GIÒ/RÒ/DÒ & GIÃ/RÃ/DÃ TRONG NGÔN NGỮ

Loading

GIÃ/RÃ/DÃ
GIÃ
– giã gạo, giã lúa
– chày giã, cối giã
– giã tay, giã chân
Giã chày một
Hột gạo vàng
Sang chày đôi
Đôi thóc mẩy
Giã chày bảy
Đẩy chày ba
Các cô nhà ta
Đi ra mà giã.
Cào cào giã gạo cho nhanh
Tao may áo đỏ áo xanh cho cào
Tới đây chẳng lẽ ngồi không
Cầm chày giã gạo cho đông bạn bè
Cảm ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Cảm ơn cái cọc cầu ao
Đêm khuya vo gạo có tao có mày
GIÃ (động từ)
– Từ giã
– Giã người, giã bạn
– Giã nơi, giã chốn
Nghiêng vai giã bạn tách mình
Rưng rưng nước mắt, chung tình chia hai
Đằng đông hừng sáng mất rồi
Xin chào cô bác, giã người tôi thương
Ra về giã bạn ai ơi
Giã chốn bạn ngủ, giã nơi bạn nằm
Đàng Ô Ma hai đứa ta nói chuyện
Lúc giã từ còn quyến nhau hoài
Về nhà anh cậy mối mai
Mẹ cha em khó hỏi hoài không xong.
GIÃ (động từ)
– Giã ơn
Lưng cong, miệng há răng rồng
Đứng đầu thiên hạ chiếm nhất công
Cứu quân đen nhiều khi bối rối
Giã ơn chàng trăm mối gỡ ra
Là cái gì?
RÃ (trạng từ)
– Rã đám
– Rã rượu
– Rã đông
– Phân rã
RÃ (tính từ)
– Rã rời
– Rệu rã
Rã rời rơi ống ngoáy : Ống ngoáy là dụng cụ đựng trầu của những người đã rụng hết răng. Ống ngoáy có thể là một khối gỗ vuông bằng lòng bàn tay có khoét một lỗ tròn trũng sâu ở giữa, khi người hết trầu người ta dùng để đập cau tàn dung (cau già, cứng, thường được làm giống); hoặc được làm bằng ống thau to bằng ngón chân cái. Khi muốn ăn trầu, người ta bỏ miếng trầu đã têm vôi kèm miếng cau dày vào ống, lấy cây chìa ngoáy giằm nát rồi lùa vào miệng nhai.
Liệu bề duyên nợ rã rời
Đừng ra sông Cái thả trôi như bè
Ai làm bát bể cơm rơi
Dĩa nghiêng cá đổ rã rời đời ta
Ai làm lá rụng cành rơi
Dĩa nghiêng cá đổ rã rời đôi ta
Ai làm bát bể cơm rơi
Dĩa nghiêng cá đổ rã rời đời ta
Ai làm lá rụng cành rơi
Dĩa nghiêng cá đổ rã rời đôi ta
DÃ (trạng từ)
– Điền dã : đi điền dã
– Việt dã : chạy việt dã
– Giục dã
DÃ (tính từ)
– Hoang dã
– Dã man
– Dã sử
DÃ (nhân vật)
– Dã Tượng
GIÃ (địa danh)
– Vạn Giã : là thị trấn của huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vạn Giã là vựa lúa lớn nhất tỉnh Khánh Hoà. Nơi đây có chùa Tổ đình Linh Sơn gần 300 tuổi, hằng năm có rất nhiều khách thập phương về dự lễ hội. Vịnh Vân Phong và bãi biển Đại Lãnh cũng thuộc khu vực này.
Anh về dưới Giã hồi hôm
Gánh phân đổ ruộng, gió nồm bay lên
Ai ra Vạn Giã
Nhắn ả bán thơm:
Thế gian lắm miệng lắm mồm,
Nói Ðông thì ngọt, nói Nồm thì chua.
Thôi đừng uổng tiếng hơn thua,
Gắng sao bán được đầu mùa là hay.
Thơm Vạn Giã ngọt đà quá ngọt
Mía Phú Ân cái đọt cũng ngon
Hỡi người chưa vợ chưa con
Vào đây chung gánh nước non với mình
Quản bao lên thác xuống gành
Mía ngon thơm ngọt đượm tình nước non
Khánh Hoà biển rộng non cao
Trầm hương Vạn Giã, yến sào Nha Trang
—o—o—o—
GIÒ/RÒ/DÒ
GIÒ (danh từ)
– Giò, giò heo
– Móng giò
– Chân giò
– Cẳng giò
Học trò cao cẳng dài giò
Chân đi ngoài ngõ, miệng thò trong mâm
Bao giờ cho lúa trổ bông,
Cho chị có chồng, em gặm giò heo
– Giò heo chị để chị treo
Em lấy giò mèo em gặm em chơi
GIÒ (danh từ)
– giò chả
– giò thủ, giò xào
– giò lụa, giò gà, giò bò
– giã giò
Tết về câu đối bánh chưng
Chẳng ham giò chả chỉ ưng ngứa, xòe
Giò Chèm, nem Vẽ
Khỏa chèo, mình ngược bến Chèm
Viếng Lý Ông Trọng, hoa chen mái đình
Giò Chèm, ai gói xinh xinh
Nắm nem làng Vẽ đậm tình quê hương
GIÒ (nội động từ)
– Bó giò
– Nhổ giò
– Trổ giò
– Trẹo giò
– Co giò : co giò chạy
DÒ (động từ)
– Dò đường
– Dò dẫm
– Dò la : dò la tung tích
– Dò sóng, dò đài
– Lò dò
Con ai bé tí chận bò
Trời mưa lất phất lò dò đường quanh
Đường trơn đất nẩy lại sình
Trợt chân cái ạch lăn kình má ơi
Thương mình, mình chẳng biết cho
Cầm bằng gánh nặng mà dò đường trơn
Ngựa ô chẳng cưỡi, cưỡi bò
Đường ngay không chạy, chạy dò đường quanh
– Lỗ rò
– Rò :
– – – rò nước, rò hơi, rò khí
– – – rò tin
– Rò rỉ : rò rỉ thông tin
Chia sẻ:
Scroll to Top