ĐỦ – ĐỤ – ĐU – ĐŨ – ĐÚ – ĐÙ

Loading

Đủ là trạng thái cân bằng, dao động lưng chừng không thừa không thiếu.
Đủ là trạng thái dừng để bảo toàn kết quả, dừng để cân bằng, dừng để có thể rút lui và xả bỏ, dừng để không rơi vào trạng thái cực đoan bất lợi. Đủ khác với trạng thái dừng cực đoan khi không còn có thể tiến, khi rơi vào thế cùng đường. Đủ khác với trạng thái dừng cực đoan khi đạt được kết quả mong muốn (thành đạt).
Đủ là trạng thái khởi động khi đã đầy đủ, sẵn sàng, trọn vẹn âm dương.
ĐỦ (tính từ)
– vừa đủ
– đầy đủ
– đủ rồi
– quá đủ
ĐỦ (trạng từ) + TÍNH TỪ TRẠNG THÁI
– No đủ
– Đầy đủ
– Đủ lớn
– Đủ trưởng thành
– Đủ chín chắn
ĐỦ (trạng từ) + ĐỘNG TỪ
– Đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng, đủ sống
– Biết đủ, làm đủ, sống đủ
ĐỦ + DANH TỪ : để làm hay chịu đựng việc gì đó
– Đủ tiền
– Đủ sức khỏe
– Đủ kinh nghiệm
ĐỦ (tính từ)
– Là đủ
ĐỦ (danh từ)
– Sự đủ
– Tính đủ
– Trạng thái đủ
ĐỦ CHƯA : câu hỏi để dừng lại một trạng thái cũ, chuyền sang trạng thái mới
– lấy thế này đủ chưa ?
– làm thế này đủ chưa ?
– mày nói thế đủ chưa ?
ĐỦ RỒI : cảnh báo chuyển trạng thái tương tác
– tao đợi đủ rồi
– mày láo đủ rồi
– mày lớn đủ rồi
ĐỦ (danh từ)
– Đu đủ
Thân em chẳng thiếu chẳng thừa
Chằng thừa chẳng thiếu, chỉ vừa mà thôi.
Là cây gì?
Mình thì mình cau
Lá thì lá thầu dầu
Hoa là hoa thiên lý
Là cây gì ? Đu đủ
Thấy cây thu đủ đương xanh
Bởi anh lên xuống thất tình thu đủ hư
Lên xuống thất tình là trạng thái cực đoan, khác với đu đủ hay thu đủ là trạng thái cân bằng, không quá thừa quá thiếu, không quá yêu quá ghét.
Quả sầu đâu trong tươi ngoài héo
Cây đu đủ trong héo ngoài tươi
Rượu chè thuốc sái chơi bời
Gẫm trong gia đạo ít người như anh
Nước mắm ngon thượng thủ
Thả miếng đu đủ nó nổi lờ đờ
Phận em còn dại còn khờ
Làm dâu chưa đặng, cậy nhờ mối anh
Nước mắm ngon nằm sâu đáy hũ
Thả miếng đu đủ xuống tận đáy bình
Mù u nhuộm thắm bông huỳnh
Bao nhiêu gái đẹp không nhìn
Dạ anh chỉ để thương mình em thôi.
Đu đủ tía, giềng giềng cũng tía,
Khoai lang giâm, ngọn mía cũng giâm.
