gì một bài tập tổng hợp “cầm kỳ thi hoạ” cả.
CÁI HỒN CỦA “CẦM KỲ THI HOẠ” XƯA ĐÂU RỒi ?
Trong truyện Kiều, “Cầm, kỳ, thi, hoạ” được đặt vào mối quan hệ của con người với chính mình, vào mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt quan hệ tình yêu và gia đình.
Trong khi đó, “cầm, kỳ, thị, hoạ” hiện nay được coi một bộ kỹ năng có tính trường lớp, có tính học thuật, có tính chuyên gia, có tính biểu diễn cho xã hội hoặc có tính sở thích cá nhân.
Người nào rất yêu nghệ thuật và có tiền thì lựa chọn bỏ tiền đi xem người khác biểu diễn hoặc bỏ tiền ra mua tác phẩm văn chương, hội hoạ, âm nhạc … của người khác sáng tác, nhưng mua bán nghệ thuật, bằng tiền không phải là bản chất của “cầm, kỳ, thi, hoạ”, sống với nghệ thuật trong quan hệ người với người, người với vật, người với trời đất mới là bản chất của “cầm, kỳ, thi, hoạ”
Chúng ta hãy cho mình được sống với nghệ thuật, bằng cách tự mình thưởng thức và thực hành nghệ thuật. Hãy để nghệ thuật bước vào đời sống cá nhân, quan hệ gia đình và hãy để nghệ thuật mang chúng ta gần lại với nhau. Nếu chúng ta cứ đợi lúc nào thực sự rảnh rỗi hay có nhiều tiền mới bắt đầu học và thực hành cầm kỳ thi hoạ, thì có khi đến lúc chân yếu, tay run, mắt mờ, chúng ta vẫn chưa có thời gian cho riêng mình.
“Cầm kỳ thi hoạ xưa” là vốn sống của người trưởng thành, không phải là môn học ngoại khóa của trẻ con và một số người luống tuổi rảnh rỗi như hiện nay. Nhiều cha mẹ gửi con đi học các lớp này nhưng bản thân không học, hoặc đưa đón con đi học, nhưng đứng ngoài cửa không học, thậm chí những lớp học nghệ thuật này khiến cuộc đời cha mẹ thêm căng thẳng vội vã, chẳng có chút nghệ thuật nào. Có những người lớn đi học để giải trí, để hỗ trợ công việc, và để thoát khỏi gia đình hơn là mang chúng vào đời sống cá nhân và đời sống gia đình thường ngày của mình.
Hiện nay các lớp học đàn, cờ, văn thơ, hội họa… phong phú đến mức chúng ta không biết nên chọn học cái gì. Một mặt chúng ta hay con cái chúng ta có dành cả đời cũng không học hết các lớp học này, mặt khác dù có ghép hết tất cả các lớp học này, thì vẫn không làm nên cái chất và lối sống “cầm, kỳ, thi, hoạ” của ngày xưa. Khi đi dạo thị trương dạy các kỹ năng này, chúng ta sẽ bị choáng váng vì có quá nhiều lựa chọn, và có quá nhiều lớp học những kỹ năng rất hẹp và rất khó ứng dụng trong cuộc sống bình thường hàng ngày, và một số phong trào rất đông người theo đuổi hôm nay có thể sẽ lụi tàn ngày mai, vì nó vừa tốn kém, vừa mất quá nhiều thời gian bên ngoài gia đình.
Hãy đến với nghệ thuật “cầm kỳ thi hoạ”, như một cách sống có xúc cảm, có đam mê.
Đừng bắt mình phục vụ đam mê nghệ thuật của bạn đời và con cái, còn mình chẳng có đam mê nào. Nếu chúng ta dành thời gian đưa con đi học nhạc, học hát, học vẽ, học võ, học bơi, sao chúng ta không dành cho chính mình khoảng thời gian ấy để học đúng cái đó hoặc những thứ tương tự ở cùng trung tâm ấy.
Đừng khi yêu đam mê bạn đời vì họ có đam mê còn mình thì không, rồi đến lúc lập gia đình lại khó chịu với bạn đời vì họ có quá nhiều đam mê, còn mình thì đầu tắt mặt tối bận rộn công việc và gánh vác trách nhiệm gia đình.
Đừng ép người khác chia sẻ cái mình đam mê, đừng bắt con cái theo đuổi nhưng đam mê của xã hội chứ không phải của cá nhân chúng.
Điều quan trọng không phải là có thêm một tài năng, một kỹ thuật nào đó mà cần những điều kiện thực hành quá khác biệt với đời sống hàng ngày, điều quan trọng là sống một cuộc đời hàng ngày có đam mê nghệ thuật và hơi thở nghệ thuật hơn. Đó chính là hạnh nguyện mà chúng ta cần theo đuổi.