Củi kia chen lộn với trầm,
Em giữ sao cho khỏi, kẻo lầm, bớ em
Tình cờ ta gặp nhau đây
Quả cau ta bổ, chia tay mời chào
Ðôi ta kết nghĩa tương giao
Nào là quả mận, quả đào đong đưa
Bùi ngùi quả ấu, quả dừa
Xanh xanh quả mướp, quả dưa, quả bầu
Hạt tiêu cay đắng dãi dầu
Ớt kia cay đắng ra màu xót xa
Mặt kia mà tưới nước hoa
Ai đem mướp đắng mà hòa mạt cưa
Thủy chung cho bác mẹ ưa
Ðừng như đu đủ nắng mưa dãi dầu
Yêu nhau đá bắc nên cầu
Bồ quân lúc chín ra màu tốt tươi
Hẹn chàng cho đủ mười mươi
Thì chàng kết tóc ở đời với em
—o—
ĐÚ : Quá đà, không tự biết dừng lại khi đủ
– đú : đú thế đủ rồi
– đú đởn
—o—
ĐÙ
– không chủ động bắt đầu mặc dù đủ sức, đủ điều kiện
—o—
ĐỤ : nếu đủ là trạng thái cân bằng âm dương giữa được và mất, tiến và lùi, để dừng lại, đụ là tương tác âm dương, để về trạng thái giao hợp ấm dương mà có thể dẫn đến việc thụ thai
—o—
ĐU
ĐU (động từ) : Đu là trạng thái dùng tay bám theo một thứ trên cao, thường là xây, xà hoặc luồng vận hành, chân không tiếp đất
– Đu bám : đeo bám
– Đu dây
– Đu xà
– Đu trend
ĐU (danh từ)
– Cái đu, xích đu
– – – Xích đu tiên, đu tiên : Một trò chơi có nguồn gốc từ miền Bắc, được tổ chức trong các dịp lễ hội, nhất là dịp Tết Nguyên đán. Bên cạnh cây đu, người ta treo một chiếc khăn hồng ở độ cao xấp xỉ chiều cao giá đu. Người dự cuộc đu phải đưa cánh đu bay cao, giật cho được chiếc khăn kia, mới được coi là thắng cuộc. Ngoài việc đu cao, họ còn phải nhún sao cho đẹp mắt, thì mới được tán thưởng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Ất Tị, năm thứ tám niên hiệu Đại Trị đời Trần Dụ Tông (1363)… mùa xuân, tháng Giêng, người Chiêm Thành đến bắt dân ở châu Hóa. Hàng năm, cứ đến mùa xuân tháng Giêng, con trai, con gái họp nhau đánh đu ở Bà Dương. Người Chiêm Thành khoảng tháng 12 năm trước, nấp sẵn ở nơi đầu nguồn của châu Hóa, đến khi ấy ụp đến cướp bắt lấy người đem về.
– – – Đu bầu : Một kiểu đánh đu gồm ba hoặc bốn cây tre cột chụm đầu vào nhau, gốc chôn sâu xuống đất. Từ trên chóp đỉnh, người ta thả thòng hai sợi dây treo tấm ván lơ lửng để người đu đứng lên trên.
Đố ai lên võng đừng đưa
Lên đu đừng nhún, thì chừa lang vân
Chưa chồng chơi đúm chơi đu
Có chồng nỏ dám mở trù mà ăn
Xích đu tiên lấy tiền cưới vợ,
Xích đu bầu ở đợ ba năm.
Ví dầu cá bóng xích đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu
Đu tiên mới dựng năm nay
Cô nào hay hát kỳ này hát lên
Tháng ba nô nức hội đền
Nhớ ngày giỗ Tổ bốn nghìn năm nay
Dạo xem phong cảnh trời mây
Lô, Ðà, Tam Ðảo cũng quay đầu về
Khắp nơi con cháu ba kỳ
Kẻ đi cầu phúc, người đi cầu tài
Sở cầu như ý ai ơi
Xin rằng nhớ lấy mồng mười tháng ba
ĐU (tính từ)
– Đu đưa : là trạng thái vận hành cân bằng sang phải sang trái tại điểm đu bám, hoặc là trạng thái vận hành tạm đủ, không thừa, không thiếu
Hòn Gai có núi Bài Thơ
Nhác trông đàn khỉ đu đưa trên cành
Đêm nằm nghe vượn cầm canh
Khỉ hời, vượn hỡi thấu tình cho chăng?
– Gặp anh Ba đây khiến hỏi anh Ba
Lâu ni làm ăn khấm khá hay cũng sát da như bọn mình?
– Thời buổi bây chừ công việc sớt sưa
Dư không dư, thiếu không thiếu, cũng đu đưa như mọi ngày
Chia sẻ:
Scroll to Top